KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Hiện tượng lạm dụng từ ngữ gốc Hán trong văn hóa tâm linh
Tin đăng ngày: 1/9/2021 - Xem: 471
 

TS. Trần Văn Dũng

Nguyên Trưởng khoa Sư phạm, ĐH Tây Nguyên

  1. Đặt vấn đề

Quá trình tiếp xúc văn hóa - tộc người tất yếu sẽ kéo theo sự tiếp xúc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, trong đó có ngôn ngữ. Đây cũng là hiện tượng mang tính phổ biến mà Việt Nam chúng ta cũng không phải và không thể là trường hợp ngoại lệ. Mặt tích cực là đã góp phần làm phong phú thêm cho kho từ vựng của ngôn ngữ dân tộc, làm đa dạng hơn các hình thức giao tiếp, và về phương diện nào đó, nó giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận với những nền văn hóa, văn minh phát triển. Bên cạnh đó, nó cũng có thể gây nên những tác động tiêu cực, đó là sự xô bồ, lai căng, thậm chí trong không ít trường hợp, chủ nhân văn hóa còn quay lưng lại với văn hóa truyền thống nếu chủ thể tiếp nhận chưa có được sự chuẩn bị đầy đủ khả năng lựa chọn. Về ngôn ngữ, những biểu hiện trong cách nói, cách viết “khác lạ” đã làm mất đi bản sắc vốn có của tiếng Việt. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để những giá trị của văn hóa truyền thống, mà cụ thể là văn hóa ngôn ngữ không bị chèn ép bởi những yếu tố ngoại lai đã từng nô dịch văn hóa dân tộc bởi hàng ngàn năm Bắc thuộc, hoặc không bị phủ định bởi sự phát triển của văn minh hiện đại, và ngược lại, nó không trở thành lực cản cho sự phát triển ấy; chúng phải trở thành điểm tựa và thúc đẩy lẫn nhau trên con đường đi lên của xã hội. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chủ yếu đề cập đến những tác động tiêu cực, hay nói cách khác là sự lạm dụng Hán ngữ trong các hoạt động giao tiếp của một bộ phận không nhỏ người Việt hiện nay, đặc biệt trong hoạt động văn hóa tâm linh.

  1. Tiếp xúc văn hóa và sự hình thành cách đọc Hán - Việt

Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nước ta chịu ảnh hưởng sâu văn hóa và ngôn ngữ Trung Hoa là điều dễ nhận thấy. Chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) vốn là một văn tự do người Hán sáng tạo ra cách đây khoảng ba ngàn năm, khi người Hán đang còn đóng khung địa bàn cư trú của mình trong vùng đất thuộc lưu vực Hoàng Hà và sông Vị. Lúc đầu nó chỉ phục vụ riêng cho người Hán. Theo thời gian, cùng với việc mở rộng địa bàn cư trú và địa bàn ảnh hưởng của văn hóa Hán, chữ Hán cũng dần lan ra ngoài lãnh thổ của dân tộc mình. Đến khoảng đầu công nguyên, một mặt, nó tiếp tục đi xa hơn về phía Nam, đi vào khu vực đất nước ta, mặt khác nó lan lên phía Đông Bắc, đi vào Triều Tiên, rồi tràn sang Nhật Bản. Trong điều kiện của nền văn minh Trung cổ thời bấy giờ, dần dần chữ Hán không còn là văn tự của riêng dân tộc Hán nữa, nó trở thành văn tự dùng chung cho toàn bộ một khu vực rộng lớn (tương tự trường hợp chữ Latin và tiếng Latin ở khu vực Tây Âu). Ở Việt Nam (cùng với Triều Tiên và Nhật Bản), trong nhiều thế kỷ, chữ Hán đã được coi như là văn tự chính thống, được sử dụng trong dạy học, thi cử, vào công việc hành chính, ngoại giao, được dùng vào các hoạt động trong địa hạt văn hóa, sáng tác văn chương. Qua thời gian, cách đọc chữ Hán ở Trung Hoa và các quốc gia khác dần dần đã có những thay đổi. Mỗi vùng vay mượn vào một thời kì khác nhau, sau đó lại diễn biến theo những chiều hướng khác nhau, làm cho sự xa cách đó ngày càng sâu sắc. Mặt khác, bản thân chữ Hán là một kiểu văn tự không ghi từng âm như các kiểu chữ viết theo kí tự Latin và cũng không giống một số kiểu chữ viết của nhiều dân tộc khác ở châu Âu. Qua tự dạng của chữ Hán, khó có thể phân tích để rút ra cách đọc một cách dễ dàng như các kiểu chữ ghi theo từng âm. Từ đó, dần dần trong khu vực, những người cư trú xa nhau có thể dùng chung một thứ chữ viết nhưng nói và nghe thì không hiểu được nhau nữa (mà chỉ có thể giao tiếp với nhau bằng hình thức bút đàm). Chữ Hán đã trở thành một kiểu văn tự có nhiều cách đọc. Bên cạnh cách đọc khác nhau ở các địa phương của Trung Hoa còn có một số cách đọc như: cách đọc ở Triều Tiên; hai cách đọc       Go - on (Ngô âm), Kan - on (Hán âm) ở Nhật Bản, và cách đọc thường được gọi là Hán - Việt ở những vùng thuộc địa bàn văn hóa của người Việt. Cách đọc Hán - Việt thường được giải thích là lối đọc chữ Hán riêng của người Việt. Thực tế cách lí giải này cũng chưa thực sự ổn, bởi cũng có những quốc gia có nhiều lối thể hiện ngôn ngữ khác nhau. Ở Việt Nam cũng vậy, có nơi vừa có cách đọc Hán - Việt, vừa có cách đọc cổ Hán - Việt (can/gan; cận/gần; bổn/vốn; bản/ván; buồm/phàm; phòng/buồng; vị/mùi; vụ/mùa; xe/xa; ngựa/mã; cá/ngư,…). Mặt khác, lối đọc Hán - Việt thế kỷ 20 về sau này lại xuất phát từ lối đọc cổ hơn của các thế kỷ trước. Khoảng thế kỷ thứ 7, thứ 8, cách đọc Hán - Việt lúc bấy giờ cũng là cách đọc của chính người Hán hay ít nhất cũng gần như cách đọc của người Hán. Vì vậy trong một giới hạn nhất định (dựa vào người đọc và nơi đọc), ta có thể hiểu một cách sơ bộ: cách đọc Hán - Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt hoặc ở Việt Nam. Cách đọc Hán - Việt là một cách đọc vốn bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể là Đường âm ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ thứ 8, thứ 9. Cách đọc theo Đường âm đó sau khi Việt Nam giành được độc lập đã dần biến dạng dưới tác động của ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành cách đọc riêng biệt của người Việt. Cách đọc Hán - Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt, tiếng Hán và văn tự Hán. Tuy nhiên, cần phân biệt những đơn vị gọi là từ Hán - Việt và những đơn vị gọi là yếu tố gốc Hán. Theo Nguyễn Tài Cẩn, “nói đến cách đọc Hán - Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho hệ thống văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ ghi những tiếng đã được du nhập vào tiếng Việt hay những chữ không liên quan gì đến tiếng Việt. Ngược lại khi nói đến yếu tố gốc Hán là nói đến yếu tố đã được du nhập vào tiếng Việt, bất luận đó là những yếu tố như thế nào, xét về mặt quan hệ văn tự: những yếu tố người Việt có thể liên hệ trực tiếp ngay với một chữ Hán hay những yếu tố không gây ra sự liên hệ như thế” (Nguyễn Tài Cẩn, 2000, tr. 20).

  1. Tính hai mặt của việc sử dụng từ ngữ gốc Hán trong giao tiếp hiện nay

3.1. Mặt tích cực

Trong tiến trình lịch sử, nền văn hóa dân tộc của chúng ta đã có mối quan hệ mật thiết với chữ viết và văn ngôn Hán. Người Việt trong nhiều thế kỷ đã sử dụng chúng như một công cụ văn hóa của dân tộc, và đã lưu lại đến ngày nay một kho tàng không nhỏ những công trình về sử học, luật học, y học, văn học,… Đó là một kho tư liệu quý mà chúng ta cần gìn giữ, tiếp cận một cách cẩn trọng, để giới thiệu lại cho thế hệ mai sau, mà những việc làm này cần thiết phải thông qua cách đọc Hán - Việt. Trong kho tàng văn hóa Trung Hoa, có một bộ phận không nhỏ đã trở thành tài sản chung của nhân loại, như những tác phẩm triết học thời Tiên Tần; những áng Hán văn, Đường thi… Dùng từ ngữ gốc Hán và cách đọc Hán - Việt, với chúng ta, trong nhiều trường hợp là phù hợp bởi tính hàm súc về ngữ nghĩa và tính trang trọng về sắc thái ngôn từ. Hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệu tiếng Hán đã đi vào tiếng Việt một cách tự nhiên, trở thành quen thuộc, gần gũi.

Đề cập đến lịch sử tiếng Việt, chúng ta không thể không nói đến bộ phận từ ngữ liên quan đến cách đọc Hán - Việt. Xét về lịch sử, đây không phải là cơ sở nền tảng cho sự ra đời của tiếng Việt, cũng không phải là những bộ phận mang tính cốt lõi của văn hóa truyền thống chúng ta, nhưng là bộ phận khá quan trọng cả về số lượng và vị thế của chúng trong toàn bộ ngôn ngữ nói chung và đặc biệt là ngôn ngữ văn hóa nói riêng. Bộ phận từ ngữ được sử dụng trong giao tiếp (quy thức và không quy thức) bằng lối đọc Hán - Việt trong các lĩnh vực như hành chính, pháp luật, ngoại giao chiếm tỷ trọng càng cao.

Chữ Nôm ra đời khoảng thế kỷ 12, một kiểu chữ viết của người Việt đã đặt dấu ấn về sự độc lập, tự chủ trong lĩnh vực ngôn từ. Tuy nhiên, kiểu chữ này lại được tạo ra từ kí tự Hán và bằng kí tự Hán, chủ yếu dựa theo nguyên lí giả tả, hội ý, hình thanh trong phép lục thư của Hứa Thận (thời Đông Hán), và được đọc theo lối đọc Hán - Việt. Vì vậy, muốn đọc Nôm, phiên Nôm, phải dựa vào cách đọc Hán - Việt. Trong nhiều chuyên ngành của Đông phương học, cách đọc Hán - Việt cũng là một cứ liệu quan trọng luôn được giới nghiên cứu quan tâm. Nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Hán Trung cổ không thể không viện dẫn cách đọc chữ Hán ở Việt Nam, vì cách đọc này vốn bắt nguồn từ tiếng Hán Trung cổ.

3.2. Những thách thức, trở ngại

Cho đến nay, vẫn chưa có một điều tra ngôn ngữ học nào để có một số liệu chính xác về tỷ lệ các từ ngữ gốc Hán trong kho từ vựng của chúng ta. Tuy nhiên có thể thấy, lớp từ gốc Hán có mặt ở mọi lĩnh vực, trong mọi hoạt động của đời sống ngôn ngữ tiếng Việt, kể cả trong giao tiếp quy thức và phi quy thức. Trong thực tế, do cùng một loại hình ngôn ngữ (đơn lập), cùng với đó là có khá nhiều từ Hán được thâm nhập vào nước ta ở thời kỳ đầu (trước và đầu công nguyên), đã chịu sự chi phối bởi ngữ âm tương đồng giữa hai ngôn ngữ thời kỳ ấy nên dễ dàng được coi như những từ thuần Việt (xe, ngựa, cá, nẹn, chén, chém, thuyền, buồm, buồng,...). Bởi vậy, một bộ phận không nhỏ, ranh giới giữa chúng là không thật sự rõ ràng. Và cũng chính vì thế, việc đánh giá về cách sử dụng phối hợp các yếu tố giữa hai ngôn ngữ này là không mấy giản đơn. Thực tế, trong nhiều lĩnh vực như hành chính, pháp luật,… thì đại bộ phận từ ngữ được sử dụng là từ gốc Hán, được đọc theo lối Hán - Việt. Tuy vậy, ta vẫn dễ dàng nhận thấy ở tiếng Việt có những quy tắc riêng, đặc biệt là cấu tạo từ và cú pháp. Thiết nghĩ, việc sử dụng các yếu tố vay mượn phải chịu sự chi phối của các quy tắc và quy luật hoạt động của tiếng Việt. Bài viết không có khả năng bàn đến những vấn đề quá lớn về mối quan hệ giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong suốt tiến trình lịch sử, mà chỉ sơ bộ đề cập đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ gốc Hán trong giao tiếp tiếng Việt do hạn chế về sự hiểu biết hoặc lạm dụng ngôn ngữ này. Khá nhiều trường hợp do không phân biệt được nguồn gốc ngôn ngữ đã dẫn tới việc sử dụng không phù hợp với cấu trúc. Chẳng hạn, không phân biệt được chủ nghĩa xã hội và xã hội chủ nghĩa, đa phần và phần đa, khuyến mãi và khuyến mại, luật pháp và pháp luật, quyết nghị và nghị quyết;… hoặc không hiểu nghĩa của từ ngữ mình đang dùng nên ngay cả một số người làm du lịch, làm truyền thông cũng không hiểu được thế nào là danh lam, thế nào là thắng cảnh, cứ thấy cảnh đẹp thì đều nói là danh lam thắng cảnh. Cũng vì lí do trên, nhiều trường hợp sử dụng thừa các yếu tố trong tổ hợp từ, như: lúc sinh thời, tái lập lại, tái khẳng định lại, tận mắt mục sở thị, tên địa danh, tên nhân danh. Thậm chí có người còn lên mạng xã hội giải thích câu truyền miệng dân gian về “tứ chứng nan y - phong, lao, cổ, lại” một cách quả quyết rằng: phong là bệnh phung, bệnh hủi; lao là bệnh lao; cổ là bệnh xơ gan cổ trướng, lại là bệnh ung thư. Lại có trường hợp kết hợp một yếu tố đơn tiết gốc Hán với một yếu tố đơn tiết không phải gốc Hán, như cát tặc. Họ dựa vào các từ như lâm tặc, hải tặc để đưa ra kết hợp như vậy. Đây là một sự nhầm lẫn đáng tiếc mà chúng ta không hiếm gặp trong các phát ngôn (kể cả trong giao tiếp quy thức). Về cơ bản, các yếu tố đơn tiết của Hán ngữ thường khó kết hợp với một yếu tố đơn tiết tiếng Việt, ngay cả những trường hợp từ gốc Hán đã được Việt hóa đến mức khó phân biệt được nguồn gốc của chúng. Việc không hiểu thấu đáo về bản chất của hai ngôn ngữ này và mối quan hệ giữa chúng trong bối cảnh số từ ngữ gốc Hán chiếm tỷ lệ lớn hơn từ ngữ bản địa sẽ rất dễ dẫn tới những nhầm lẫn và sai lệch đáng tiếc. Nhiều người cho rằng, tiếng Hán trang trọng về sắc thái và súc tích về nghĩa. Điều đó là không thể phủ nhận, nhưng không ít trường hợp, chính nhận thức đó đã bị đẩy lên tới mức cực đoan, đã trở thành nguyên nhân của sự lạm dụng ngôn ngữ này. Một số trường hợp Hán ngữ du nhập vào nước ta từ lâu, được Việt hóa, và mặc dù đã có không ít từ ngữ thuần Việt được ra đời, đủ sức diễn đạt và thực hiện một cách đầy đủ vai trò ngữ nghĩa và ngữ pháp của lớp từ vay mượn nhưng vẫn tồn tại những quan niệm, nhận thức và cách ứng xử không phù hợp. Một thực tế khác là trong kho từ vựng tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt, có không ít từ ngữ không còn tồn tại trong hoạt động giao tiếp của chúng ta, ngay cả đối với những người tiếp xúc nhiều với tiếng Hán bởi nó đề cập đến những khái niệm quá xa lạ, trong đó có lớp từ được sử dụng trong các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh.

  1. Một số biểu hiện về sự hạn chế trong nhận thức lớp từ ngữ gốc Hán và sự lạm dụng lớp từ ngữ này trong lĩnh vực hoạt động tâm linh

Có thể nói, Việt Nam chúng ta là một trong không nhiều quốc gia đang duy trì một tập quán văn hóa thờ cúng tổ tiên và các nghi thức tang lễ đặc thù. Đây là một trong những tập tục được duy trì mang những nét riêng của từng vùng miền khác nhau nhưng cùng chung mục đích “thể hiện đạo hiếu” đối với các bậc tiền nhân. Tập tục này được hình thành, tiếp nối cùng với lịch sử dân tộc và trở thành một trong những loại hình của văn hóa Việt Nam: “Văn hóa tâm linh”. Chúng tôi không có điều kiện đi sâu vào những nội dung cụ thể của vấn đề, và cũng không có khả năng để đưa ra những nhận xét đánh giá đầy đủ về những yếu tố tích cực, không tích cực hoặc không còn phù hợp với đời sống hiện thời. Tuy nhiên một điều chúng ta dễ nhận thấy, trong suốt chiều dài lịch sử bị nô dịch bởi văn hóa phương Bắc, những tập tục này của người Việt khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa Hán. Cùng với đó là nhiều đặc trưng văn hóa lại được tiếp cận qua văn tự Hán, được thể hiện bằng cách đọc Hán - Việt. “Thọ Mai gia lễ” của tiến sĩ Hồ Sĩ Tân (1690 - 1760) ra đời được coi là cuốn cẩm nang về lễ nghĩa trong gia đình - chủ yếu đối với việc tang chế và một số nội dung trong công việc cưới xin; đã phần nào thể hiện được bản sắc riêng trong văn hóa tâm linh của người Việt. Tuy vậy “Thọ Mai gia lễ” cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tư tưởng, nội dung trong “Chu Công gia lễ” của Chu Văn Vương.

Thực tế cũng cho thấy, các nghi thức thờ cúng, tang lễ trang trọng ngày xưa ở nước ta cũng chỉ được duy trì trong tầng lớp thượng lưu và nho sĩ, bởi chỉ có các đối tượng này mới có điều kiện về kinh tế và hiểu biết chữ nghĩa Hán học. Lễ càng to, nghi thức cúng tế càng phức tạp, nhiều bước. Các văn lễ càng dài dòng, nhiều ý tứ thâm nho được diễn đạt bởi những ngôn từ mang hàm ý sâu xa,… càng khẳng định được vị thế của người quá cố và vị thế của tang chủ. Người dân nghèo không thể có điều kiện để làm các nghi lễ như vậy. Qua bao năm tháng chiến tranh, cuộc sống bị chi phối nhiều bởi những khó khăn chung. Mỗi chúng ta đều có một tâm lí đơn giản hóa các nghi lễ cũng như các nghi thức trong lễ. Ngày nay khi cuộc sống đã thay đổi, điều kiện kinh tế được cải thiện, sự phân hóa giàu nghèo cũng ngày càng bộc lộ rõ rệt. Ông cha ta từ xưa đã có câu “Phú quý sinh lễ nghĩa”. Các tập tục, nghi lễ một thời xa xưa lại có dịp quay lại, được pha chút hiện đại nhưng cũng có không ít trường hợp lại được thể hiện một cách thái quá, rườm rà hơn. Những người có điều kiện về kinh tế, thậm chí một số người có vị trí xã hội nhất định muốn có dịp thể hiện “đạo hiếu” đối với các bậc sinh thành, các bậc tiền nhân trong gia tộc, đã khôi phục các nghi lễ này một cách “hoành tráng” hơn nhờ vào sự trợ giúp của công nghệ hiện đại. Lăng mộ được thi nhau xây cất công phu, to đẹp và tốn kém, kèm theo là có thêm các nghi lễ cúng tế tương ứng. Không ít các đám tang, các lễ cúng tế được thực hiện hàng tiếng đồng hồ, thậm chí nhiều giờ, nhiều ngày với những thủ tục quá rườm rà, phức tạp. Những gia đình bình dân, thậm chí hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn cũng tìm mọi cách, cố gắng tổ chức tang lễ cho người thân một cách “coi được”, trong đó một “tiết mục” không thể thiếu là sự tham gia của thầy cúng. Từ thực tế đó, mặc dù “tính hợp lí” hay “hợp pháp” của lực lượng các thầy cúng trong xã hội ta đang là vấn đề còn bỏ ngỏ; và cũng không hoặc chưa có một trường lớp nào đào tạo nhưng hàng loạt các thầy cúng xuất hiện khắp mọi nơi theo “quy luật cung - cầu”. Có thể nói các thầy cúng có mặt ở mọi làng xã ở nông thôn và không ít nơi ở đô thị. Từ những ông “thầy” tự “đào tạo” họ có thêm những học trò “phụ tế”. Những phụ tế này một thời gian sau đó không lâu lại trở thành những ông “thầy”. Con đường truyền nghề đó diễn ra cấp tốc, liên tục, và đến nay tuy chưa ai có thể thống kê được một cách đầy đủ về lực lượng này nhưng có thể khẳng định là không hề nhỏ. Chúng ta cũng biết được rằng, ngày xưa muốn học được chữ Hán, từ trình độ “tam tự kinh” (tương đương lớp vỡ lòng trước đây hoặc lớp “lá” hiện nay), đến mức độ đủ “chữ” để đi thi hương, các nho sinh đã phải mòn bao nhiêu cái “đũng quần” ngồi chõng nhà thầy Nho (mà các thầy Nho ngày trước muốn mở trường lớp dạy học phải có bằng tú tài Hán học). Dẫu biết rằng các thầy cúng ngày nay đã được trẻ hóa và có kiến thức văn hóa nhất định. Họ học nhanh hơn, nhưng không thể bỗng dưng có một lượng kiến thức về tâm linh và trình độ Hán ngữ nhanh được như vậy. Người dân chúng ta (trừ những người làm việc liên quan đến các lĩnh vực khoa học về văn hóa, ngữ văn), hầu như đã từ lâu không hoặc chưa tiếp xúc với văn tự Hán. Điều này dẫn đến một thực tế là các tầng lớp bình dân và không ít tri thức hoạt động trong lĩnh vực xã hội cũng cảm thấy khó khăn trong nhận thức chưa nói đến việc sử dụng trong hoạt động giao tiếp. Một số từ gốc Hán, đọc theo lối Hán - Việt xa lạ, phức tạp do các nhà truyền giáo đưa vào từ xa xưa, trong đó không ít trường hợp lại bị đọc trại đi bởi ngữ âm của những vùng miền khác nhau, và dẫn đến việc nó chỉ tồn tại trên âm đọc của một số người làm nghề đặc thù, trong đó có những người hành nghề trong lĩnh vực tâm linh. Không ít thầy cúng không biết chữ Hán, tiếng Hán đọc theo lối đọc Hán - Việt một cách thấu đáo nên có khi đọc phiên âm nhưng không biết chữ, lại không thực sự hiểu nghĩa của nó (chẳng hạn không nhận ra được mối quan hệ về chữ và nghĩa của âm “bổn” và “bản”, “vạn” và “vàn”; nói “chạy tang” thì hiểu nhưng khi nghe người khác nói “bôn tang” thì không hiểu). Chúng tôi chứng kiến khá nhiều trường hợp thầy cúng đọc “Duy Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” một cách liền mạch (không có ngữ điệu để tách âm “duy”), khi hỏi “duy” có nghĩa là gì và vì sao âm này lại xuất hiện đầu bài văn cúng thì họ lại không giải thích được. Không ít thầy cúng biết dùng các từ như “chung thất”, “tốt khốc”, “tiểu tường”, “đại tường” vào đúng bối cảnh thực tế nhưng lại không biết chữ Hán biểu thị và không hiểu được nghĩa của các từ đó (có thể do bắt chước người khác rồi dùng mãi thành quen mà không hiểu được rằng trong Hán ngữ, “chữ” đi liền với “nghĩa”). Điều này lí giải vì sao với ngôn ngữ này khi đối chiếu với ngôn ngữ khác người ta thường hay dùng “tự điển” hơn là “từ điển”). Những từ như “tế ngu” (“sơ ngu”, “tái ngu”, “tam ngu”); các lễ như “chúc thực”, “triêu tịch điện”,… cũng được các “thầy” tiếp cận theo cách như vậy. Phải nói là các nghi thức thờ cúng cũng như tang chế của đại đa số người Việt (người Kinh) đều cơ bản dựa vào nội dung “Thọ Mai gia lễ”. Tuy nhiên khi hỏi về ý nghĩa của một số từ ngữ trong cuốn “cẩm nang” đó (như cư tang, trảm thôi, tề thôi, cơ niên, tiểu công, đại công, ty ma phục, trường phục, mộc dục, đại dư, đàm tế…) thì không ít các “thầy” gặp khó khăn. Có thầy cúng khi được hỏi “cửu tộc” là gì hoặc tên gọi bằng âm Hán - Việt của các thế hệ như thế nào cũng không giải thích được, trong lúc các bài cúng lại cần làm rõ mối quan hệ giữa người quá cố với các thế hệ thành viên gia đình. Thậm chí, có trường hợp các “thầy” ghi chép sai cả từ ngữ phiên âm mà không nhận ra. Trong lúc đó, tiếng Việt hiện hành đã phát triển, và khá nhiều trường hợp lớp từ vựng của ta, đặc biệt là cách thức diễn đạt (như trong nhiều trường hợp trên đây) đã có thể thay thế một cách dễ dàng. Không ít người cho rằng, đọc theo Hán ngữ mới sang. Đành là vậy nhưng những từ ngữ đã quá cổ, nghĩa đã quá “mờ”, hơn nữa đã có các từ thuần Việt thay thế một cách khá ổn, thiết nghĩ cần cân nhắc sử dụng cho hợp lí. Thực tế thì trong nhiều trường hợp, gia chủ cũng chẳng quan tâm đến việc thầy cúng đọc gì. Hệ quả là, “thầy” cứ đọc theo cách của “thầy”, và sự chấp nhận của gia chủ cũng trở thành mặc nhiên, mặc dù không ít trường hợp cả hai phía đều không hiểu một cách đầy đủ về sự đúng sai trong ngôn từ cúng tế. Thậm chí, nếu tang chủ có đề xuất rút ngắn bài “văn” thì trong nhiều trường hợp thầy cúng cũng khó thực hiện.

  1. Một vài kiến nghị

Từ thực trạng trên có thể thấy, nếu không có giải pháp chọn lọc, điều chỉnh và phần nào là ngăn ngừa kịp thời sẽ dễ dẫn đến những hậu quả xấu. Những nét đẹp truyền thống được hun đúc, tích tụ hàng ngàn năm của tiếng Việt có thể bị phá vỡ, thay vào đó là một sự pha tạp, chắp vá. Vì vậy, thiết nghĩ, từ các cơ quan chức năng của nhà nước đến mỗi người dân đều phải có sự nhận thức đầy đủ, chung tay góp sức giải quyết vấn đề. Các cơ quan quản lí về lĩnh vực văn hóa cần phối hợp với các tổ chức đoàn thể, tổ chức vận động, định hướng sử dụng ngôn ngữ trong các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh - lĩnh vực mà lâu nay chúng ta gần như đang bỏ ngỏ về những vấn đề có tính “quy ước” hay “quy phạm” trong ngôn ngữ giao tiếp. Chúng ta coi lĩnh vực tâm linh là một trong những nét đặc trưng của văn hóa dân tộc. Chúng ta cũng từng đồng thuận với việc xây dựng các thiết chế văn hóa, trong đó có văn hóa tâm linh. Cùng với đó, chúng ta cũng cần hướng tới những nét “văn hóa” trong ngôn ngữ giao tiếp về lĩnh vực này. Các cơ quan báo chí, truyền thông, các nhà tổ chức sự kiện bên cạnh việc tuyên truyền, khuyến cáo thì phải làm gương; phải trở thành mẫu mực trong việc sử dụng ngôn từ, đặc biệt là trong việc tuyên truyền cho các hoạt động hành lễ. Giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, vì vậy, để hạn chế những tiêu cực trong tiếp nhận, sử dụng cần có sự tham gia của toàn xã hội, trong đó gia đình và các tổ chức đoàn thể đóng vai trò hết sức quan trọng. Những người làm công việc mang tính đặc thù trong xã hội (như thầy cúng chẳng hạn) cần tiếp cận một cách khoa học hơn; hiểu về tiếng Hán và tiếng Việt một cách thấu đáo hơn, từ đó có cách ứng xử cẩn trọng, phù hợp hơn trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Cần hạn chế, thậm chí loại bỏ những từ ngữ ngoại lai khó hiểu, những hình thức cấu trúc khác lạ (chẳng hạn cấu trúc ngược của ngữ pháp tiếng Hán trước đây mà hiện nhiều thầy cúng còn duy trì) thay vào đó là những từ ngữ và cách diễn đạt của tiếng Việt hiện hành trong những trường hợp tiếng Việt đã đủ sức thay thế. Thực tế thì lực lượng các thầy cúng hiện nay đang được trẻ hóa. Các chủ thể đứng làm chủ lễ cũng như các thành viên gia đình phần lớn có học vấn nhất định. Các đối tượng tương tác trong buổi lễ cũng là những người thuộc thế hệ mới. Họ có đủ nhận thức về việc cúng tế hiện nay, đó là cách biểu hiện về “văn hóa tâm linh”. Đây cũng là những người phần lớn đang trong độ tuổi lao động, họ cần thời gian hợp lí trong việc tổ chức các nghi thức cúng tế trong phạm vi gia đình. Việc xướng lễ nhiều lần với những từ ngữ khó hiểu, được diễn đạt với âm điệu dài dòng, tang chủ phải quỳ lạy hàng giờ,… đã làm cho mọi người tham gia cảm thấy mệt mỏi, thậm chí không mấy dễ chịu.

Tuy nhiên, những vấn đề chúng tôi khuyến cáo trên đây không bao gồm các nghi lễ lớn của cộng đồng. Các đại lễ trong các lễ và lễ hội quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân tộc là thực hiện các nghi thức truyền thống Việt Nam. Ở đó các thao tác trong nghi thức lễ đều thực hiện một cách đầy đủ theo nghi lễ cổ truyền, có thêm mục đích “trình diễn” để những người tham gia (đặc biệt là du khách) có cơ hội để hiểu hơn những nghi lễ đó. Mặc dù vậy, chúng tôi thấy một số các từ ngữ ngoại lai phức tạp, xa lạ với nhận thức chung, các nhà tổ chức cũng đã có sự cân nhắc để lựa chọn, thay thế. Về cơ bản, những “thông điệp” từ các nghi thức xướng lễ cũng như văn cúng đều được mọi người tiếp nhận một cách dễ dàng.

Để có những cơ sở trao đổi và kiến nghị trên, chúng tôi cũng đã từng khảo sát thực tế khá nhiều các lễ cúng tế hiện nay ở một số nhà thờ họ trên địa bàn nhiều địa phương khác nhau, trong đó có những dòng họ lớn, có từ đường được xây dựng đã hàng trăm năm (chúng tôi xin được phép không nêu tên). Các văn cúng ở đây cũng đã sử dụng với một tỷ lệ khá cao vốn từ thuần Việt có khả năng thay thế nhiều ngôn từ ngoại lai một cách khá ổn. Đặc biệt, có lẽ mọi người đều thấy, ngôn từ trong các tang lễ do các cơ quan nhà nước tổ chức, đã thể hiện và minh chứng một cách rõ ràng, thuyết phục nhất cho vị thế của tiếng Việt chúng ta.

  1. Lời kết

Bằng con đường giao lưu tiếp xúc, và cả những áp lực của văn hóa phương Bắc qua hàng chục thế kỉ, văn hóa Việt Nam chúng ta đã tiếp nhận được nhiều những yếu tố tích cực, trong đó có ngôn ngữ. Nền văn tự Hán đã trở thành công cụ giao tiếp qui thức của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam và đã để lại cho chúng ta nhiều tư liệu quí về nhiều lĩnh vực khác nhau. Cùng với đó, nó cũng để lại cho chúng ta không ít những khó khăn, trở ngại từ những yếu tố mang tính “áp lực” của văn hóa và ngôn ngữ Hán mà chúng ta có thể nói là các “di chứng” khó khắc phục trong một số lĩnh vực giao tiếp. Bên cạnh đó, chúng ta đang hàng ngày hàng giờ tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, với những thành quả của văn minh nhân loại, cùng với đó là sự đa dạng của những ngôn ngữ khác nhau (trong cùng hoặc khác loại hình ngôn ngữ). Thiết nghĩ, tiếp nhận, lựa chọn và bảo vệ bản sắc, làm tăng thêm sự đẹp giàu của ngôn ngữ dân tộc là những công việc không thể tách rời.

 

Tài liệu tham khảo

[1]. Đào Duy Anh (1957), Hán - Việt từ điển, Trường Thi, Sài Gòn xuất bản.

[2]. Phan Kế Bính (2015), Việt Nam phong tục, NXB Văn học, Hà Nội.

[3]. Nguyễn Tài Cẩn (2000), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

[4]. Chu Ngọc Chí (1954), Thọ Mai gia lễ, Nhà sách Hưng Long, Hà Nội

[5]. Vũ Văn Kính (1998), Đại tự điển chữ Nôm, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội (tái bản).

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên (4/12/2021)
Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021: Kỳ vọng những quyết sách quan trọng về phát triển văn hóa (4/12/2021)
Chính sách dưỡng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh (4/12/2021)
Nhóm mặt hàng triển vọng của Nghệ An đề xuất sang EU (4/12/2021)
Nam Đàn - Định vị thế mạnh để phát triển kinh tế di sản (4/12/2021)
Quế Phong phát huy giá trị tri thức địa phương thông qua sản phẩm Khoa học và Công nghệ (4/12/2021)
Việt Nam Quang phục quân phương lược - Một văn kiện sáng giá trong Lịch sử tư tưởng Quân sự Việt Nam (4/12/2021)
Văn học đô thị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (4/11/2021)
60 năm huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021): Thiên anh hùng ca trên sóng dữ (4/11/2021)
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đến làng Hậu Luật, Diễn Châu (4/11/2021)
Văn hóa ẩm thực và những món đặc sản của xứ Nghệ (3/11/2021)
Vài nét về gia phong xứ Nghệ (3/11/2021)
Khí phách chí sĩ Phan Bội Châu (3/11/2021)
Hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Phật giáo (27/10/2021)
Ba chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Cuba Fidel Castro (14/10/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 3,223 | Tất cả: 3,548,612
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp