ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Làng Nho Lâm nơi phát tích của họ Cao
Tin đăng ngày: 12/10/2021 - Xem: 158
 

                                                                         Cao Khoa

Lịch sử Nho Lâm - Diễn Thọ ghi: “Về nguồn gốc làng Nho Lâm, các tài liệu “Nho Lâm phong thổ ký”, “Nho Lâm sử lược”, gia phả dòng họ và một số tài liệu khác đều cho rằng, theo truyền thuyết, làng Nho Lâm là do ông Non, tên là Cao Thiện Trí lập ra. Thủy tổ họ cao chiêu tập dân đinh đến khai hoang và sinh sống ở xứ Thùng Thùng (Khe Rong, Lùm Ngấy), lấy tên là xã Thung Thanh, bao gồm cả làng Nho Lâm và Xuân Dương). Về sau, không hiểu vì lý do gì, hai bên Xuân Dương và nho Lâm bất đồng, Xuân Dương tách biệt lập, lấy tên là xã Thanh Dương, còn ông Non khai khẩn từ núi Mác ra đến núi Mã Yên, lập riêng một xã gọi là xã Tùng Lâm. Tên gọi Tùng Lâm tồn tại đến đời Lê Trung Tông (1549 - 1556) phạm Quốc húy Trịnh Tùng nên đổi thành Hoa Lâm. Đến đời vua Minh Mạng lại phạm Quốc húy, nên đổi thành Nho Lâm” (trang 20).

Upload

Đình làng Nho Lâm

Theo gia phả họ Cao Đại Tôn thì vào khoảng năm 1360, ông Cao Thiện Trí, tự Giai Sĩ, trong khi đang làm ăn yên ổn, nhà vua đi tuần thú qua làng, quản tượng để voi phá nát hoa màu, anh thanh niên Cao Thiện Trí đã huy động dân làng đánh chết voi của nhà vua. Nhà vua phạt vạ bằng cách đan một con voi tre to bằng voi thật, yêu cầu dân làng đổ đầy tiền thì được tha. Nhưng huy động hết tiền trong dân cũng chỉ đủ đầy được 4 chân voi. Vợ chồng ông Cao Thiện Trí và một số dân làng phải lánh nạn vào Non Hồ, Non Liễu của huyện Sa Nam (Tức là xã Nam Hoành, Nam Kim huyện nam Đàn ngày nay). Một thời gian sau, khi nhà vua không còn truy bức nữa, ông bà và người con trưởng lại trở về quê cũ làm ăn. Từ đây, dân làng thường gọi ông bà là Ông Non, bà Non.

Upload

Đền thờ Cao Lỗ - vị tướng của Thục Phán An Dương Vương, người con của đất Nho Lâm - Diễn Thọ (Diễn Châu). Ảnh: Công Kiên

Làng Nho Lâm là một làng khoa bảng, trong thời phong kiến  đã có 318 người đỗ đạt từ tú tài trở lên. Trong đó có một người đỗ tiến sĩ, 4 người đỗ tam trường và phó bảng; 19 người đỗ hương cống và cử nhân; 294 người đỗ hiệu sinh, sinh đồ và tú tài. Có những người còn lưu danh mãi mãi như hoàng giáp Đặng Văn Thụy (1858- 1936) đã làm đến chức tế tửu Quốc tử giám trong triều đình nhà Nguyễn. Có người nói, linh khí Rú Ta đã làm cho làng Nho Lâm phát về đường học hành đến thế. Để hiểu thêm về làng Nho Lâm, xin giới thiệu những dấu tích quanh Rú Ta như sau.

Upload

Bia văn hội, sỹ hội và Bia Giếng hội trong khuôn viên UBND xã Diễn Thọ (Diễn Châu). Ảnh: Công Kiên

Núi Mã Yên Sơn (núi yên ngựa) ở Nho Lâm - Diễn Thọ có tên thường gọi là Rú Ta. Cái tên này có truyền thuyết là khi ông Non, bà Non ở Nam Đàn trở về làng cũ, đến Mã Yên Sơn, bà nói “Rú ta đây rồi”, nghĩa là rú (núi) của ta. Từ đó, dân làng gọi Mã yên Sơn là Rú Ta.

Cái tên “ Rú Ta” cũng còn có một truyền thuyết thứ hai là : Ở phía tây rú có làng Bút Điền (thuộc Diễn Cát ngày nay), làng này do ông Tạ Công Luyện khai khẩn, lập thành trang ấp. Ông Tạ Công Luyện  có công lớn trong công cuộc chinh phạt Chiêm Thành nên ông được phong tước Khê Hầu và được nhà vua ban cho một đặc ân: Vịt nhà ông ăn đến đâu thì được chiếm đồng đến đó. Vì vậy, núi Mã Yên Sơn của làng Nho Lâm bị chiếm mất một nửa. Trong khế ước họ Tạ ghi “ Bán sơn vi giới”, nghĩa là ranh giới của hai làng được phân định giữa núi, nửa phía nam thuộc về Nho Lâm, nửa phía bắc thuộc làng Bút Điền. Dân làng Nho Lâm bức xúc vì bị chiếm đất bởi đặc ân vô lý của triều đình, họ nói “Rú ta chứ phải rú họ đâu mà họ lấy mất một nửa, phải tìm cách mà lấy lại”. Cứ gọi mãi thành quen nên Mã Yên Sơn được gọi là Rú Ta.

Xin nói thêm chỗ này. Bà vợ ông Tạ Công Luyện là Cao Thị Khánh, người làng Nho Lâm. Một hôm ông Tạ Công Luyện đi vắng, bà mang sổ địa bạ ra và chữa “Bán sơn vi giới” thành “Bán xuyên vi giới”, nghĩa là ranh giới phân chia hai làng ở giữa sông (chẳng là phía tây núi Mã Yên Sơn có một con kênh, dân địa phương gọi là rào Anh Kiệt). Sau đó dân làng Nho Lâm kiện lên quan, làng Bút Điền đưa sổ ra thì rõ ràng “Bán xuyên vi giới”, vì vậy mà thua kiện. Từ đó, Rú Ta được người Nho Lâm quản lý hoàn toàn.

Kể cũng thú vị, khi ở giữa đồng bằng lại có một ngọn núi mọc lên làm cho cảnh quan trở nên kỳ thú. Rú Ta là núi nhỏ, có hình yên ngựa. Từ đây vào dãy núi của ngàn Đại Vạc, (dãy núi liên hoàn giáp ranh giữa Diễn Châu và Nghi Lộc) có khoảng cách bốn, năm cây số và cách lèn hai vai cũng chừng đó quãng đường. Ngọn núi nhỏ này là điểm nhấn của làng Nho Lâm - Diễn Thọ. Ngày trước núi có nhiều cây xanh rậm rạp, hoa mua, hoa sim tím ngắt mỗi độ hè về. Vào những năm tám mươi của thế kỷ trước, người dân khai thác đất đá đưới chân núi làm cho sườn núi sạt lở từng mảng lớn, những chỗ đó giờ trơ trọi như một vết thương không thể lành da thịt.

Rú Ta là nơi có nhiều dấu ấn về lịch sử, văn hóa gắn với làng Nho Lâm chứa đầy trầm tích của thời gian. Dưới chân núi ở phía Tây là cánh đồng Mỏm. Năm 1976 khoa sử trường đại học Tổng hợp đã cử thầy giáo và sinh viên về khai quật di chỉ này. Tại đây, người ta đã tìm thấy rất nhiều công cụ thuộc hậu kỳ đá mới như đồ gốm, đồ đồng. Đồ đá có lưỡi cày, lưỡi rìu, đạn đá, khuyên đá, vòng đá, chày đá. Đồ đồng có đạn đồng, kiếm đồng, chông đồng, chõ đồ xôi bằng đồng, đồ trang sức bằng đồng… Lẫn trong đồ đá và đồ đồng có nhiều loại xương như xương ngựa, xương trâu bò và nhiều gia súc khác. Đặc biệt, trong một diện tích nhỏ, người ta đã tìm thấy 3 ngôi mộ cổ có quan tài bằng gốm. Có một ngôi mộ chôn chung hai người, bộ xương người đàn ông cao 1m8, bộ xương người đàn bà cao 1m2. Tay chân của người đàn bà bị trói, tư thế nằm của người đàn bà cao hơn người đàn ông một cái đầu. Chứng tỏ người đàn bà bị chôn sống, do dẫy đạp mà nhô lên cao hơn. Đây có thể là một trong ba trường hợp: chồng chết chôn theo vợ, chủ chết chôn theo đầy tớ, thầy chết chôn theo học trò như phong tục mai táng ngày xưa của một số tộc người cổ. Xung quanh thi hài người chết được ghép toàn mảnh sành ghè vỡ.

Như vậy, cách đây khoảng trên dưới 5 nghìn năm, tổ tiên của cư dân người Việt đã sinh sống ở đây vì địa thế nơi này có sông, có núi, có đồng bằng, thuận lợi cho việc săn bắt, hái lượm và trồng trọt. Nhưng từ đấy cho đến khi ông Cao Thiện Trí về đất Nho Lâm lập làng họ có sống liên tục hay không thì không xác định được. Sau khai quật của trường đại học Tổng hợp, vào thời kỳ cuối TK XX, một giáo sư người Nhật cũng khai quật tại khu vực Đồng Mỏm, kết quả nghiên cứu cũng trùng khớp với những kết luận của lần khai quật trước đó.

Upload

Quặng sắt tìm thấy trong làng Nho Lâm

Cùng với việc phát hiện những hiện vật thời cổ đại, người ta cũng phát hiện nhiều hiện vật thời trung đại, cận đại. Đặc biệt những lò hông, lò rèn sắt đã chứng minh nghề luyện sắt của làng Nho Lâm có sự phát triển mạnh mẽ từ năm sáu trăm năm trước. Văn bản còn lại để nghiên cứu vấn đề này là gia phả của các dòng họ trong làng. Trong phổ ký của họ Cao, là họ lớn và có mặt lâu đời ở Nho Lâm có ghi ông Cao Thủy, tự Trừng Tâm là người làm nghề đúc sắt lớn nhất. Hiệu bụt của ông có 4 chữ “Dã luyện cục tượng”, nghĩa là thợ lò đúc, rèn. Tính ra, ông Trừng Tâm - Cao Thủy sống vào đời vua Nhân Tông (1443- 1459). Từ đó về sau, hàng trăm người được ghi là “Dã luyện cục tượng” trong phổ ký các dòng họ.

Lò luyện sắt của làng Nho Lâm được nhân dân gọi là lò hông. Lò được đắp bằng đất sét, nổi cao hơn mặt bằng của đất, lò có hình lòng chảo để đổ quặng vào trong. Mỗi lò hông có 8 người, một ông thợ cả, hai ông thổi bễ, 5 ông thợ bạn. Thợ cả “ chỉ huy” nấu lò, thợ bệ chuyên thụt bệ thổi lửa, thợ bạn đập sắt theo chỉ dẫn của thợ cả. Quặng để luyện thành sắt được khai thác từ động Quánh (Nghi Yên, Nghi Lộc) ngày nay. Thợ khai thác và vận chuyển quánh được chọn những người trai tráng, khỏe mạnh, đi theo đoàn, theo hội rất rầm rộ. Không khí lao động này được diễn đạt trong nhiều câu ca còn lưu truyền đến ngày nay:

Các tướng ta cả xa lẫn bộ

Nặng hai vai bốn rổ tinh ngân

Chớ nề nhọc xác nghỉ chân

Tay cầm búa sắt, tay xăn quần điều

(Các tướng là chỉ người đào quặng, quần điều là quần bị nhuộm đỏ vì bụi đất, bụi quặng).

Cùng với nghề luyện sắt, làng Nho Lâm phát triển nghề rèn có tiếng từ lâu. Nhiều gia đình ba bốn thế hệ cùng làm nghề rèn. Sản phẩm gồm nông cụ như cày, bừa ,cuốc, liềm, hái, dao, kéo…Vũ khí phục vụ cho đánh giặc và bảo vệ an ninh thôn xóm như đao, kiếm, giáo, mác, câu liêm…Loại nào cũng  sắc, bén, có độ bền lâu nên bán rất chạy hàng vì được nhân dân khắp nơi tín nhiệm. Vì cả làng làm nghề luyện quặng và nghề rèn từ đời này sang đời khác nên các con đường trong làng và quanh Rú Ta được đổ xỉ sắt( gọi là cứt sắt) chỗ nào cũng có.

Upload

Nghề rèn tại Nho Lâm

Quanh Rú Ta có ba cái giếng, phía Tây có giếng Ráng (nước chua không dùng được), phía Đông có giếng Chùa (Giếng rộng như cái ao, chỉ dùng để rửa). Đặc biệt có giếng Nhậu, nước trong vắt chảy từ núi ra, quanh năm không bao giờ hết. Nước uống rất ngọt và mát nên nhân dân trong làng và các làng lân cận đều lấy nước ở đây về dùng. Giếng Nhậu nằm dưới chân núi, sát đường đi, giếng có tên chữ là Nhũ Tuyền, hay Nhũ Tỉnh (nhũ là sữa, đọc chệc âm thành nhậu). Người ta nói Giếng Nhậu ngon vì là sữa rồng, được chắt ra từ vú của rồng nên, từ xa xưa người làng vẫn gọi là Giếng Sữa.

Bây giờ giếng Nhậu cổ xưa đã được cải tạo thay hình đổi dạng, nước giếng Nhậu như gần khô kiệt hết. Lý do là, dăm năm lại đây quanh Rú Ta người dân đã khoan chừng gần năm chục cái giếng để lấy nước ngầm, họ dùng máy hút nước lên rồi đẩy theo đường ống dẫn vào các hộ trong làng. Hiện tại chính quyền đã cấm, không cho người dân khai thác tài nguyên nước theo cách này nữa. Nhưng, đã muộn. Giếng Nhậu bây giờ chỉ có nước vào mấy tháng mùa mưa, còn vào mùa khô thì chắt được vài xô cũng khó.

Ở phía bắc Rú Ta ngày trước có đền thờ, gọi là đền Đức thánh đệ nhị. Sự tích truyền lại như sau: Ngày xưa, có ông lão ở khoán Sơn Đầu (Một khoán của Nho Lâm) làm nghề đơm tôm ở rào Anh Kiệt (con kênh nằm dưới chân núi Mã Yên Sơn). Một buổi sáng ông ra thăm đó thì thấy một cây gỗ trầm ở đâu trôi đến, có mùi rất thơm. Trên thân cây gỗ có dòng chữ Hán: “Ngã nãi thượng đế chi tử. Quá thử kiến nhữ sơn kỳ thủy trí, ái nhi lập chi, nhữ đẳng đăng lập từ phụng ngã”. Nghĩa là: “Ta là con của thượng đế, qua đây thấy cảnh núi sông tươi đẹp của các người, yêu mến mà dừng lại. Các người nên lập đền thờ ta”.

Ông già đó cho là mình đã có phúc lớn gặp được thần linh. Tuân theo lời thần, ông khiêng đá xây một bàn thờ trên bờ kênh, thần rất linh thiêng, cầu gì được nấy. Dần dần, dân trong làng lập một đền thờ trên núi để thờ tự nghiêm cẩn, gọi là đền Trầm Hương. Nhà vua (không rõ thời nào) đã có sắc phong “Thái sơn uy linh, hiền đức cương nghị, chư tôn mĩ tự, thượng đẳng tôn thần”. Còn bến sông nơi có cây gỗ ứng báo cũng được gọi là bến Trầm Hương. Vào khoảng những năm sau 1954 ngôi đền bị dỡ bỏ.

Upload

Một góc làng Nho Lâm ngày nay    Ảnh: Công Kiên

Kể từ khi ông Cao Thiện Trí và bà Khổng Thị Tám về Nho Lâm sinh cơ lập nghiệp, đến nay đã gần 700 năm. Sau khi ông bà về đây, người dân của các họ khác cũng kéo về quần cư đông đúc. Hiện nay làng Nho Lâm là đơn vị hành chính “ Nhất làng, nhất xã”, dân số có gần tám nghìn người. Các họ trong làng gồm Cao, Đặng, Hoàng, Nguyễn, Thái, Đinh… Tất cả gần 20 họ, nhưng họ Cao vẫn là đông đúc nhất.

                                                                     

Tài liệu tham khảo                       

1. Dựa theo tài liệu “Văn hóa Nho Lâm" của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đặng Quang Liễn

2.  Tài liệu “Nho Lâm phong thổ ký" của tác giả Đặng Trình.

                                                                   

     

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Đồng chí Phùng Chí Kiên - Lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, người con ưu tú của quê hương Nghệ An (4/12/2021)
Cương Quốc công Nguyễn Xí và sắc phong của vua Lê Thánh Tông (4/12/2021)
Vùng đất danh tiếng Trung Cần và truyền thống khoa bảng của dòng họ Nguyễn Trọng (4/12/2021)
Giáo sư Tạ Quang Bửu - Người con ưu tú của quê hương Nghệ An (4/11/2021)
145 năm ngày sinh của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng: Noi gương dũng cảm, nối chí quật cường (4/11/2021)
Phan Bội Châu: “Nhật nhật tân, hữu nhật tân” (3/11/2021)
Nhà thờ họ ở Nghệ An lưu giữ 11 bản sắc phong cổ quý hiếm (27/10/2021)
Phùng Chí Kiên - Vị tướng suốt đời chiến đấu hi sinh vì tổ quốc, nhân dân, nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối xuất sắc (12/10/2021)
Làng Nho Lâm nơi phát tích của họ Cao (12/10/2021)
Di sản Hán Nôm tại Cương Quốc công từ - Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt (28/9/2021)
Nghĩa khí xứ Nghệ qua hình tượng Cương Quốc công Nguyễn Xí Nghĩa khí của người xứ Nghệ (27/9/2021)
Trần Quốc Hoàn - Người con xứ Nghệ với Thăng Long - Hà Nội (1/9/2021)
Vinh những ngày trước và trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 (18/8/2021)
Nhạc sĩ Lê Hàm chia sẻ về bài hát “Vinh - thành phố Bình minh” (17/8/2021)
Thám hoa Phan Thúc Trực và những câu chuyện để đời trong nhân dân (13/8/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 3,290 | Tất cả: 3,548,679
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp