ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Bàn về tính gàn của nhà Nho xứ Nghệ
Tin đăng ngày: 14/7/2021 - Xem: 78
 

Bàn về tính gàn của nhà Nho xứ Nghệ

 Phan Bá Hàm - Nguyễn Tâm Cẩn

 (Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An)

 Nhà Nho xứ Nghệ mà đặc biệt là các ông Đồ ngày xưa khá nổi tiếng trong lịch sử và văn chương về nhiều phương diện trong đó phải kể đến tính gàn, một trong những đức tính đặc trưng đã để lại nhiều hệ lụy.

 Theo Từ điển Tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê (Nhà xuất bản (NXB) Đà Nẵng -2005) thì gàn có nghĩa là người có những suy nghĩ hành động rõ ràng trái với lẽ thường mà ai bảo cũng không nghe. Còn Từ điển Từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân (NXB TP Hồ Chí Minh - 2000) cũng cho rằng gàn nói người có những ý nghĩ và hành động trái với lẽ thường. Chúng tôi cho rằng cách diễn đạt của các tác giả từ điển có thể chưa đầy đủ. Tính gàn còn biểu hiện ở chỗ nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách cứng nhắc, máy móc, thiếu linh hoạt. Gàn có hai mặt, bên cạnh mặt dở như nêu trên còn có mặt hay là dù biết mình có những suy nghĩ và hành động trái với lẽ thường nhưng nếu việc làm đó thể hiện bản lĩnh, khẳng định sự độc đáo, tính cương trực của mình thì không ngại, vẫn cứ tiến hành làm.

 Khi viết về con người xứ Nghệ, quê hương mình, bên cạnh những mặt tốt nhà văn Đặng Thái Mai cho rằng: “ … Can đảm đến mức sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan và tằn tiện đến cá gỗ” (Tuyển tập Đặng Thái Mai tập 2 - NXB Văn học -1984). Như vậy theo GS một đức tính khi phát huy đến quá ngưỡng bình thường thì dẫn đến khuyết điểm. Nhà Nho xứ Nghệ cũng vậy, do khẳng định bản lĩnh của mình đến quá mức bình thường nên dẫn đến tính gàn.

 Sau đây xin nêu một số câu chuyện minh chứng.

  1. Tể tướng Nguyễn Văn Giai (1555 - 1628) quê ở làng Phù Lưu Trường, huyện Thiên Lộc nay là xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là người đặc biệt thông minh ngay từ nhỏ. Năm 1579 triều Lê Thế Tông, nhà Lê mở khoa thi ở Thanh Hóa ông ghi tên dự thi và đỗ Giải nguyên. Hai năm sau vào thi Đình đỗ Đình nguyên Hoàng giáp. Năm 1617 được phong Thiếu phó và năm sau được giao quyền cai quản cả lục bộ. Ông là người cương trực, khí tiết luôn giữ đúng những quy định ở chốn quan trường. Thời kỳ ông nắm giữ công việc Tể tướng, uy nghiêm khét tiếng, các bậc thân quý của vua chúa không ai dám làm càn. Một vị Quận mã, con rể của chúa đi đánh trận thua chạy về, ông bắt bỏ ngục rồi xử vào tội chết. Chúa muốn tha nhưng rất khó nói, cầu đến dụ chỉ của nhà Vua, cũng vẫn không lay chuyển được ý định của ông.

 Bấy giờ ông có nhiều vợ và đang ở với bà vợ cả là người được ông yêu quý. Bà Quận chúa vợ Quận mã bèn đem châu ngọc, nhờ người thân đưa đến thăm bà vợ cả của ông và kể lại sự việc Quận mã bị khép tội chết. Nhưng bà đã từ chối nói rằng:

- Tướng công nhà tôi là người thanh liêm, ngay thẳng. Việc lớn của Triều đình tôi đâu dám can dự.

 Quận chúa cố nài mãi, rất thảm thiết, một lúc sau bà vợ cả mới nói:

- Nếu vậy sáng mai, Quận chúa hãy cho đem một con lợn nhỏ luộc chín, một mâm xôi thổi nếp cái, và kèm cả tương dấm dao thái nữa, lựa lúc tướng công tôi đi vắng đưa vào.

 Quận chúa mừng rỡ cảm ơn ra về. Sáng hôm sau, sắp sửa vào triều, ông bảo dọn cơm sáng để ăn. Bà vợ nói:

- Trong triều bây giờ các quan đã đến đầy đủ rồi. Tướng công hãy vào rồi về ăn cơm sau cũng được.

 Ông bèn lên kiệu đi luôn. Lúc ở trong triều về thì bụng đã đói ngấu, thấy cái lồng bàn đang đậy, mở ra, sẵn con dao ông cắt ngay thịt lợn ăn lẫn với xôi, chỉ một lúc là hết cả. Ăn xong ông mới hỏi:

- Những thứ ấy ở đâu ra mà có được thế bà?

 Bà vợ cả kể lại duyên do. Ông rất bực tức, một hồi lâu mới nói:

- Ta lầm lỗi rồi! Ta lầm lỗi rồi! Nhưng vì một bữa ăn mà làm sống một mạng người, chẳng cũng bởi số trời hay sao?

 Nói rồi ông lên xe vào phủ xin tha cho người có tội. Chúa mừng rỡ cho người thi hành ngay. Tuy nhiên sau đó trở về nhà, ông đã nói với bà vợ cả:

- Ta đã trót ăn của người thì buộc phải giúp người. Nhưng theo lẽ công bằng thì việc người nên thì việc mình phải hư.

 Và cũng ngay hôm đó, ông tuyên bố từ bỏ chức Chánh thất của bà vợ cả đồng thời phế truất địa vị con trai trưởng của Nguyễn Trực Đạo do bà sinh ra.

 Quyết định này về sau đã dẫn tới việc người con trai trưởng của ông đang làm Tri phủ Diễn Châu đã bí mật treo ấn từ quan đưa mẹ mình đến vùng Trang Tháp (nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành) cùng vợ khai khẩn đất hoang cày cấy nuôi mẹ già và con cái sống cuộc đời ẩn dật. Về sau phát triển thành dòng họ Nguyễn Văn ở đây.

  1. Giải nguyên Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) là ngưới ở làng Uy Viễn nay thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi hay thơ văn, tính cách phóng khoáng. Ông đỗ Giải nguyên năm 1819 đời vua Gia Long, làm quan dưới các triều vua: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức chức vụ đến Thượng thư Bộ Binh . Ông là người hành động, cuộc đời làm quan của ông đã trải qua những thăng trầm trong sự nghiệp. Mặt khác Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào nhưng cũng nổi tiếng cả về tính cương trực, gàn và cả ngất ngưởng, ngông nghênh nữa. Cuộc đời ông còn để lại nhiều giai thoại trên lĩnh vực này. Ở đây chỉ xin nêu vài chuyện.

 Một lần có việc đi xa, trời rét, chàng học trò Nguyễn Công Trứ ghé vào quán nước bên đường nghỉ chân, rồi rúc vào ổ rơm trong quán ngủ nhờ. Một lát sau, Tả quân Lê Văn Duyệt dẫn một đạo quân đi ngang qua cũng ghé vào quán. Những người trong quán thấy quan quân rầm rập thì sợ hãi nép tận vào các góc xa, riêng Nguyễn Công Trứ vẫn đắp chiếu nằm trên ổ rơm ngủ khì không hề hay biết. Viên quản cơ thấy vậy nạt nộ om sòm, hất chiếu đánh thức kẻ vô lễ dậy. Chàng thư sinh điềm nhiên, chậm rãi ngồi lên, không tỏ vẻ gì là sợ hãi . Thấy vậy, Tả quân Lê Văn Duyệt lấy làm lạ, hỏi:

- Ngươi là ai, mà thấy đạo quân của ta đến vẫn cứ nằm lì, không đứng dậy chào hỏi ? Ngươi không sợ ta trách phạt hay sao?

Chàng học trò khôn khéo đáp lời quan:

- Bẩm quan lớn, tiểu sinh vốn biết đạo quân của ngài là đạo quân nhân nghĩa, chẳng vô cớ làm hại ai, nên không việc gì phải sợ. Vả lại, tiểu sinh là học trò, đi đường xa mệt, gặp trời mưa lạnh lại có ổ rơm ấm nên trót ngủ quên mất ạ.

Thấy Nguyễn Công Trứ quả có dáng vẻ nho nhã, Tả quân liền bảo:

- Nếu ngươi đúng là học trò thì hãy làm vài câu thơ vịnh cảnh nằm ổ rơm đắp chiếu như vừa rồi, nếu hay ta sẽ tha, bằng không sẽ chịu phạt đó.

Cậu Trứ dường như chỉ đợi có thế, ứng khẩu đọc ngay:

Ba vạn anh hùng đè xuống dưới

Chín lần thiên tử đội lên trên.

Tả quân Lê Văn Duyệt nghe xong, giật mình khen hay, hỏi tên tuổi, thưởng cho Trứ một quan tiền rồi thả cho đi.

 Trong xã hội Phong kiến có ai dám cả gan đùa với quan như vậy. Thế mà Nguyễn Công Trứ mang tính gàn, vẫn mạnh dạn làm và kết quả thật bất ngờ lại được quan khen và thưởng tiền.

 Lần khác khi Cụ đã về nghỉ hưu ở quê nhà: một viên quan trẻ tuổi và hách dịch được bổ về làm Tri huyện Nghi Xuân. Vừa tới huyện lị được mấy ngày, tân quan đã quyết định đi hành hạt, sức cho dân hàng huyện biết để mà nghênh tiếp.Nghe dân tình bàn tán thấy chướng tai, Cụ Trứ bèn vai vác cuốc tay dắt bò đến cho ăn cỏ trên con đường mà quan huyện sắp đi qua. Khi đoàn xe ngựa sắp đi đến, một tên lính lệ đi trước dẹp đường, lớn tiếng yêu cầu mọi người tránh ra để quan lớn đi.

 Cụ Trứ giả vờ không nghe, cứ chăm chỉ cuốc, rồi lại ngồi xuống đường cái nhặt cỏ. Đám lính khiêng võng quan đến tận nơi mà Cụ vẫn lom khom làm việc. Quan tức mình nhảy xuống võng, lớn tiếng quát:

- Lão già nhà quê vô lễ! Không nghe gì à ?

Rồi giựt phắt cái cuốc trong tay cụ Trứ, ném xuống sông Lam và truyền bắt ông già phải thay một người lính võng quan đi, còn con bò thì cho dắt đi theo.

Cụ Trứ lẳng lặng ghé vai khiêng võng đi trước, còn quan huyện nằm trên võng ra dáng hả hê. Vừa đi được mấy chục thước thì gặp một anh đồ Nho người cùng huyện Nghi Xuân. Trông thấy Cụ Trứ, anh đồ hốt hoảng chạy tới chắp tay chào hỏi:

- Bẩm, lạy Cụ lớn! Sao Cụ lớn lại phải khiêng võng như thế ạ?

Cụ Trứ chưa kịp trả lời, viên quan huyện đã giật mình, nhảy xuống đất, lắp bắp hỏi:

- Cụ già nầy là ai?

- Trình quan, đây là cụ Binh bộ Thượng thư trí sĩ, một bậc hưu quan có danh vọng, uy tín và phẩm tước lớn nhất trong tỉnh Hà Tĩnh ạ!

Bấy giờ quan huyện mới hốt hoảng, run lẩy bẩy chắp hai tay lạy Cụ như tế sao:

- Bẩm lạy cụ lớn! Vì con mới đến nhậm chức ở quý huyện, chưa có dịp yết kiến nên chưa được biết Cụ lớn. Nay con trót đã phạm tội lỗi , trăm lạy Cụ lớn mở lượng khoan hồng. Xin Cụ lớn tha tội cho con.

- Tôi bắt tội, bắt tình quan huyện làm chi? Quan huyện bắt tôi khiêng quan từ đâu đến đây, thì bây giờ quan phải khiêng tôi từ đây tới đó, thế là công bằng. Còn cái cuốc của tôi, quan quăng đi, thì quan phải mò tìm mà trả lại cho tôi.

- Con xin khiêng Cụ lớn tới nơi cũ. Còn cái cuốc, con trót quăng xuống sông Cái không thể lặn xuống tìm được, con xin mua cái mới tốt hơn đền cho Cụ lớn ạ.

- Không được! Đã nhiều năm nay, với cái cuốc vừa tầm tay ấy, tôi đã cuốc cỏ cho bò ăn và cuốc rau má cho tôi cùng người nhà tôi ăn, tình nghĩa giữa tôi và cái cuốc sâu đậm biết chừng nào! Người ta ở đời, có gì đáng quý bằng tình nghĩa hay không? Nay quan ỷ thế nhiều tiền nhiều bạc, vứt cuốc tôi xuống sông, để rồi mua cái khác đền lại. Tiền bạc thì quan có thể bồi thường được, còn tình nghĩa giữa tôi và cái cuốc thì có thể lấy tiền bạc mà bồi thường được không?

- Bẩm lạy Cụ lớn! Con lỡ làm một việc tội lỗi đối với Cụ , con hối hận lắm. Rất mong Cụ lớn thương hại, coi con như đứa con út của Cụ ạ.

- Đành rằng quan không biết tôi là ai, nhưng quan vẫn thấy tôi là người già nua, tóc bạc cả đầu. Cái chức quan của tôi, quan có biết hay không, không cần. Nhưng cái đầu bạc trắng của một người gần tám mươi tuổi, thì mọi người đều trông thấy cả. Đối với tôi mà quan còn hách dịch đến thế, thử hỏi đối với những người dân đen thấp cổ bé họng thì còn khổ sở đến độ nào? Nay để quan và mọi người đều nhớ mà bỏ cái thói ức hiếp dân lành, tôi sẽ trình báo lên quan tỉnh và chuyển trình về bộ Lại và triều đình xét xử.

 Nghe nói, quan huyện càng tái mặt, ấp úng nói không nên lời. Cụ Trứ nói tiếp:

- Bây giờ quan hãy khiêng tôi trở lại nơi tôi đang cuốc cỏ khi nãy.

 Quan huyện cúc cung ghé vai võng Cụ Thượng đi trở lại nơi cũ, trước những con mắt hiếu kì của nhân dân địa phương. Tới nơi, Cụ bảo dừng võng lại, thung dung bước xuống đất, nhìn con bò bị đói cỏ, rồi nói:

- Quan huyện đã làm xong một việc rồi, bây giờ còn một việc nữa là tìm cái cuốc của tôi- đoạn Cụ lấy tay chỉ xuống sông Lam.

 Quan huyện chắp hai tay vái dài, khóc nức nở như trẻ con… Bấy giờ, cụ Thượng Trứ mới nghiêm nghị nói:

- Thôi được, tôi tha cho ông một lần!

 Giá trị của cái cuốc không đáng là bao nhưng là người cương trực, rất ghét thói hoạnh họe, ức hiếp dân lành của nhiều quan lại thời đó, cụ Trứ muốn răn dạy cho họ những bài học cơ bản về tình người, về lẽ sống mà đáng ra ai cũng phải biết.

  1. 3. Thám hoa Phan Thúc Trực (1808 - 1852) lúc còn trẻ mang tên Phan Dưỡng Hạo ở thôn Phú Ninh, tổng Vân Tụ nay thuộc xã Khánh Thành, huyện Yên Thành. Với trí tuệ thông minh cộng thêm ý chí nghị lực, kiên trì thi cử, đến khoa thi Hội năm Đinh Mùi (1847) đỗ tiến sĩ và cùng năm đó vào dự thi Đình đã đỗ Thám hoa. Sau khi vinh quy bái tổ, ông được bổ làm Hàn lâm viện trước tác. Rồi được thăng Y viện thị giảng hàm tụng ngũ phẩm và sung chức Kinh diên Khởi cư chú, một chức quan luôn được gần gũi bên cạnh nhà vua. Trong những năm làm việc tại cung đình thuộc Toà Nội các do tính cương trực, gàn …nên đã nhiều lần gây ra những chuyện phiền toái.

 Hôm đó nhân ngày giỗ mẹ vua Tự Đức (1848.- 1883) là bà Phạm Thị Hằng (tức bà Hoàng Thái hậu Từ Dụ) các quan trong triều đến dự rất đông. Ngoài các lễ vật phong phú, nhiều người còn mang theo câu đối hoặc bức hoành phi đến treo trong phòng, trong đó có câu chữ to treo ở hai bên bàn thờ.

 Thám hoa Phan Thúc Trực cũng đến dự, ông đọc một lượt gần khắp phòng thấy nhiều câu hay và nhà vua rất phấn khởi. Nhưng rồi đọc đến câu chữ to treo hai bên bàn thờ, ông không dự nổi bình tĩnh đến bên bàn thờ lột đôi câu đối và xé toang thành bốn mảnh trước mặt mọi người. Nhà vua rất giận nhưng vẫn cố giữ sự bình tĩnh chỉ tay về phía Thám hoa:

 - Tại sao nhà ngươi xé bỏ câu đối này?

 Họ Phan cũng bình thản quỳ xuống tâu rằng:

 - Bẩm bệ hạ, nếu đúng như nội dung đôi câu đối thì xã tắc sẽ lâm nguy và gia phong bị đảo lộn. Bệ hạ nhớ lại xem:

Thần khả báo quân ân

 Tử năng thừa phụ nghiệp

Như thế là dân để trên vua, con để trên cha mẹ còn gì là kỷ cương phép nước và cương thường đạo lý nữa.

 Tự Đức thấy Thám hoa nói có lý nhưng vẫn giữ giọng cứng rắn:

 - Bây giờ vẫn chừng ấy chữ không được thêm bớt chữ nào, ngươi hãy làm lại câu đối mới cho ta xem. Nếu không làm được sẽ chịu tội nghịch mạng.

 Phan Thúc Trực vẫn bình tĩnh quỳ xuống tâu:

 - Bẩm bệ hạ, thần xin sửa lại là:

Quân ân thần khả báo

 Phụ nghiệp tử năng thừa.

Nghĩa là: Ơn vua kẻ hạ thần phải báo đáp

 Con phải kế thừa sự nghiệp của cha mẹ.

 Nhà vua thấy họ Phan đã sửa lại hợp lý hơn nên đã bỏ qua và ra lệnh cho Thám hoa đứng dậy trở lại vị trí. Thật là một hành động dũng cảm nhưng cũng đã gây ra không khí căng thẳng không cần thiết làm buổi lễ mất vui.

 Tự Đức là một ông vua hay chữ, giỏi thơ văn. Ngoài việc triều chính ông thường dành thời gian gặp gỡ các quần thần để xướng họa, luận đàm thơ phú. Có lần trong một bữa tiệc nhà vua đang ăn không may răng cắn phải lưỡi đau điếng. Tư Đức ôm miệng vừa xuýt xoa kêu đau vừa nói với những người dự tiệc rằng:

- Trẫm ăn không may răng cắn phải lưỡi. Vậy các khanh người nào có thể đọc một bài thơ hay câu đối giúp trẫm quên cái đau này được không ?

 Mọi người chưa ai kịp nghĩ ra thì Thám hoa Phan Thúc Trực quỳ xuống tâu xin được hầu vua bài thơ mình vừa nghĩ ra. Được Nhà vua gật đầu cho phép, họ Phan cao giọng đọc bài thơ với tiêu đề: XỈ GIẢO THIỆT

 Sinh ngã chi sư nhữ vị sinh

 Nhữ sinh vi hậu ngã vi huynh

 Kỷ niên cộng hưởng tràn cam vị

 Hà nhẫn tương thương cốt nhục tình.

Nghĩa là:

 Vốn khi sinh ra ta (cái lưỡi) thì mày (cái răng) chưa ra đời

 Vì mày sinh ra sau nên phải gọi ta bằng anh

 Bao năm nay ta cùng mày chung hưởng ngọt bùi cay đắng

 Nỡ nào bây giờ mày lại cắn ta.

 Các vị quần thần cười vui tán thưởng. Tự Đức mặt biến sắc nhưng cũng nuốt giận làm vui và khen thơ hay.

 Tại sao nghe thơ Tự Đức lại giận? Số là sau khi vua Thiệu Trị băng hà đã để lại di chiếu chọn Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức) con trai thứ hai kế vị mà không chọn Nguyễn Phúc Hồng Bảo (con trưởng) làm người kế vị ngôi vua (Hồng Bảo là người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành). Uất ức trước việc đó, Hồng Bảo đã tập hợp lực lượng chống lại Tự Đức và bị sát hại. Bởi thế khi nghe bài Xỉ giảo thiệt (Răng cắn lưỡi) nhà vua cho rằng Phan Thúc Trực hàm ý chê bai mình nên ấm ức lắm. Nhưng vì Phan là một vị Thám hoa nổi tiếng lại đang là trước mặt các đại thần nên đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Rất có thể đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Tự Đức không muốn Thám hoa ở gần mình nên đã cử ông đi ra các tỉnh phía Bắc làm nhiệm vụ”cầu di thư” trong những năm tiếp theo.

  1. Hoàng giáp Đặng Văn Thụy (1858 - 1936) là người ở làng Nho Lâm, nay thuộc xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu. Ông không phải là dòng dõi thi thư, ông nội là thợ rèn, cha là một ông đồ nghèo, đỗ tú tài từ thuở còn hàn vi, may sao ông Thụy lại lọt vào “mắt xanh” của vị quan Cao Xuân Dục và được cụ nuôi cho ăn học, rồi gả ái nữ cho. Khoa thi Hội năm 1904 ông đỗ Hoàng giáp, được cử về triều giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám, sau thăng lên Tế Tửu. Về sau vì chán cảnh quan trường, ông xin về hưu và mở trường dạy học, nhân dân thường gọi là cụ Hoàng Nho Lâm. Nhiều giai thoại dân gian nói lên ông là người đức độ nhưng nghiêm khắc, cương trực và hóm hỉnh.

 Hoàng giáp họ Đặng thường ăn khoai cả vỏ. Có lần cụ bà nói:

- Ông tiếc gì chút vỏ khoai không bóc đi mà ăn cho ngon.

- Ăn khoai mà bóc vỏ thì đâu phải là Hoàng giáp ăn khoai.

(Chữ Hán: Hoàng giáp là áo giáp vàng).

 Ở đây rõ ràng cụ Đặng đã làm một việc khác người nhưng không đúng vì ăn khoai cả vỏ thì mất vệ sinh và vỏ khoai cũng không có chất bổ gì, dù cụ bà đã nhắc nhở nhưng ông vẫn không nghe mà còn lấy làm tự hào qua câu trả lời.

 Hoàng giáp Đặng Văn Thụy được tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng khen:

 Thanh trường vạn quyển ủng tha nga

Nghĩa là: trong bụng có hàng vạn cuốn sách thật là lớn lao.

Học trò cụ suy tôn là: Tứ hải uyên nguyên (cái nguồn uyên thâm của bốn bể).

 Vậy mà khi làm lễ mừng thọ tuổi 70 cụ lại yêu cầu: ai có lời mừng thì nên phê bình góp ý kiến những sai lầm để phúng gián, giáo dục còn những lời tâng bốc thì xin đừng…. Rồi quả đúng như thế: có một câu đối phê bình rất nặng, con cháu xin cất đi nhưng cụ lại bảo là cứ đem ra dán ngoài rạp, vì miệng thế gian ai mà bịt được, thà để cho người ta đọc, suy nghĩ thế nào là do thiên hạ. Về sau có người bình luận: Cụ Hoàng quả là người quân tử. Cũng trong thời gian này tú tài Phan Xuân Phát ở làng Tràng Thành nay thuộc xã Hoa Thành huyện Yên Thành đem đến mừng một bài thơ dài 41 câu khuyên cụ bỏ nghề làm thầy địa lý vì: Địa bàn là cối xay xôi trong đó có những câu khá nặng:

 …. Bây giờ cụ đã giàu sang

 Nghề riêng xin để cho phường lão nho

 Đừng giữ lấy bo bo thế mãi

 Mất lòng người mà lại bất nhân….

 Đọc xong cụ Đặng chẳng những không giận mà còn vui vẻ cho gióng trống hát ca trù ngay. Cụ còn gọi tác giả đến nói lời cảm ơn và thưởng một quan tiền đồng.

  1. Ông Hoàng Công Thoan (1885 - 1948) ở làng Kẻ Rộc, xã Kim Thành tổng Quan Hóa, nay thuộc xã Bắc Thành, huyện Yên Thành là cháu ngoại của Phó bảng Lê Doãn Nhã ở làng Tràng Sơn. Ông đậu tú tài vào khoa thi cuối cùng của nền khoa cử Nho học năm Kỷ Mùi (1919). Trước cách mạng có nhiều năm ông làm chánh tổng Quan Hóa.

 Ông Tú Thoan là người viết chữ Hán đẹp nổi tiếng trong huyện, hiểu biết rộng và cũng hay giúp đỡ người dân trong vùng, thành thử hàng ngày nhiều người vẫn tìm đến nhà ông để nhờ cậy và hỏi han việc này, việc nọ. Một lần ông cùng hai người bạn đang dạo chơi trên đường thì có một người phụ nữ lạ, xinh đẹp, ăn mặc sang trọng thể hiện là người có học, đến trước mặt ba người hỏi:

 - Xin hỏi các ông vào nhà ông Tú Thoan đi đường nào ạ ?

 Ông Tú quay lại chỉ dẫn chi tiết cho người lạ rồi quay lại tiếp tục vừa đi vừa nói chuyện với hai người bạn . Người lạ mặt tìm đến nhà, người nhà ra mở cổng:

- Ông Tú có ở nhà không ạ ?

- Ông đang đi chơi với hai người bạn chắc cũng sắp về.

 Người lạ mặt kéo ghế ra ngồi đợi,một lát thấy ba ông cùng trở về. Bà đứng dậy và nhận ra ba ông mình mới gặp ở ngoài đường. Rồi đến trước mặt ông Tú bà nói:

- Tôi đã gặp ông ở ngoài kia.

- Vâng.

- Sao ông không nói cho tôi biết ông là ông Tú?

- Vì bà không hỏi ông Tú mà hỏi đường vào nhà ông Tú.Tôi trả lời đúng câu hỏi của bà.

 Người phụ nữ nghe câu trả lời bật cười, thấy mình đuối lý, đành nhận lỗi về mình.

Như vậy cũng là nhà Nho, thầy đồ cả nhưng người ta không nói: đồ Thanh, đồ Hà, đồ Quảng… mà chỉ nghe nói: Nhà nho xứ Nghệ, đồ Nghệ.

Phải chăng cũng vì tính cách độc đáo của các ông đồ này.  Ngày nay lớp tri thức xứ Nghệ không ít người vẫn mang dáng dấp của các ông Đồ ngày xưa nhưng chỉ nên tiếp thu phần tích cực của ông cha, loại bỏ phần tiêu cực. Và nhà trường xã hội chủ nghĩa, cuộc sống đã rèn luyện đào tạo họ thành những tri thức yêu nước gắn bó với quê hương, với nhân dân góp phần làm nên những thành tựu văn hóa, khoa học và công nghệ làm vẻ vang cho đất nước.

 

Tài liệu tham khảo:

- Hoàng giáp Đặng Văn Thụy – Nguyễn Nghĩa Nguyên, NXB Nghệ An – 2000

- Xứ Nghệ và tôi - Ninh Viết Giao, NXB Nghệ An 2008

- 280 giai thoại về con người và vùng đất Yên Thành – Nguyễn Tâm Cẩn, Phan Bá Hàm, NXB Đại học Vinh - 2020.

- 36 giai thoại về Nguyễn Công Trứ của Huyền Li.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Noi gương Tổng Bí thư Hà Huy Tập - để tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh (15/7/2021)
Bàn về tính gàn của nhà Nho xứ Nghệ (14/7/2021)
Tiến sĩ Hồ Sỹ Đống giao lưu với sứ thần Triều Tiên (13/7/2021)
Chuyện về người Tam Lễ hay nói trạng? (2/7/2021)
Vua Lê Trang Tông và truyền thuyết Đình Long Thái (1/7/2021)
Danh thần Đoàn Nhữ Hài (1/7/2021)
Một dòng họ có truyền thống yêu nước trên vùng đất Hồng Lĩnh (1/7/2021)
Tri thức bản địa về nghề thủ công truyền thống dân tộc Thổ miền Tây Nghệ An (30/6/2021)
Đền Bà Chúa Chè Hạnh Lâm - Sự tích - Sắc phong và Văn bia có những điều dị biệt? (4/5/2021)
Vị thế địa - chiến lược của Nghệ An trong sự nghiệp giữ nước thời phong kiến (4/5/2021)
Di sản tư tưởng Phan Châu Trinh và bài học của chúng ta (Từ tác phẩm “Đạo đức và luân lý Đông - Tây”) (4/5/2021)
Những đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc (28/4/2021)
Du lịch Cửa Lò hướng đến “An toàn - thân thiện - mến khách” (15/4/2021)
Tình bạn “Chung Kỳ, Bá Nha” của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu (9/4/2021)
Một số trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Thái tại lễ hội Bươn Xao Tiên Kỳ (9/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,786 | Tất cả: 3,198,067
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp