KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Hai trăm năm… còn đó nỗi đau
Tin đăng ngày: 1/9/2021 - Xem: 284
 

PGS.TS Lê Nguyên Cẩn

ĐH Sư phạm Hà Nội

Bước sang thế kỷ XIX, nước Nga của nông nô và chuyên chế, giật mình thức giấc trước những âm thanh ồn ào, kỳ dị, quái đản, kinh hoàng của phương Tây đang tiến với tốc độ vũ bão, trong giai đoạn cách mạng công nghiệp, trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự thức tỉnh có thể là muộn so với các nước công nghiệp châu Âu. Vì thế, để nhanh chóng hòa nhịp với thời đại, nước Nga đã sản sinh cho mình những vĩ nhân mang tầm nhân loại. Trên bình diện văn chương, đó là L.Tônxtôi (1828 - 1910), với thông điệp Chiến tranh và Hòa bình, báo hiệu sứ mệnh quốc tế và vị thế của nước Nga. Đó là A.S. Puskin (1799-1837), “mặt trời thi ca Nga” sưởi ấm những cánh rừng, đồng cỏ, mái nhà bằng âm điệu trữ tình kết tinh từ sâu thẳm tâm hồn Nga. Và đó là Fêđo Mihailôvic Đôxtôievski (1821-1881), người “báo trước sứ mệnh thiêng liêng của sự tổng hòa giải của nước Nga”(1) đồng thời cũng là người tái hiện nỗi đau của cái người trong vỏ bọc cái con, là nỗi đau thân phận - nỗi đau kiếp người khi phải làm người; điều mà trước đó hiếm người làm được và cũng là điều mà sau này, vào những thập niên bốn mươi năm mươi của thế kỷ XX, các nhà hiện sinh chủ nghĩa tôn vinh ông như là một nguồn cội của thứ triết học này.

Trước hết, chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu triết học với nhiều quan niệm phức tạp, ra đời và thịnh hành ở Pháp, sau đó lan rộng ra các nước khác ở châu Âu và thế giới từ sau 1945, muốn giải quyết vấn đề sống - chết, vấn đề muôn thuở của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử mới. Vì vậy, họ cần những chỗ dựa tinh thần và tìm đủ mọi cách tạo ra cội nguồn cho quan niệm triết học của mình, vì cội nguồn có tính lịch sử dài lâu thì cơ sở lập luận càng có vẻ chắc chắn. F.M. Đôxtôievski và nỗi đau của cái người trong vỏ bọc cái con dưới ngòi bút của ông, qua những cuộc đời và số phận nhân vật, hiện ra ngay từ tiêu đề tác phẩm của ông, trở thành chỗ dựa cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ XX.

Upload

Nhà văn Fêđo Mihailôvic Đôxtôievski (1821 - 1881)

Đôxtôievski quan tâm trước hết đến kiểu Những kẻ nghèo hèn (bản tiếng Pháp: Les Pauvres gens) trong tác phẩm cùng tên, được viết trong một “cơn mưa nước mắt”, xuất bản năm 1846, lúc ông hai mươi hai tuổi. Kiểu “nghèo hèn” được hiểu, trước hết về phương diện thiếu thốn vật chất, nhưng cái nghèo hèn về trí tuệ được nhấn mạnh ở đây còn đáng sợ hơn nhiều, bởi đã “nghèo thì hèn”, mà đã “hèn” thì nhân phẩm bị hạ thấp, tạo ra một kiểu phản nhân vật. Tiêu đề Những kẻ nghèo hèn cũng đã gợi mở nhiều vấn đề xã hội - chính trị. Cũng trong năm đó, Con người kép mang lại ấn tượng về kiểu nhân vật hai mặt hay phân thân, kiểu con người vừa là nó vừa không phải là nó, gắn liền với những biến loạn lịch sử một thời. Các nhân vật nghèo hèn hay kép của Đôxtôievski trải mình trong Những đêm trắng (1848) đắm mình trong triết lý, để nhìn ngắm thế giới nhân quần, bởi Đêm trắng là đêm không ngủ, là đêm trằn trọc, dằn vặt suy tư, bởi lẽ cuộc sống không bình yên, bởi lẽ thời đại đang chuyển mình.

Mối quan hệ hiện tồn - hiện sinh được Đôxtôievski đưa ra trong Những hồi ức từ ngôi nhà chết (1862), từ thực tế cuộc sống tù đày bốn năm trời khi ông buộc phải sống cộng sinh cạnh những kẻ côn đồ khát máu, cạnh những kẻ sống không nghề không nghiệp, trong mối đe dọa thường xuyên thường trực đối với những ai muốn sống an phận thủ thường. Tác phẩm này thức tỉnh và chỉ ra cho những người Nga có lương tâm, biết nơi hành hạ người khác là một thú vui, nơi sự hiện sinh diễn ra dưới hình thức cay đắng nhất, đang hiện diện ở đất nước ấy. Cuốn sách khiến Nga hoàng phải thổn thức khi đọc và đã cứu được Đôxtôievski khỏi chết dần, chết mòn, khỏi những nỗi đau tinh thần và thể xác vì sự hành hạ của những quái vật trong lốt người, để ông tiếp tục mang lại cho đời những lý giải mới về cội nguồn và nỗi đau hiện sinh của kiếp người. Sau khi tái hiện Những kẻ tủi nhục (1861), Đôxtôievski chỉ ra thế giới đồng tiền trong Con bạc (1867), làm rõ những Ghi chép dưới hầm (1864). Thế giới của ông không phải là những ngôi nhà sang trọng, với các phòng khách rực rỡ những ngọn đèn chùm, nơi một vũ hội cuồng say có thể diễn ra bất cứ lúc nào như thế giới của H.de Balzac. Thế giới của ông là thế giới của khổ đau cùng cực, của bẩn thỉu hôi hám hết mức, là nơi ông phải trải qua một phần đời ở đấy. Đấy là thế giới của rận rệp, của chuột bọ; nơi có những quán ăn tồi tàn, hôi thối, nơi hòa trộn đủ mùi của khách ăn, của thực phẩm, cũng là nơi họp mặt của những con người đủ loại cặn bã xã hội; nơi các căn phòng mang dáng dấp chiếc quan tài. Kiểu ám thị tạo ra định kiến cuộc đời trong tâm thức này, rất được các nhà hiện sinh ưa thích, bởi “địa ngục, chính là người khác” như J.P.Sartre khẳng định.

Đỉnh cao của tài năng Đôxtôievski là Tội ác và hình phạt (1866); Chàng ngốc (1868); Lũ người quỷ ám (1872) và Anh em nhà Karamazov (1880). Nhân vật Rasconikov trong Tội ác và hình phạt là gã sinh viên phải bỏ học vì thiếu tiền luôn được đặt trong sự giằng xé của lương tâm, về những khái niệm “tội ác” và “hình phạt”. Trước khi trở thành kẻ giết người trong cơn quẫn trí, hắn thực hiện động tác để đời là quỳ lạy nỗi đau khổ nhân tính trong căn phòng tồi tàn của một cô gái điếm. Mọi lời thuyết giáo về đức tin, về lòng tốt, về sự cứu rỗi được thốt lên tại chốn trụy lạc đó, tạo ra sự tương phản, cho thấy đặc trưng nhân vật. Trước khi nhúng tay vào máu, hắn đi tìm mọi sự thuyết giáo và cũng tự thuyết giáo, để tạo ra đức tin cho hành động giết người là vì nhân loại của hắn, vì muốn trở thành “Napoléon Bonpacte”. Câu hỏi tự vấn: “Ta là con sâu bọ run rẩy hay ta có quyền lực?” mang dáng dấp con người hiện sinh thế kỷ XX. Rồi sau chín tháng dằn vặt, luôn xung đột giữa cái con và cái người, cái người khổ đau trong vỏ bọc cái con đạo mạo, trong xã hội nơi cái ác ngập tràn, vào một buổi sáng hắn tìm đến tòa án và tự thú “đã giết chết mụ cầm đồ và em gái mụ để lấy tiền của”. Hắn thú nhận tất cả, thật lòng, tới mức tòa án phải coi đó là ngộ phạm sang chấn tinh thần. Nhân vật hiện hình trên khung nền màu đen, chất chứa đủ thứ nghèo hèn, nơi bộc lộ các kiểu suy tư khác nhau. Theo ngôn ngữ hiện sinh, thì môi trường hay hoàn cảnh sống cũng chính là nơi nhân vật bị sinh ra, phải chịu đọa đày, kéo dài kiếp sống vất vưởng qua ngày đoạn tháng ở đó.

Chàng ngốc cũng mang lại ấn tượng đặc biệt, qua cách khai thác sức mạnh đồng tiền, qua thế giới ăn chơi kiểu Nga thế kỷ này. Nhưng nổi bật nhất vẫn là xung đột thiện - ác, đẹp - xấu, lương tâm trong sạch và thói ích kỷ bần tiện, hình thức sống gấp bản năng theo tiếng gọi của đồng tiền và khát vọng thanh cao giữa cuộc thế trần ai. Hoàng thân Mưxkin, thuộc dòng dõi con vua cháu chúa, bị loại ra khỏi cộng đồng vì gia đình đã bị phá sản còn bản thân thì bị bệnh tâm thần. Với nhân vật này, góc nhìn của con người bị bệnh hoạn về thể xác nhưng hoàn toàn khỏe mạnh về tinh thần, được tạo ra. Con người đó nhìn ngắm, phân tích và phán xử cái xã hội của những kẻ khỏe mạnh về thân xác nhưng què quặt về tâm hồn, những kẻ không còn hay tự đánh mất lương tâm chỉ còn lại cái vỏ ngoài mang hình nhân tính. Mưxkin nói: “Tôi không hiểu nổi làm sao người ta có thể đi qua trước một cái cây mà không cảm nhận được hạnh phúc về sự tồn tại của nó và cũng không yêu nó… Biết bao điều tuyệt vời người ta gặp trên mỗi bước đi ở trên trần thế này, khi ngay những kẻ ô nhục nhất cũng nhận ra vẻ đẹp kỳ diệu đó”. Mưxkin cảm phục cái đẹp nhân tính của Nataxia, thân thiết với nàng, nhưng không thể cứu nàng khỏi tay Rôđôgin. Còn Nataxia, khi còn sống, cũng rất cảm mến Mưxkin, hiểu được tâm hồn cao thượng trong sáng của chàng nhưng cũng ý thức được trách nhiệm không làm vấy bẩn tâm hồn trong trắng đó. Hình tượng Nataxia Philipôpna, trở thành kiểu nhân vật phân thân đặc biệt, vừa tha thiết yêu Mưxkin, yêu sự trong trắng thuần khiết theo kiểu tình yêu tinh thần, vừa thể hiện tình yêu nhục cảm bản năng khi bị Rôđôgin cám dỗ, thể hiện xung đột không thể hòa giải giữa cái con và cái người trong một con người, nơi nhân cách tự nó phát triển theo nguyên tắc bao giờ cái con lớn lên thì cái người bé đi và ngược lại, tạo ra khuôn mẫu phát triển tính cách, qui định đặc điểm của nhân vật.

Nhân vật của Đôxtôievski luôn ở trong trạng thái tỉnh thức, dường như không bao giờ họ ngủ, dường như bao giờ họ cũng đọc được suy nghĩ của nhau, biết rõ về nhau và cũng sẵn sàng chấp nhận mọi điều xảy ra như chấp nhận định mệnh. Nataxia, vừa thoáng nhìn thấy Rôđôgin đã linh cảm cô sẽ thuộc về hắn và sẽ chết một cách đau đớn trong tay hắn. Khi linh tính mách bảo, Nataxia tìm cách lẩn tránh, nhưng càng lẩn tránh lại càng không thể. Cô chấp nhận số phận mình như cách định mệnh an bài, đã sinh ra thì phải chết đi như định đề của chủ nghĩa hiện sinh vậy. Rôđôgin cũng ý thức được hắn sẽ giết người. Hắn luôn mang theo con dao, cho dù đến lúc ấy hắn vẫn chưa rõ hắn sẽ giết ai. Hoàng thân Mưxkin khi thấy hắn chơi đùa với con dao, cũng đã linh cảm tới tội ác của hắn nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn. Các nhân vật sống trong ý nghĩ của nhau, đều quyện chặt vào nhau như một ràng buộc định mệnh không thể nào phá vỡ. Có thể coi Nataxia là biểu tượng của cái đẹp thánh thiện, Mưxkin là cái thiện lương trong sáng nhưng cái đẹp và cái thiện ấy không thoát khỏi bàn tay thô bạo tàn nhẫn của cái ác hiện hình qua Rôđôgin hay nhóm đồng lõa đồng mưu Gania - Tôxia - Êpansin. Trong lịch sử nhân loại, cũng đã có thời điểm trái đất ngập tràn cái ác mà vì vậy những trận đại hồng thủy xảy ra để thanh trừng tận diệt cái ác ấy, như nhiều thần thoại đã nhắc tới. Đôxtôievski cũng tin: “cái đẹp sẽ cứu thế giới”, một niềm tin nhân tính, nhân từ, nhân hậu. Vì vậy, khi đọc Chàng ngốc, độc giả buồn, nhưng không thể không nhận ra đạo lý nhân văn mà Đôxtôievski gửi gắm trong đó.

Tính chất linh cảm đặc biệt được thể hiện khá đậm nét trong Anh em nhà Karamazov. Câu chuyện khuôn lại trong phạm vi một gia đình, biểu tượng cho một xã hội thu nhỏ bởi tính chất đồng chủng nhưng dị loại, qua những biểu hiện phong phú của tính cách, của các quan hệ nhiều chiều, của những cung bậc tình cảm khác biệt. Đồng chủng ở chỗ từ Đmitri, Aliosa, Ivan cho tới Smiecđiakov đều là con của Fêđo Karamazov, nhưng dị loại bởi mẹ của họ trong mọi trường hợp đều là nạn nhân của những cơn thú tính của lão già Fêđo cả.

Các thành viên trong gia đình đó, đều nhận thức được cái chết tất yếu sẽ đến với Fêđo Karamazov, theo khuôn mẫu “người này được sống thì người kia phải chết”, một biến thức của định thức “đã sinh ra là phải chết đi”, bởi trên trái đất này không đủ chỗ cho cả hai người, theo kiểu trên trời không thể có hai mặt trời… Giáo sĩ Zôxima khi làm lễ cho Fêđo Karamazov đã linh cảm được điều đó. Ivan Karamazov, con của người vợ thứ hai, là trí thức vô thần, sùng bái phương Tây, là con người lạc hướng xa bờ, bởi vô thần đồng nghĩa với mất Chúa như quan niệm hiện sinh, vin cớ phải đi Tsecmaxnia để không phải chứng kiến, để không trở thành chứng nhân của tội ác sắp xảy ra với cha mình. Aliosa Karamazov cũng từ giã ông bố Fêđo bằng một cái hôn lên vai, một động tác giã biệt vô cùng khác thường bởi linh cảm lần cuối cùng gặp bố. Biết cái chết sẽ đến nhưng không thể ngăn cản, cũng không thể trốn chạy, dạng thức đối diện cái chết, chấp nhận cái chết kiểu này cũng có trong Vụ án của F.Kafka. Nhân vật Fêđo phải chết bởi chất con trong lão quá lớn, cái con - bản năng ấy đang làm bại hoại cả gia đình. Lão phải chết thì trật tự luân lý đạo đức mới được xác lập lại và đó là cái chết tất yếu, là cái chết được báo trước, “gieo gió gặt bão”, chứ không phải do thần bí định mệnh. Cái chết của lão Fêđo, cho dù đau đớn bởi con lão giết lão, nhưng là sự trừng phạt của lương tâm, phù hợp với cái đẹp thánh thiện trong tâm hồn con người, là phẩm chất người chứ không phải cái con bản năng mà Đôxtôievski hướng tới.

Smiecđiakov, đứa con hoang của Fêđo, báo tin cái chết của cha hắn bằng một nụ cười khác thường. Hắn thú nhận với Ivan tất cả mọi diễn biến và hoàn lại đầy đủ số tiền lấy được: “Cậu biết rằng tôi sẽ giết, cậu đã ra lệnh cho tôi phải giết và cậu đã bỏ đi… thủ phạm độc nhất chính là cậu… ”. Ivan bị kết án, bởi Ivan là người tỉnh táo, có lí trí nhất trong gia đình hỗn loạn xô bồ ấy. Cũng như trong Tội ác và trừng phạt, việc giết người có chút dây dưa đến tiền, nhưng động cơ không phải vì tiền mà vì sự hiện tồn của người này đe dọa sự hiện sinh của người khác. Mô hình: giết người - lấy tiền - đem giấu - thú tội - trả lại nguyên vẹn số tiền - đi tù (hay tự sát), trở thành kiểu kết cấu trong nhiều tác phẩm của Đôxtôievski. Cách xây dựng tính cách nhân vật vẫn dựa trên nguyên tắc nhân - quả. Hoàn cảnh ấy tất yếu nảy sinh tính cách ấy. Tính cách ấy đến lượt nó lại tác động đến hoàn cảnh, biến hoàn cảnh thành dạng tính cách được mở rộng. Các nhân vật đều sống bằng nội tâm, cô đơn, ít giao tiếp bằng lời với nhau, chủ yếu tự đối thoại với chính mình, tạo ra tính chất đa giọng, đa thanh. Bởi, khi nhân vật không thể giao tiếp với thế giới bên ngoài, khi nó chỉ còn có thể trải lòng ra với chính nó, thì nó sẽ thoải mái tự do phân tích, mổ xẻ, tranh cãi, đưa ra các giả thiết đủ loại… với chính nó, và bằng lòng với mọi cái mà nó đưa ra trong tâm tưởng. Trong nội tâm nhân vật diễn ra cuộc tranh luận triền miên dai dẳng, lúc hùng hùng hổ hổ, lúc thì thầm thẽ thọt, tạo thành phẩm chất đa thanh đa giọng hiếm có trong văn chương. Chính vì vậy, với giả thiết đa dạng mà nhân vật đưa ra, độc giả cảm thấy dường như chúng đọc được ý nghĩ, đoán trước được mọi hành động của nhau, nhưng bất động không làm gì để ngăn cản cái ác, cũng chẳng làm gì để tiếp tay cho hành động của nhân vật khác mà nó đọc được trong ý nghĩ. Vì các nhân vật của Đôxtôievski sống và hành động theo suy nghĩ bên trong, cho nên khi bước ra cuộc đời thực, các nhân vật ấy đều loạng choạng, không biết đi đâu về đâu và phải làm như thế nào trong cơn lốc thực tại vây quanh. Nhưng cho dù như vậy thì Đôxtôievski cũng đã làm lóe lên thứ ánh sáng tâm hồn thánh thiện, thiêng liêng trong cõi đời u tối, nơi con người đang phải gánh chịu tội tổ tông gây ra bởi do bản tính tò mò mà, vì thế, nó đã ăn quả cấm.

Khả năng linh cảm, trực giác mà Đôxtôievski tạo ra là chỗ dựa mà các nhà hiện sinh khai thác để biện minh cho lý thuyết của họ. Bởi khi bị đặt vào cuộc sống, bị bắt buộc phải sống tức là “bị sinh ra” ấy, con người phải tự nó hành động để chứng tỏ nó tồn tại, nó phải dũng cảm chấp nhận, đón nhận cái phi lý của cuộc đời. Nhưng kiểu nhân vật của Đôxtôievski vẫn luôn mang tính hiện thực, là kiểu sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Đặc trưng nổi bật mà nhân vật nào của ông cũng có là niềm đam mê: đam mê trong ảo giác của Rasconnikov, khi hắn run rẩy leo từng bậc cầu thang lên căn phòng mụ già cầm đồ cho vay nặng lãi…; là cú đấm vỡ toang mặt bàn của Đmitri Karamazov trong cơn giận điên người… Niềm đam mê trở thành động lực sống cho mỗi nhân vật, cho dù cuộc đời là bất công, bởi cuộc đời đang vận hành trong khúc quanh của lịch sử. Nhân vật đam mê của Đôxtôievski chấp nhận lao vào cuộc đời ấy, để tại đó chút ánh sáng thiện lương tự lóe sáng trong tâm hồn, bật ra những tiếng nói của tâm hồn, những tiếng nói thật nhất nghe được nhưng không nhìn được.

 Kiệt tác cuối đời của ông mang một tựa đề khá đặc biệt: Lũ người quỷ ám (1872). Đây là cách nhìn về thế giới nhân vật, về chính thời đại ông đang sống, là cuốn sách ông phải trả lời câu hỏi về việc có hay không tồn tại của Chúa trời. Chúa trời của Đôxtôievski là ánh sáng thiện lương, là niềm tin vào sự sống, là sức mạnh của cái người luôn chiến thắng cái con trong hành trình trở thành con người thánh thiện. Chúa trời của ông hiện ra qua câu trả lời của Satov: “Tôi tin ở nước Nga”, nghĩa là niềm tin được đặt vào sự thực đang tồn tại, đang biến hóa đổi thay trước mắt, là niềm tin vào tương lai, thức dậy trong suy tưởng của nhân vật, đồng thời cũng là của tác giả, vào thời điểm nước Nga đang chuyển mình. Chúa trời là sự sống và bản thân cuộc sống, bao gồm sự sống của thiên nhiên đất trời và con người. Một quan niệm đơn giản nhưng rất minh triết, dẫn tới qui luật về tình yêu và cuộc sống: yêu thiên nhiên cỏ cây đất trời, có nghĩa là thấy được giá trị sống trong mỗi loài mỗi vật, vì vậy, yêu nghĩa là đang sống đấy. Có như vậy mới có niềm tin vào cuộc đời như chính     Zôxima khẳng định: “Cuộc đời là toàn đẹp, nó chỉ có nghĩa trong đau khổ, ôi, cuộc đời mới đẹp làm sao!”. Không khổ không đau làm sao hiểu được thế nào là hạnh phúc, không đói không rét là sao thấm thía được cái ấm cái no… đó chính là minh triết của sự sống mang tính nhân loại. Lũ người quỷ ám bị đặt vào trạng thái phải đối mặt với chính mình, đã phải tự phân thân thành những kiểu dạng khác nhau, để người ngoài nhìn vào thấy họ như thể bị ma ám quỷ hành, để tự tìm cách thích ứng với hoàn cảnh, phải tự mình đi tìm Chúa trời của chính mình. Đó cũng là mô hình nhập thế mà các nhà hiện sinh trong thế kỷ XX, hướng tới. Vào dịp kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Puskin, “với một sự thành kính xuất thần, bằng giọng nói trầm, khàn, ông báo trước sứ mệnh thiêng liêng của sự tổng hòa giải của nước Nga”; “Số phận của ông đã được quyết định như vậy: một phút ánh sáng rực rỡ để chứng tỏ sứ mệnh đã hoàn thành, tác phẩm đã thắng lợi… ”(2).

Trong Lũ người quỷ ám, thực tại hiện ra qua cuộc đấu tranh dữ dội giữa cái con và cái người trong một con người, giữa cái hiện tồn và cái hiện sinh, giữa cái xã hội đang rữa nát của Nga hoàng và những mầm mống tư tưởng mới đang nảy sinh. Bởi Đôxtôievski là nhà văn của hiện thực tâm lý, nhà văn của những cái cảm thấy và của những cái đang âm thầm thức dậy đòi được thấy ánh sáng mặt trời, chứ không phải chỉ là cái hiện thực được nhìn thấy hay đang diễn ra. Đây chính là phẩm chất nhân loại tạo nên giá trị cho các tác phẩm của ông, tạo ra kiểu nhân vật đi tìm những giá trị mới trong khi những giá trị cũ, như chế độ Nga hoàng thì đang lung lay, sự sùng tín tôn giáo cũng đang mất đi sức thuyết phục của nó…, và mỗi nhân vật đi tìm giá trị mới theo cách của nó. Chính vì vậy, sự tổng hòa giải của nước Nga trở nên cần thiết để tạo ra một sự định hướng cho tất cả mọi người. Cuộc đấu tranh giữa cái con và cái người trong một con người được diễn tả đa dạng nhiều màu sắc nhưng rất sâu sắc xét theo từng khía cạnh, chính là những giá trị để hậu thế trăn trở suy tư về các lối đi của tiền nhân và tự xác lập con đường vươn theo ánh sáng.

Cuộc chiến giữa hai con người trong một con người, giữa con người bản năng thú tính và con người thiện lương lí trí; giữa cái giả và cái chân, giữa cái ác và cái thiện, giữa phản bội và trung thành, giữa thấp hèn và cao cả, giữa bất tín và tín nghĩa,… ở bình diện hay cấp độ nào đều tùy thuộc mỗi tài năng sáng tạo của mỗi dân tộc. Bởi đề tài về cuộc chiến giữa cái con và cái người là đề tài mang tính nhân loại, mà vì vậy, các nhà hiện sinh coi Đôxtôievski như một cội nguồn, thì cũng là điều dễ hiểu. Bản thân ông cũng là biểu hiện của hai con người trong một con người. Ông là hiện thân của khát vọng vươn lên, cho dù tấn bi kịch làm người không buông tha ông: nghèo túng, khổ đau, bệnh tật, thiếu thốn đủ điều, nợ nần đủ kiểu, ông phải lang thang khắp nẻo nơi trời Âu, nước Nga quên đi đứa con của nó… nhưng tất cả mọi khó khăn vật chất, bệnh tật triền miên đều phải đầu hàng trước ông. Trong khổ đau như vậy, ông đã để lại cho đời những trang văn bất hủ, tạo ra hình ảnh một nước Nga cho thế giới ngưỡng mộ, tạo ra những tấm gương đạo đức cho muôn đời soi chiếu, tạo ra bài ca ca tụng con người bất khuất trong cuộc chiến với chính bản thân nó, cuộc chiến để khẳng định tính người trong con người, khẳng định giá trị người - giá trị nhân tính, chất liệu cần thiết để loài người tạo dựng tương lai của nó. Hai trăm năm đã trôi qua, nhưng những gì mà ông để lại vẫn còn gợi lên những giá trị mới, khẳng định giá trị của tác phẩm chính là bài học nhân sinh mà tác phẩm ấy mang lại cho các đời sau.

Chú thích

  1. Stefan Zweig, Ba bậc thầy: Đôxtôievski, Balzăc, Đickenx, Nguyễn Dương Khư dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, trang 29.
  2. Stefan Zweig, sách đã dẫn, trang 29.
KHXHNV & Đời sống khác:
Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên (4/12/2021)
Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021: Kỳ vọng những quyết sách quan trọng về phát triển văn hóa (4/12/2021)
Chính sách dưỡng dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh (4/12/2021)
Nhóm mặt hàng triển vọng của Nghệ An đề xuất sang EU (4/12/2021)
Nam Đàn - Định vị thế mạnh để phát triển kinh tế di sản (4/12/2021)
Quế Phong phát huy giá trị tri thức địa phương thông qua sản phẩm Khoa học và Công nghệ (4/12/2021)
Việt Nam Quang phục quân phương lược - Một văn kiện sáng giá trong Lịch sử tư tưởng Quân sự Việt Nam (4/12/2021)
Văn học đô thị Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX (4/11/2021)
60 năm huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021): Thiên anh hùng ca trên sóng dữ (4/11/2021)
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đến làng Hậu Luật, Diễn Châu (4/11/2021)
Văn hóa ẩm thực và những món đặc sản của xứ Nghệ (3/11/2021)
Vài nét về gia phong xứ Nghệ (3/11/2021)
Khí phách chí sĩ Phan Bội Châu (3/11/2021)
Hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với Phật giáo (27/10/2021)
Ba chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Cuba Fidel Castro (14/10/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
Thơ chọn và sự tinh tế của người chọn thơ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 3,215 | Tất cả: 3,548,604
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Đặc san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp