DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Văn miếu Nghệ An - Nhìn từ góc độ văn hóa
Tin đăng ngày: 12/10/2021 - Xem: 265
 

Nguyễn Tài

 Tóm tắt: Bài viết trình bày dấu ấn nổi bật của Văn Miếu tỉnh Nghệ An thời Nguyễn. Ngoài ra, cung cấp thêm những cứ liệu lịch sử, dấu tích của Văn Miếu tỉnh lưu giữ đến ngày nay. Từ đó, tác giả làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn việc phục dựng Văn Miếu Nghệ An nhìn từ các góc độ văn hóa. Khẳng định những giá trị cốt lõi tích cực của Nho giáo, giáo dục Nho học, truyền thống hiếu học, tài năng người Nghệ An đương thời cần được kế thừa, phát huy mà phục dựng Văn Miếu tỉnh là việc làm mang ý nghĩa thiết thực đó.

  1. Đặt vấn đề

Kết thúc hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước (1945 - 1975), dân tộc Việt Nam bước qua thời chiến vững vàng, uy nghi mặc phải tiếp nhận vô vàn đau thương, mất mát. Phía trước là hàng loạt thử thách xây dựng, bảo vệ đất nước  thời kỳ mới. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi các cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa...

Do chiến tranh, hàng loạt di tích văn hóa, lịch sử dân tộc bị đổ nát, nhiều nơi chỉ còn phế tích. Trong khi đó, việc bảo vệ và phát huy các dấu tích, dấu chứng của tổ tiên người Việt để lại là nhiệm vụ thiêng liêng. Với yêu cầu thiết thực, khi đất nước chuyển mình sang thời kỳ đổi mới đến nay, hàng ngàn ngôi đình, đền, chùa, văn miếu, địa danh lịch sử, văn hóa dân tộc được phục hồi nguyên hiện trạng hoặc trở nên bề thế hơn.

Tuy nhiên, đang còn nhiều dấu tích quan trọng của cha ông từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay chỉ còn phế tích, chưa được sự quan tâm, nghiên cứu và phục dựng đúng mức. Cùng chung số phận với những di tích đó, Văn Miếu Nghệ An vốn là biểu tượng, là niềm tự hào của người xứ Nghệ về truyền thống hiếu học, khoa bảng đến nay chỉ còn phế tích.

Với nhiệm vụ chiến lược quốc gia giữ gìn và bảo vệ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phục dựng Văn Miếu Nghệ An không đờn thuần chỉ là việc làm hồi sinh lại một di tích lịch sử - văn hóa mà còn dựng lại một công trình có giá trị văn hóa phi vật thể to lớn. Văn Miếu Nghệ An không chỉ là biểu tượng về truyền hiếu học, khoa bảng ngàn đời của người xứ Nghệ mà còn góp phần thiết thực vào việc phát huy, tạo động lực cho văn hóa, giáo dục, con người Nghệ An phát triển trong giai đoạn mới.

Upload

Cổng Tam quan Văn Miếu Nghệ An thời Nguyễn       Ảnh: nguồn Trần Đình Quán, Phạm Xuân Cần

2. Văn miếu Nghệ An trong quá trình lịch sử và hiện trạng.

2.1. Văn miếu Nghệ An trong quá trình lịch sử

Nghệ An hàng trăm năm qua là vùng đất có tiếng hiếu học, khoa bảng. Truyền thống này khắc tạc bởi nhiều nhân vật kiệt xuất có nhiều chiến công, điển tích. Đặc biệt là nó được tô đậm thêm bởi Văn Miếu Nghệ An - Một di tích lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể.

Việt Nam có Văn Miếu đầu tiên với vị thế bậc nhất còn tồn tại là Văn Miếu Quốc Tử Giám xây thời Lý, năm 1070: “Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế”[1].

Nghệ An từng xây dựng nhiều Văn Miếu (đền Văn Thánh) ở các làng, tổng, huyện thờ Khổng Tử, hiền triết, tiên nho, những người khoa bảng trong vùng như đền Văn Thánh thôn Bích Chi (Hưng Nguyên), đền Văn Thánh tổng Đại Đồng (Thanh Chương)… Đặc biệt là sự hiện diện của Văn Miếu tỉnh (thời đó gồm Nghệ An và Hà Tĩnh) suốt mấy thế kỷ.

Văn Miếu tỉnh được xây dựng thời Lê ở Lam Thành (huyện Hưng Nguyên). Năm 1803, vua Gia Long vừa lên ngôi được 1 năm,  trước khi gấp rút chuyển trấn thành Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường đã cho lập Văn Miếu tỉnh trước. Năm đó, triều đình ra chiếu chỉ cho các trấn (hạt) lập Văn Miếu: “Các dinh trấn mỗi hạt một tòa Văn Miếu, hàng năm Xuân, Thu hai kỳ tế”[2]. Trong Đại Nam nhất thống chí viết: “Văn Miếu ở địa phận xã Yên Dũng, phía Đông Nam tỉnh thành, phía Tây là đền Khải Thánh, dựng năm Gia Long thứ hai”[3]. Tác giả Hippolyte De Breton viết cuốn  An - Tĩnh cổ lục khẳng định: “Văn miếu nơi người ta thờ Khổng Tử, Mạnh Tử và những học trò nổi tiếng của Khổng Tử, xây dựng vào năm thứ ba đời Gia Long (1803)”[4].

Khi được dựng lại ở phía Đông Nam trấn thành, Văn miếu Nghệ An có thêm tên khác là Văn Thánh Vinh, nay ở khuôn viên Công ty in Nghệ An, được các vua Nguyễn nhiều lần cho sửa sang, mở rộng không gian. Văn Miếu tỉnh ngoài thờ Khổng Tử, thất thập nhị hiền, tiên nho… còn thờ những người đỗ đạt thành danh của xứ Nghệ. Đây còn là nơi hàng ngàn Nho sĩ, học trò, sĩ tử khắp nơi hội tụ về nghe các bậc quan trường, những người đỗ đại khoa đàm đạo thế sự, bình giảng kinh sách…

Cụ Nguyễn Văn Ban ở thành phố Vinh kể rằng: “Thời đó cứ hàng tháng vào ngày rằm, các nho sinh trong vùng ăn mặc chỉnh tề đến nghe giảng sách, bình văn. Sau một hồi 3 tiếng trống, một người có giọng tốt lên nhận bài văn được các thầy duyệt sơ khảo, được quan Đốc học phúc khảo mới được đưa ra bình văn. Người đọc với giọng gãy gọn, lúc bổng, lúc trầm. Người dự nghe ghi những câu hay hoặc dở để góp ý. Các kỳ bình văn thu hút rất nhiều người”.

Mỗi dịp triều đình tổ chức thi Hương ở Trường thi Nghệ An, các sĩ tử khắp nơi về đây trước khi vào dự thí thường đến nhà Văn Miếu tỉnh dự lễ cầu học và thi cử, nghe các quan hướng dẫn cách thức làm bài thi để tránh phạm trọng húy, kỵ húy…

Nhà giáo Lê Văn Miến thường đến Văn Miếu đàm đạo. Thầy lấy cảm hứng từ các buổi bình văn ở đây vẽ bức họa Bình văn, nhằm thức tỉnh tinh thần hiếu học, yêu nước của thanh niên thời đó. Từ khi có Văn Miếu tỉnh, khoa bảng người Nghệ thời Nguyễn ngày càng phát đạt, trở thành nơi linh thiêng, là trung tâm sinh hoạt văn hóa của đông đảo các thế hệ nhà Nho, danh nhân…

  1. 2. Hiện trạng Văn miếu Nghệ An ngày nay.

Do nhiều nguyên nhân, sau năm 1945, Văn Miếu tỉnh phải tháo dỡ phục vụ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược. Sau ngày toàn thắng, nhiều di tích lịch sử, văn hóa như đình, đền, chùa, miếu… ở Nghệ An nói riêng, cả nước nói chung chỉ còn lại dấu tích.

Chung số phận, Văn Miếu tỉnh chỉ còn vài dấu tích gồm: Một bộ khung nhà bái đường chuyển thành nhà kho Công ty in Nghệ An; bức đại tự “Văn Thánh linh từ”; bức đại tự “văn tại tư” và quả chuông đồng chuyển sang Võ miếu (đền Hồng Sơn).

Chuông Văn Miếu được triều đình giao Nguyễn Định Phủ đảm nhiệm tạo đúc năm 1812. Chuông đề tên “Nghệ An trấn Văn Miếu chung” (Chuông Văn Miếu trấn Nghệ An), gồm 4 mặt, khổ 41x68cm, hai mặt có khoảng 350. Hoàng giáp Bùi Dương Lịch soạn bài văn khắc trên chuông với đại ý: “Mỗi khi nghe tiếng chuông vang, dân chúng trong bản trấn tưởng nhớ đến các bậc Tiên Hiền các đời trước đã làm vẻ vang cho truyền thống của bản trấn”.

3. Phục dựng Văn Miếu nhìn từ góc độ văn hóa - đôi điều cần suy ngẫm

Trước hết, cần hiểu đối tượng thờ tại Văn Miếu là Khổng Tử, các bậc hiền triết, tiên nho, những vị khoa bảng đỗ đạt, thành danh của xứ Nghệ. Đây là những con người hiện thân sáng ngời về Nho giáo, giáo dục khoa cử Nho học. Rộng hơn là tôn vinh những tư tưởng Nho giáo tích cực.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập, chuyển mình vào làn sóng cách mạng khoa học công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, bước vào nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, đất nước và con người cũng bộc lộ nhiều mặt tiêu cực, trong đó có vấn đề môi trường, thiên tai, đạo đức, văn hóa, xã hội, tư tưởng… không dễ tháo gỡ, đẩy lùi.

Bởi vậy, việc nhìn lại các học thuyết tư tưởng, chính trị, đạo đức, giáo dục… của người xưa với thái độ nghiêm túc “gạn đục khơi trong” để áp dụng vào xây dựng chế độ xã hội mới là hết sức cần thiết.

Về các góc độ văn hóa tư tưởng, văn hóa giáo dục, văn hóa đạo đức thì Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực, quan trọng đối với sự nghiệp đào tạo con người, xây dựng quốc gia. Điều này được nhiều nhân vật kiệt xuất của dân tộc khẳng định và phát huy như các vua Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, Quang Trung, Minh Mạng… đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Bội Châu… đặc biệt là Bác Hồ chắt lọc sử dụng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu tấm gương đạo đức, kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh, nhiều quan điểm xây dựng đất nước được Người kế thừa, vận dụng sáng tạo từ học thuyết Nho giáo. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài bối cảnh dân tộc, thời đại, Chủ nghĩa Mác - Lênin… Người còn tiếp thu nhiều mặt tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động giúp người; ước vọng về một xã hội bình trị; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ nghĩa, học vấn…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng con người mới, Bác kế thừa chữ “trung” và chữ “hiếu” của Nho giáo với ý nghĩa bao trùm là “trung với vua, hiếu với cha mẹ” để vận dụng sang nội dung mới “trung với nước, hiếu với dân”.

Người coi trọng mối quan hệ giữa tài với đức trong xây dựng con người mới: “Đạo đức là gốc của con người”, “người có tài mà không có đức thì trở nên vô dụng, còn người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Người kế thừa những điểm tích cực của Nho giáo, trong đó có triết lý tu dưỡng đạo đức, làm người phải có “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng”, phải “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, coi trọng sự học, đề cao người quân tử, xem nhẹ kẻ tiểu nhân. Đây là những giá trị cốt lõi tích cực cần phải kế thừa, phát huy ở bất cứ thời đại nào. Đối với thực trạng đạo đức con người đang xuống dốc, xã hội không ổn định bởi tác động bối cảnh mới nên đề cao những giá trị này trở nên cần thiết hơn.

Thứ hai: Nho giáo và giáo dục khoa cử Nho học tuy có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng khi du nhập sang Việt Nam, người Việt không bê nguyên khuôn mẫu mà sàng lọc, sáng tạo phù hợp với bối cảnh đất nước. Lịch sử dân tộc đã chứng minh Nho giáo Việt Nam luôn phảng phất những nét “vừa lạ, vừa quen” rất đặc biệt so với Nho giáo Trung Hoa.

Điều này thấy rõ ở tư tưởng “trung quân ái quốc”. Bên Trung Hoa, trung quân hết sức quan trọng, còn ái quốc đề cao có chừng mực. Vậy nên lịch sử Trung Hoa có không ít người vì trung quân trở nên ngu trung, dẫn đến những bi kịch cay đắng.

Còn ở Việt Nam, tư tưởng ái quốc là truyền thống rất mạnh mẽ còn tư tưởng trung quân có sự biến đổi. Nói đến chữ trung (trai thời trung hiếu làm đầu - Nguyễn Đình Chiểu), nhưng sự trung quân phải gắn liền với ái quốc. Khi mâu thuẫn giữa vua với quốc gia thì quốc gia là yếu tố quyết định.

Bởi vậy, nhiều trường hợp thay ngôi đổi vua ở Việt Nam thời trước, khi ông vua cũ không còn minh quân, không đủ năng lực lãnh đạo đều được dân ủng hộ: Trần Cảnh thay ngôi nhà Lý, lập nên nhà Trần; Nguyễn Trãi phò Lê Lợi không theo con cháu nhà Trần; Ngô Thì Nhậm theo Tây Sơn chứ không theo nhà Lê suy tàn… đến thời Nguyễn khi vua Tự Đức cắt đất Nam kỳ cho Pháp, hàng loạt nhà Nho phản ứng quyết liệt, thậm chí Phan Văn Trị tuyên bố: “chém đầu Tự Đức, moi gan Tự Đức, uống máu Tự Đức”[5].

Kẻ sỹ yêu nước cuối thế kỷ XIX từ Trương Định trở đi đã không theo vua, theo triều đình Huế đầu hàng giặc mà quyết chí chống giặc, chống cả triều đình vì họ đặt đất nước lên trên nhà vua. Khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) của Tú tài Trần Tấn, Cử nhân Đặng Như Mai là hiện thân rõ nét về Nho sỹ đất Nghệ. Họ vốn là kẻ sĩ trưởng thành từ giáo dục khoa cử Nho học nhưng lại kêu gọi những người yêu nước vùng dậy khởi nghĩa quyết “đánh cả Triều lẫn Tây”.

Rõ ràng Nho giáo Việt Nam có sự khúc xạ, biến đổi về chất so với Nho giáo Trung Hoa. Co yếu tố mở, cách tân ngay từ khi tiếp nhận đến thực thi của người Việt. Kẻ sỹ xứ Nghệ tuy trưởng thành từ giáo dục khoa cử Nho học, từ lễ giáo phong kiế nhưng không bảo thủ, nhất là khi đặt trước thử thách vận mệnh quốc gia. Họ không trung quân dẫn đến ngu trung mà biết tạo ra những bước đột phá trong tư tưởng và hành động vì số phận nước nhà. Đây là một giá trị cốt lõi tích cực của Nho giáo nói chung, của Nho sĩ xứ Nghệ nói riêng cần được khẳng định và phát huy.

Các thế hệ sau Trần Tấn tiếp nối chí hướng đó nên học và thi giờ không phải để làm quan hay làm rạng danh gia tộc như trước mà để chính danh. Trên cơ sở đó, họ đem tài trí ra giúp dân, cứu giang sơn đang vòng nô lệ Thực dân. Những kẻ sỹ xứ Nghệ đó phải kể đến Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn (chỉ phò vua yêu nước), Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn... một hiện thân sáng ngời là Nguyễn Sinh Cung - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người vốn sinh ra trong một gia đình có truyền thống gia phong Nho giáo nhiều đời cả bên nội lẫn ngoại. Bởi vậy, từ nhỏ đến lớn, Nguyễn được giáo dục bởi khuôn phép nhà Nho. Nền tảng Nho giáo tích cực này đã ít nhiều tác động, soi đường cho Nguyễn từ một nhà nho yêu nước trở thành một Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của cách mạng, nhân dân Việt Nam và nền hòa bình, dân chủ thế giới.

Đây là những giá trị tích cực của Nho giáo, giáo dục khoa cử Nho học cần được kế thừa, phát huy mạnh mẽ. Đây cũng là những tư tưởng cốt lõi từng được tôn thờ ở nhiều Văn Miếu đất Việ hàng trăm năm qua mà nay đang bị mai một, trong đó có Văn miếu tỉnh Nghệ An.

Thứ ba: Về góc độ văn hóa giáo dục, khi Văn Miếu tỉnh được dựng lại, giáo dục khoa cử thời Nguyễn (1807 - 1919) của người Nghệ rất thịnh đạt.

Các thế kỷ trước, Nho sĩ người Nghệ học vấn cũng uyên bác, thi cử đậu đạt, làm quan to, thầy đồ giỏi như Trạng nguyên Bạch Liêu, Đinh Bạt Tụy… Đến thời Nguyễn, xứ Nghệ có 823 Cử nhân trong tổng số 5226 Cử nhân cả nước (chiếm 15,7%); 135 Tiến sĩ, Phó Bảng trong tổng số 558 Tiến sĩ, Phó bảng cả nước (chiếm hơn 24%), có 5 Tiến sĩ cập đệ trong tổng số 11 Tiến sĩ cập đệ (Chiếm hơn 45%)[6] . Đây là minh chứng cho giáo dục khoa cử Nho học Nghệ An phát triển mạnh mẽ, vươn lên đứng đầu về thành tựu khoa bảng. Thành tựu này ngoài truyền thống hiếu học của người Nghệ ít nhiều có sự tác động hữu hình của Văn miếu Nghệ An?

Về chất lượng, nhiều Nho sĩ xứ Nghệ sau khi đỗ đạt được đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như Bùi Thức Kiên (Thượng thư bộ Lễ), Nguyễn Đức Đạt (Thượng thư bộ Lại), Cao Xuân Dục (Thượng thư bộ Học)… làm quan ở các tỉnh, huyện như Phan Đình Phùng (Tri huyện Yên Khánh, Ninh Bình), Nguyễn Sinh Sắc (Tri huyện Bình Khê, Bình Định), Nguyễn Xuân Ôn (Tri phủ Quảng Ninh, Quảng Bình)… Họ có rất nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và quản lý quốc gia, chống lược của người Pháp.

Một bộ phận Nho sĩ Nghệ An thời đó không làm quan hoặc chán cảnh quan trường chuyển sang dạy học theo quan niệm người xưa: kẻ sĩ có 2 con đường lập thân mà vinh dự chẳng hơn kém nhau là bao, đó là “tiến vi quan, đạt vi sư” (tiến thì ra làm quan, đạt thì về làm thầy), tức là làm thầy cũng là một con đường lập thân của người quân tử theo Nho giáo.

Vậy nên thời Nguyễn (1802 - 1945) có rất nhiều thầy đồ xứ Nghệ nổi tiếng về tài hoa, đào tạo được nhiều trò giỏi như Hoàng Đường, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Sỹ Lạng… Nhiều học trò của thầy đồ xứ Nghệ sau này gánh vác trọng trách tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc như Phan Bội Bội Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trần Phú, Nguyễn Sỹ Sách, Hà Huy Tập…

Đây là minh chứng về kẻ sĩ xứ Nghệ không chỉ học giởi, đỗ cao mà còn góp nhiều công lao xây dựng đất nước, quản lý xã hội, đào tạo người tài, chống ngoại xâm. Dù ở lĩnh vực nào, họ cũng khẳng định được tài năng, đưa tâm huyết để giúp dân, giúp nước. Bởi vậy: “kẻ sĩ xứ Nghệ được đánh giá là giàu lòng yêu nước thương dân, ông quan xứ Nghệ nổi tiếng thanh liêm, ông đồ xứ Nghệ nổi tiếng tài hoa hay chữ, dạy giỏi”.

Upload

Nhà Bái đường Văn Miếu Nghệ An thời Nguyễn    Ảnh: nguồn Vinh xưa & nay, Phạm Xuân Cần

4. Kết luận và một số kiến nghị

Như vậy, việc phục dựng lại Văn Miếu Nghệ An - biểu tượng đáng tự hào về truyền thống hiếu học học giỏi, đỗ đạt và có tài năng của người xứ Nghệ là hết sức cần thiết. Đây còn là một công trình lưu niệm vừa có giá trị văn hóa vật thể nhưng quan trọng là giá trị văn hóa phi vật thể có chiều sâu trong tâm thức người Nghệ.

Văn Miếu trở thành nơi tôn vinh, góp phần lan tỏa những giá trị tích cực của Nho giáo, Nho học… tôn thờ những nhà khoa bảng, kẻ sĩ người Nghệ đã có nhiều cống hiến cho dân tộc, để lại nhiều di sản cho quê hương đất nước - những người góp phần quan trọng tô thắm thêm truyền thống, gia phong xứ Nghệ nói riêng, đất nước nói chung hàng trăm năm qua mà đỉnh cao là góp sức phất lên ngọn cờ độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam hôm nay.

Về góc độ văn hóa tâm linh, ngày nay hang loạt đình, đền, chùa, miếu… được hồi phục dựng khang trang cho dù trước đó chỉ còn phế tích. Trong khuôn khổ là một di tích văn hóa tâm linh nhưng có vai trò quan trọng hàng bậc nhất của tỉnh Nghệ An như đã trình bày ở trên, việc phục dựng Văn Miếu tỉnh là cần thiết và hợp thời.

Dựa trên những cơ sở đó, việc phục dựng Văn Miếu tỉnh Nghệ An hoàn toàn có cơ sở, có giá trị lớn lao. Đây còn là việc làm thiêng liêng đối với những người được sinh ra hay đứng chân trên đất Nghệ An hôm nay.

Thêm một ý kiến phục dựng Văn Miếu Nghệ An về quy mô, kiến trúc, địa điểm, kinh phí… như thế nào? Những vấn đề này tác giả thiết nghĩ nên phục dựng Văn Miếu với kinh phí hợp lý và thấp nhất. Về quy mô kiến trúc nên đơn giản theo kiến trúc thời Nguyễn, có thể gồm nhà Bái đường 3 gian, sảnh trước, cổng Tam quan.

Chú thích

[1]. Ngô Sỹ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Thời đại, 2013, Tr. 197.

[2]. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn , Nxb Thuận Hóa - Huế, 1993.

[3]. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa - Huế, 1992, Tr. 188.

[4]. Hippolyte De Breton, An - Tĩnh cổ lục, Nxb Văn hóa Thông tin, 2014, Tr. 113.

[5]. Trần Ngọc Thêm,Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1996, Tr. 524.

[6]. Số liệu tổng hợp từ các công trình: Quốc triều Hương khoa lục, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1993; Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn, Nxb Văn hóa Thôn tin, H. 1995; Khoa bảng Nghệ An, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, 2000.

[7]. Cử nhân Lịch sử, Cao học Lịch sử Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cao Xuân Dục, Quốc triều Hương khoa lục, Nxb tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Ninh Viết Giao, Về văn hóa xứ Nghệ, tập 1, 2, Nxb Nghệ An, 2008.
  3. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Văn hóa Tôn giáo với phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Lý luận Chính trị, H. 2015.
  4. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2003.
  5. Nguyễn Quang Hồng, Đô thị Vinh từ năm 1804 đến năm 1974, Nxb Đại học Vinh, 2019.
  6. Hippolyte De Breton, An - Tĩnh cổ lục, Nxb Văn hóa Thông tin, 2014.
  7. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn , Nxb Thuận Hóa - Huế, 1993.
  8. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb Khoa học Xã hội, H. 1993.
  9. Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, trọn bộ, Nxb Thời đại, 2013.
  10. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa - Huế, 1992.
  11. Trần Ngọc Thêm,Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1996.
  12. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919), Nxb Nghệ An, 2005.
  13. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 2001.

 

 

Diễn đàn khác:
Một vài suy nghĩ về nguyên tắc ứng xử để góp phần xây dựng giờ dạy Ngữ văn thân thiện, tích cực (4/12/2021)
EVFTA và cơ hội xuất khẩu cho nông sản Nghệ An (4/12/2021)
Thạch Sùng và nỗi oan ngàn năm (4/12/2021)
Một số chữ trong bản dịch “Nam quốc sơn hà” và "Hịch tướng sĩ" của Sách giáo khoa - Liệu có đúng? (4/11/2021)
Một số chữ trong bản dịch “Nam quốc sơn hà” và "Hịch tướng sĩ" của Sách giáo khoa - Liệu có đúng? (4/11/2021)
Vài suy nghĩ vấn đề việc làm cho hồi hương trong đại dịch (4/11/2021)
Tai biến và phát triển (4/11/2021)
Tiếng nói của người bản địa trong nghiên cứu tộc người (4/11/2021)
Đọc bài “THÁNH NAM ĐÀN LÀ AI? ” (4/11/2021)
Đề xuất 6 giải pháp nhằm phát huy tối đa giá trị các di tích trên địa bàn thành phố Vinh (3/11/2021)
Giải pháp phát triển du lịch miền Tây Nghệ An giai đoạn 2020-2025 (12/10/2021)
Văn miếu Nghệ An - Nhìn từ góc độ văn hóa (12/10/2021)
Vaccine hóa cộng đồng cứu cánh số 1 cho các doanh nghiệp Nghệ An trong đại dịch (28/9/2021)
Nghiên cứu, giữ gìn, phát triển sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay (27/9/2021)
Tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua giám sát phản biện của nhân dân (27/9/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 3,007 | Tất cả: 3,548,396
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp