KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Phật giáo
Tin đăng ngày: 27/10/2021 - Xem: 364
 

Th.S Nguyễn Tài

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những vấn đề liên quan đến lĩnh vực Phật giáo. Thời thanh niên, Người bôn ba bốn phương nhưng từng dành nhiều thời gian dựa vào Phật giáo để hoạt động cách mạng. Khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi đến khi về vĩnh hằng, Người đã gửi gắm nhiều niềm tin ở Phật giáo trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng như có nhiều quan điểm, chính sách về Phật giáo đối với công cuộc dựng nước và giữ nước. Làm rõ được những mối liên hệ gần gũi giữa tư tưởng, tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh với giáo lý đạo Phật. Đồng thời, thấy được  vị trí, vai trò Phật giáo trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

- Từ khóa: “Phật giáo với tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Vị trí Phật giáo với hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh”.

Upload

  1. Đặt vấn đề:

Đất nước đang trên con đường phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, quốc phòng, đối ngoại đến văn hóa, xã hội, y tế… và cả tôn giáo. Bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng khởi sắc, tiến bộ kéo theo sự phát triển về lĩnh vực tôn giáo, nhất là Phật giáo. Ngày nay, Phật giáo đang từng bước nở rộ ở Việt Nam với hệ thống tổ chức Giáo hội, nhiều địa điểm sinh hoạt, đông đảo tín đồ, phật tử… đúng với lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày Rằm tháng 7 năm 1947) rằng: “Nước có độc lập thì đạo Phật mới dễ mở mang”[1] .

Đất nước ta giành được tự do, độc lập, thống nhất đã hơn 40 năm luôn gắn chặt với công lao trời biển của chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để hoạt động cách mạng cứu dân, cứu nước. Điều gì đã đưa Nguyễn Ái Quốc từ một công dân Yêu nước đến người cộng sản quốc tế rồi trở thành lãnh tụ trong lòng dân và bạn bè quốc tế? Nhìn lại chặng đường dài suốt 79 mùa xuân khi còn tại thế, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn phấn đấu hy sinh để thực hiện bằng được khát vọng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[2]. Khát vọng, ước nguyện ấy của Người ở thời buổi đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do, chịu nỗi lầm than nô lệ bởi sự bóc lột và thống trị của ngoại bang cùng tay sai phong kiến rất gần gũi với lý tưởng của Phật giáo luôn muốn “cứu khổ, cứu nạn” cho nhân dân, chúng sinh, nhất là chúng sinh đang bị đòa đày, đau khổ. Đứng với lời khẳng đinh của Hoà thượng Kim Cương Tử: “Hồ Chí Minh, tinh hoa dân tộc, Người là kết tinh mọi truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam, trong đó có truyền thống Phật giáo”[3].  

Trên thực tế, suốt chặng đường hoạt động cách mạng, Người luôn quan tâm đến Phật giáo, gửi gắm nhiều niềm tin, kỳ vọng nơi cửa Phật cùng với tu sĩ, phật tử trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Thời thanh niên bôn ba hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc từng dựa vào Phật giáo, chùa chiền, tăng sĩ để hoạt động cách mạng cũng như có nhiều đóng góp đối với Phật giáo nước bạn.

Từ việc nghiên cứu về hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan mật thiết với Phật giáo, chúng ta cần có những quan điểm, chính sách phát triển Phật giáo gắn với bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước xứng với di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”[4].

 2. Nội dung

2.1. Một số yếu tố góp phần tác động tư tưởng Hồ Chí Minh đến Phật giáo

Nguyễn Ái Quốc, lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, sinh năm 1890 ở Kim Liên, Nam Đàn. Người sinh ra trong gia đình trí thức Nho học với thân sinh là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Cụ làm nghề dạy học, thầy thuốc, làm quan nhưng rất thương dân, gần gũi với xóm làng. Cụ từng căn dặn các con rằng “đừng lấy phong cách nhà quan làm phomg cách nhà mình”. bên họ ngoại nhiều đời khoa bảng, làm quan, chăm lo cho dân, cho nước. Mẹ Hoàng Thị Loan là người hiền hậu, nhân từ mà trí tuệ, sâu sắc. Những người thân của Người có nhiều đức tính gần gũi với người con Phật, là nhân hậu, trí tuệ, sâu sắc mà thương người. Người được thừa hưởng nhiều phẩm chất, đức tính quý từ gia đình, dòng họ bên nội và ngoại. Tư tưởng của thân phụ, thân mẫu ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Sinh Cung, đặc biệt, “cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một nhà nghiên cứu Phật học thâm sâu, một trí thức yêu nước rất thân cận với chư tôn túc Phật giáo”[5].

Quê hương Người ở Nam đàn - Nghệ An, một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, anh hùng, chịu khó, chịu khổ vươn lên. Người xứ Nghệ giàu ý chí, nghị lực, tuy giỏi cam chịu nhưng có khát vọng vươn lên. Bởi vậy, những đức tính người xứ Nghệ có tác động lớn đến sự hình thành đạo đức tư tưởng của Người. Trong đó, nhiều giá đức tính người xứ Nghệ rất gần gữi với đạo Phật là sống đạo đức, nhân nghĩa, ham học hỏi, tìm cầu trí tuệ, giỏi chịu khó, chịu khổ, lạc quan với điều chính nghĩa… Những phẩm chất quý giá này được minh chứng rõ rệt trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng của Người, đó là những năm tháng bôn ba khắp năm châu bốn biển; 2 lần ngồi tù; bị Quốc tế Cộng sản hiểu nhầm, tẩy chay; đối xử với tù binh đế quốc, thực dân….

Như vậy, truyền thống gia đình, quê hương là những nhân tố quan trọng hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của Nguyễn Ái Quốc - Hồ chí Minh. Trong đó, nhiều giá trị tốt đẹp của đạo Phật được Nguyễn Ái Quốc thừa hưởng từ phụ mẫu, gia tộc cùng với nhân dân xứ Nghệ. Đây là hành trang quý giá đối với hành trình hoạt động cách mạng của Người về sau.

Upload

2.2. Hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí minh với Phật giáo

Khi lớn lên, với một lòng nồng nàn yêu nức, nghị lực phi thường, tầm nhìn vượt thời đại, ngày 5/6/1911, Người rời bến cảng nhà Rồng tìm đường cứu dân, cứu nước thoát khỏi khổ ải của vòng nô lệ. Người bôn ba hải ngoại mang theo khát vọng: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta[6]. Khát vọng, quyết tâm này của Người vì nhân dân rất gần gũi với tư tưởng, hành động nhập thế của Phật giáo vì chúng sinh.

Năm 1927, khi Người đang sống và hoạt động cách mạng ở tỉnh Uđon-thani (Thái Lan), sư cụ Thượng toạ chùa Oắt-phô cho biết: “Hồi ấy, chùa xây điện thờ chính... việc chỉ đạo xây điện do ông Nguyễn đảm nhiệm, ông Nguyễn kêu gọi bà con Việt kiều góp của, góp công, mua sắm nguyên vật liệu cho chùa rất nhiều...”[7].

Sau khi thành lập Đảng, quá trình dẫn dắt toàn dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian, sự quan tâm đến Phật giáo, đến các ngôi chùa, ngôi đền của đất nước. Người gửi gắm nhiều tâm nguyện đến Đức Phật mong cho tổng khởi nghĩa được thắng lợi, nhân dân sớm được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân, phong kiến. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Đầu tháng 12 (năm 1940)… Ngày tết đến với chúng tôi tại biên giới… Gần làng có miếu thờ thành hoàng, nhân dân ai cũng đến lễ bái. Bác cũng đi cùng bà con đến viếng đền”[8] .

Rồi cách mạng tháng Tám thắng lợi, thực dân, đế quốc lại tiếp tục thực hiện ý đồ quay lại xâm lược nước ta lần nữa. Với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt cảu Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ chí Minh đã chèo lái cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ngày 5/1/1946, tại chùa Bà Đá, Hội Phật giáo Cứu quốc tổ chức cầu nguyện cho nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành tâm đọc lời thề: “... Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ”[9]. Người đã khơi thúc được lòng đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của đức Phật cho đồng bào tín đồ Phật tử, hầu nhắc nhở tinh thần đoàn kết trong công cuộc xả thân để bảo vệ nước nhà.

Sau khi đẩy lùi được giặc đói, giặc dốt, loại bỏ hơn 20 vạn quân Tưởng ở phía Bắc, 10 vạn quân Anh ở phía Nam, giải giáp quân đội Nhật… đất nước ta phải đối mặt với kẻ thù nguy hiểm số một là Thực dân Pháp. Đất nước phải đối mặt với một cuộc chiến tranh xâm lược không thể tránh khỏi của thực dân Pháp, bởi vì: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!”[10]. Những thời điểm lịch sử này, Bác gửi gắm nhiều tâm nguyện được sự phò giúp của Đức Phật, các vị quốc tổ, anh linh các anh hùng dân tộc… vì sự nghiệp kháng chiến chính nghĩa của dân tộc.

Theo lời kể của cụ Nguyễn Xuân Tửu, một lão thành cách mạng, trước ngày tổng khởi nghĩa cụ được đưa Bác đến viếng đền Ngọc Sơn, “sau khi thành kính thắp hương,… thấy ba cuốn kinh trên bàn, Bác Hồ đã giở ra xem rồi gấp lại đưa cả cho tôi và bảo: Chú giữ lấy, khi gặp nạn có thể cứu thân”[11].

Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, trong khi dốc sức, dốc thời gian cùng nhân dân cả nước chống nạn ngoại xâm, Bác cũng kêu dọi, tin tưởng đến vai trò quan trọng của Phật giáo, tăng, ni, phật tử đối với nền độc lập dân tộc. Người từng nói:“Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản động để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ, đại bi của đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”[12].

Hưởng ứng lời kêu gọi, sự kỳ vọng, tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Phật giáo, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đông đảo tăng ni, phật tử gia nhập quân đội, thề đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho đồng bào. Giới Phập giáo đã phất lên ngọn cờ “cởi áo cà sa ra trận” để cùng Hồ Chủ tịch, cùng đồng bào kháng chiến đến cùng. Trong 2 cuộc trường chinh kháng chiến của Việt Nam, Phật giáo đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Giới tu sĩ, tăng, ni, phật tử đã làm tròn sự nin tưởng, kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang  Ấn Độ, chuyến đi có buổi đến chùa lễ Phật, Người nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền  văn minh lâu đời nhất thế giới”[13].

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều tư tưởng, quan điểm gần gũi với Phật giáo. Người tin tưởng ở sự hộ trì của Đức Phật đối với công cuộc giải phóng dân tộc chính nghĩa của Việt Nam. Tiếp bước cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc từng tổ chức phong trào “chấn hưng Phật giáo” ở miền Nam, sau khi cách mạng thành công, Bác có nhiều chính sách để bảo vệ, chấn hưng đạo Phật. Người khẩn cấp ký Sắc lệnh số 65 (23/11/1945), phần nào chặn tay kẻ ác: “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá huỷ đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật… có ích cho lịch sử”[14]. Người còn soạn thảo, thông qua Hiến pháp (1946), văn bản quan trọng nhất thể hiện thể chế, đường lối của Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên, ghi nhận quyền cơ bản: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do tín ngưỡng”.

Có lần đến chùa Trầm, Bác dặn các anh bộ đội rằng: “Các chú phải tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân… giữ gìn, bảo quản để mai sau đất nước hòa bình làm nơi tham quan rất tốt”[15].

Upload

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu tôn giáo trong Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1960 (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III,

Tài liệu ảnh giai đoạn (1954 - 1985) 

2.3. Sự gần gũi giữa quan điểm, tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với đạo lý Phật giáo

   Hành trình 79 mùa xuân của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chủ yếu những năm tháng hoạt động cách mạng để cứu nước, cứu dân. Với trái tim nhân hậu, tình thương bao la, trí tuệ siêu việt, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng đến thắng lợi hôm nay. Người đã dẫn đường, cứu khổ, cứu nạn cho toàn thể dân tộc Việt Nam được giải phóng, thoát khỏi thân phận nô lệ, ra khỏi vòng cai trị, bóc lột tàn bạo chủ chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nhìn lại chặng đường hoạt động cách mạng của Người, chúng ta thấy tư tưởng, quan điểm, đạo đức Hồ Chí Minh rất gần gũi với đạo Phật.

Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo nước ngoài, thấu lời Đức Phật dạy: “Hãy gấp làm điều lành, ngăn tâm làm điều ác[16], Ngưởi trả lời:

“Chủ tịch ghét gì nhất? Trả lời: Điều ác.

- Chủ tịch yêu gì nhất? Trả lời: Điều thiện.

Trong suốt những năm ở cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người rất chú trọng giáo dục đạo đức cán bộ, sự nghiệp giáo dục toàn dân. Người đã dành nhiều công sức, tâm huyết để viết những tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc; Đạo đức cách mạng; Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân… để giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người căn dặn rằng:“Ta phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần THIỆN trong con người nẩy nở để đẩy lùi phần ÁC, chứ không phải đập cho tơi bời”[17]. Lời nhắn nhủ này thật sâu sắc mà trĩu nặng đạo đức của Người, thật gần gũi với lời giáo huấn của đạo Phật về công cuộc giáo hóa chúng sinh đoạn ác làm lành.

Người rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục quần chúng nhân dân, ngày khi Đảng chưa được thành lập, Người đã dùng nhiều biện pháp khác nhau để giác ngộ, giáo dục đồng bào. Khi cách mạng mới thành công, Hồ Chủ tịch bắt tay vào công cuộc diệt giặc đói, xóa nạn mù chữ cho nhân dân. Trong bối cảnh đất nước phải chống giặc gian nan, thử thách,  Người vẫn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục với nhiều quan điểm, chính sách tiến bộ, nhằm mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Những chính sách về sự nghiệp giác ngộ, giáo dục nhân dân của Người rất gần gũi với chủ trương giáo hóa, giác ngộ cho chúng sinh, lan tỏa trí tuệ của Phật giáo. 

Trong sự nghiệp giáo dục nhân dân, Người còn căn dặn thêm rằng: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”[18]. Lời căn dặn ấy thật gần gũi, tương đồng với giáo lý của đạo Phật từ nguyên thủy cho đến nay.

Hôm nay, Bác Hồ đã đi xa, nhưng công lao, cống hiến, đức hi sinh, tình yêu thương mênh mông của người vẫn như ngàn con sóng ngày đêm vỗ về nhân dân được yên vui với cuộc sống hòa bình, tự do. Người như vị cha lành luôn che chở cho hồn dân tộc, như Đức Phật từ bi luôn bao bọc cho những người đệ tử, người con phật vậy.

Nhìn lại chặng đường Bác hoạt động cách mạng đến lúc về cõi vĩnh hằng, những quan điểm, tư tưởng, sự kỳ vọng của người với dân, với nước vẫn còn nguyên giá trị. Đúng như nhà thơ Huy Cận từng nói: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm long kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca - người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”[19].

3. Kết luận

Như vậy, Thực tiễn cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có nhiều điểm gần gũi với Phật giáo, nhất là về đạo đức, quan điểm, tư tưởng. Điều này được minh chứng rõ ở nhiều việc làm, chính sách của Người suốt thời kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa, rồi xây dựng chế độ mới, kháng chiến chống ngoại xâm đến những lời căn dặn gửi gắm hậu thế.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, căn dặn cán bộ, nhân dân về mục đích, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội là: “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[20], rồi tiến đến “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”[21]. Đây là di nguyện lớn lao nhất người khát vọng suốt đời đối với đất nước, với nhân dân. Khát vọng này của Hồ Chí Minh một lần nữa rất gần gũi với Phật giáo: đó là ước muốn cứu độ chúng sinh, đưa chúng sinh thoát khổ nạn, đi đến cuộc sống hạnh phúc, an lạc.

Để xứng với công lao, sự hi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì nhân dân, đất nước và rộng hơn là vì hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, chúng ta phải hoàn thành tốt những di nguyện của Người lúc sinh thời. Ngày nay, đất nước ngày càng vươn lên chiếm lĩnh những thành tựu mới, nhân dân ngày càng được cải thiện cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Hết thảy những điều đó luôn gắn với dáng hình của vị lãnh tụ thiên tài mà gần gũi với nhân dân: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Phật giáo ngày càng được mở mang, phát triển hầu khắp lãnh thổ Việt Nam, một phần quan trọng là có chính sách, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, trongsố  đó là quyền được tự do tín ngưỡng. Thời gian tới, Toàn đảng, toàn dân cũng như giới Phật giáo, tăng ni, phật tử phải “Đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[22], hoàn thành vẻ vang di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa!.

 

Chú thích

[1] + Trích: Thư gửi cho Hội Phật tử Việt Nam, ngày 13/08/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

   + Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2011, Tr. 228.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr. 161.

[3] Hoà thượng Kim Cương Tử, Diễn văn khai mạc Hội thảo:“Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo”, năm 1990.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tr. 131.

[5] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia, 2016.

[6] Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Nghệ An, 2007, Tr. 13.

[7] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, 1990, Nxb Khoa học Xã hội, Tr. 166.

[8] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, 1977, Tr. 41.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, Tr. 148.

[10] Trích: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946.

[11] Theo Văn nghệ Công an số 8/2004.

[12] Trần Viết Lưu -Nguyễn Văn Lũy, Phong cách giao tiếp Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục, 2007, tr.121 - 122.

[13] Hồ Chí Minh: Truyện và ký, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1985, Tr.208.

[14] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia,2016, Tr. 74.

[15] Theo Nguồn sức mạnh… Nxb Sự thật, 1995.

[16] Cố Hòa thượng Thích Minh Châu, Kinh Pháp cú, Nxb Tôn giáo, 2016, Tr. 48..                   

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tr. 558.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, Tr. 558.

[19] Cù Huy Cận, Hồ Chí Minh - nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta, Báo Nhân Dân ngày 1/9/1989.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, Tr. 17.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, Tr. 591.

[22] Trích: Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngày 10/05/1969.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngày 10/05/1969.
  2. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 19/12/1946.
  3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2006.
  4. Giáo hội Phật giáo tỉnh Nghệ An, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ: Quá khứ, hiện tại, tương lai, Nxb Hồng Đức, 2013.
  5. Cù Huy Cận, Hồ Chí Minh - nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta, Báo Nhân Dân ngày 1/9/1989.
  6. Cố Hòa thượng Thích Minh Châu, Kinh Pháp cú, Nxb Tôn giáo, 2016.
  7. Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Văn học, 1977
  8. Trần Viết Lưu - Nguyễn Văn Lũy, Phong cách giao tiếp Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục, 2007.
  9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb, Chính trị Quốc gia, H. 1995.
  10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2011.
  11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1996.
  12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2011.
  13. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3 Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2016.
  14. Hồ Chí Minh: Truyện và ký, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1985.
  15. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Nghệ An, 2007.
KHXHNV & Đời sống khác:
Người Nghệ - Từ truyền thống hiếu học đến đạo học (26/1/2022)
Đời sống văn hóa người Mông ở Nghệ An (26/1/2022)
Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về con người là mục tiêu của sự phát triển (26/1/2022)
Ngày Tết, nói chuyện câu đối (30/12/2021)
Mùi hương ký ức nồi nước tắm chiều cuối năm (30/12/2021)
Chuyện cọp trong nghệ thuật (30/12/2021)
Ngày Tết nói chuyện về bánh chưng (30/12/2021)
Nhành mai, cành đào ngày Tết (29/12/2021)
Những năm Dần vẻ vang trong lịch sử (29/12/2021)
Cờ đỏ sao vàng trong trái tim người dân nước Việt (29/12/2021)
V.I.Lenin với tầm nhìn đổi mới và sáng tạo (29/12/2021)
Khoa học xã hội không thể thiếu trong thời đại 4.0 (25/12/2021)
Khoa học công nghệ và hệ thống dữ liệu từ người dân tộc thiểu số (25/12/2021)
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ (23/12/2021)
Không gian kiến trúc qua các thời kỳ của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Nghệ An (16/12/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 5,249 | Tất cả: 3,696,963
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp