ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Tiến sĩ Hồ Sỹ Đống giao lưu với sứ thần Triều Tiên
Tin đăng ngày: 13/7/2021 - Xem: 67
 

          Phan Xuân Thành

Trong bốn nghìn năm văn hiến, có nhiều nhà khoa bảng, các tiến sỹ, quan chức cao cấp được cử đi sứ sang Trung Quốc. Trong đó phải kể đến ông Hồ Sỹ Đống người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu. Không những đi sứ giao lưu với học giả Bắc Kinh mà ông còn trao đổi với sứ thần Triều Tiên, làm rạng danh cho non sông đất nước.

Upload

Đường về làng Quỳnh Đôi - quê hương của Tiến sĩ Hồ Sỹ Đống

Hồ Sỹ Đống sinh ngày 05/7/1739 trong một gia đình có nề nếp gia phong. Năm 24 tuổi ông đậu Hương Cống, "34 tuổi đậu Hội nguyên và Đình nguyên (song nguyên), đệ nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng Giáp), khoa Nhâm Thìn đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772). Ông làm quan bộ hộ tả thị lang, quyền phủ sự, đô ngự sử kiêm bình bộ thượng thư, tước ban quận công" (1).

Ông Hồ Sỹ Đống, được cử làm phó sứ sang nhà Thanh. Bấy giờ Trịnh Sâm chuyên quyền làm nhiều việc trái phép. Vốn là người cẩn trọng, ngay thẳng, Hồ Sỹ Đống rất bất bình. Trước ngày đoàn sứ bộ lên đường, Trịnh Sâm viết một tờ mật biểu giao cho chánh sứ là Võ Trần Thiệu lén tâu lên vua nhà Thanh xin cho mình được làm An Nam quốc vương. Biết được tính Hồ Sỹ Đống, Trịnh Sâm dấu không cho ông biết.

Nào ngờ dọc đường Vũ Trần Thiệu bị ốm nặng, sứ bộ dừng lại bên hồ Động Đình. Khi sắp qua đời Thiệu gọi ông lại trao cho tờ mật chiếu và khuyên ông nên hết lòng vì Chúa sẽ được biệt đãi. Ông giận bảo: Tôi tưởng chúa đã thừa quyền vị rồi, nào ngờ nay chúa vẫn cầu cạnh người Thanh, mong dựa vào kẻ khác để được phú quý thêm. Đó là điều ám muội, tôi không thể nghe theo. Vũ Trần Thiệu nằm im, Thiệu chết rồi ông liền đem tờ mật chiếu đốt đi. Hồ Sỹ Đống làm bài thơ sau:

          "Mấy độ hoàng hoa sứ nước ngoài

          Tuổi cao đức tốt ấy kia ai?

          Bang giao những tưởng ngọc ngà đẹp

          Tiên cốt nào hay gió bụi đầy.

          Giọt lệ đồng châu đưa một lễ

          Tấm thân tuổi tác tiếng muôn đời

          Trăng thu mơ tưởng trên hồ nọ

          Thấp thoáng đầu nhà bóng lẫn soi" (2)

          Lúc trở về Hồ Sỹ Đống giả vờ như không biết chuyện gì, còn Trịnh Sâm cũng không nói đến tờ mật chiếu ấy nữa.

Năm Tân Sửu 1781, ông được cử làm chánh chủ khảo khoa thi Hội. Năm ấy em ông là Hồ Sỹ Thích cũng đi thi. Trong kỳ thi sơ khảo, phúc khảo, các quan trường người thì nể sợ, người mặc dầu bài của ông Hồ Sỹ Thích chưa được hay, làm họ vừa nể phải phê "ưu". Hồ Sỹ Đống biết chuyện ấy bảo: Nhà nước đặt ra khoa cử, cốt chọn nhân tài, không dễ làm riêng cho ai cả. Ông đòi đọc cả hai quyển của ông em, vạch ra những chỗ yếu kém rồi phê "thứ". Sau đợt ấy ông nói với ông Hồ Sỹ Thích: "Bài chú các quan giám khảo lấy vào loại Nhất, nhưng anh thấy văn chưa chín. Anh làm chánh chủ khảo mà lấy em đậu cao, thiên hạ dị nghị. Chú cần luyện tập thêm. Nếu có thực tài, khoa này không đậu, khoa sau sẽ đậu" (3). Việc làm này các quan trường vừa sợ, vừa nể phục ông.

Năm 1783, ông giữ chức Tham đốc, quyền phủ sự ngang với Thượng thư, Tham tụng, tước Dao đình hầu. Cùng năm đó kinh thành Thăng Long xảy ra nạn kiêu binh, ông đã khéo léo dùng mưu trí dẹp yên, cứu được triều đình Lê - Trịnh và kinh đô Thăng Long thoát khỏi cơn khủng hoảng lớn. Tính ông ngay thẳng không vì việc riêng mà nâng đỡ ai, lại không để sắc đẹp, tiền tài cám dỗ. Làm quan mà không có của dư, lúc gần chết cũng chỉ bàn việc nước, mà không dặn dò việc nhà. Đương thời dư luận cũng đặt ra nhiều câu chuyện cho rằng ông có thể thông cảm với thần linh. Điều đó ông có uy tín lớn.

Hồ Sỹ Đống là người có tài văn chương. Tác phẩm của ông theo bài "tựa" do ông viết ra cuối năm Kỷ Hợi 1779, thì trong khi đi sứ làm nhiều thơ ngâm vịnh ở dọc đường, tập hợp hơn 100 bài, được đặt tên là "Hoa trình khiển hứng". Năm 1778, có cuộc gặp gỡ giữa sứ thần Hồ Sỹ Đống với sứ thần Lý Quang, Trịnh Vũ Thuần và Doãn Phường của quốc gia Triều Tiên. Hồ Sỹ Đống từng giữ chức quan Tả thị lang bộ hộ, quyền phủ sự, đồng tham tụng, tước kinh dương hầu.

Sáng tác của Hồ Sỹ Đống còn lại hầu hết là thơ đi sứ. Hàng trăm bài thơ, bài tấu khải đều viết bằng chữ Hán. Đề tài thường là đề vịnh di tích, nhân vật lịch sử, đền miếu, danh thắng dọc đường đi. Thơ thiên nhiên của ông miêu tả cảnh đất nước, bút pháp vừa hoành tráng, vừa mỹ lệ, tình điệu thì hùng hồn, phóng khoáng. "Tinh thần tự hào dân tộc, trách nhiệm với vua, với nước, tình cảm cố quốc, gia hương bộc lộ rõ trong tác phẩm... thơ đi sứ của Hồ Sỹ Đống có những nét đẹp tươi, uyển chuyển, có khả năng đổi mới cảm xúc và cách thể hiện độc đáo của người viết" (4).

Văn thơ của Hồ Sỹ Đống với sứ thần Lý Quang, Trịnh Vũ Thuần và Doãn Phường (Triều Tiên) có trong "Hoàng Việt thi tuyển" quyển 6. Trong đó Hồ Sỹ Đống 2 bài, Lý Quang 1 bài, Trịnh Vũ Thuần, Doãn Phường có một số bài. Phải nói rằng: Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản thường giao lưu chịu ảnh hưởng văn hóa Hán của Trung Quốc, và sử dụng chữ Hán. Ở Việt Nam chữ Hán có mặt rất sớm những năm đầu Công nguyên. Đến hết thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc (thế kỷ thứ I đến thế kỷ X). Từ thế kỷ thứ X trở về sau, Việt Nam giành được độc lập, nhưng chữ Hán vẫn được thịnh hành và khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội. Chữ Hán được sử dụng trong thi cử, đào tạo nhân tài và phát triển văn hóa ở Việt Nam. Trong lịch sử nhân dân các nước Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản và Trung Quốc có mối quan hệ văn hóa dễ gần nhau, hiểu nhau.

Upload

Nhà thờ họ Hồ, dòng họ lớn ở Quỳnh Lưu

Thời kỳ Trung đại, Việt Nam chưa có quan hệ ngoại giao với Triều Tiên mà chỉ có những cuộc gặp gỡ giao lưu giữa sứ thần các nước khi đi sứ đến Trung Quốc. Khi ấy tại Bắc Kinh (Trung Quốc), sứ thần hai nước Việt Nam - Triều Tiên ở công quán nhưng những ngày không vào chầu, họ thường trao đổi kết tình thâm giao và trở thành bạn xướng họa, ngâm thơ. Thơ văn xướng họa giữa sứ thần Việt Nam và Triều Tiên thời Trung đại là những tài liệu có giá trị, góp phần nghiên cứu lịch sử bang giao giữa hai quốc gia.

Lần gặp gỡ giữa sứ thần Hồ Sỹ Đống (Việt Nam), với sứ thần Lý Quang, Trịnh Vũ Thuần và Doãn Phường (Triều Tiên), năm 1778, sứ thần Hồ Sỹ Đống có bài thơ tặng sứ thần Triều Tiên nói về sự tương đồng văn hóa giữa hai nước như sau:

                    "Công đình việc triều hội đã tan, trên đường chia tay.

                    Xa xa chỉ hướng biển Đông mà thấy lòng nhớ việc sứ

                    Chí khí cao vời có thể học theo chuyện tặng lụa cảo, tặng đai trữ

                    Thiên thơ đề tặng, có quản gì, chỉ dám để che hũ tương mà thôi

                    Phô diễn văn chương, vì rằng có xe đồng trục vậy

                    Giữ lễ từ xưa vẫn nhận là nước có Nho học.

                    Muôn dặm đến mà gặp được nhau đâu phải là dễ

                    Cảnh chầu vương hội, sáu năm mời một lần, vẫn y như một bức vẽ" (5)

Và sứ thần Trịnh Vũ Thuần tặng sứ thần Hồ Sỹ Đống bài thơ nói về tình thâm giao, sự hiểu biết lẫn nhau ngày càng sâu nặng giữa sứ thần hai nước trong mối quan hệ tương đồng văn hóa:

                    "Tình cảm thâm sâu xa trông đã ngầm thông  ý tứ

                    Vâng triều sai cùng đến điện Thái Hòa

                    Người thì từ biển xa theo thuyền đến, người thì từ vùng xa hoang ngoại

                    Trong trời đất, các vùng ấy cách xa hẳn về hai phía Đông và Nam

                    Ngôn ngữ tiếng nói từ trước tuy có khác biệt

                    Nhưng mũ áo y quan còn mừng là giống nhau

                    Âm dung tin tức cách biệt đến trăm năm (nay mới biết)

                    Suy nhớ chuyện cũ, đều thấy lòng nhớ nhung ngong ngóng theo gió" (6)

Ngày 18/10/1785, Hồ Sỹ Đống qua đời tại Thăng Long. Thi hài ông được đưa về chôn cất tại quê nhà trong sự trọng vọng của quan chức địa phương và toàn thể nhân dân.

Chuyến đi sứ Trung Hoa của Hồ Sỹ Đống đọng lại trong tình cảm giữa hai vị đại sứ Việt Nam - Triều Tiên thêm sâu sắc chân tình. Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới chúng ta cần phát huy những tinh hoa văn hóa ngoại giao, khơi thông tình cảm vốn có để hướng tới tương lai của hai dân tộc trên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Kim Nhật Thành.

 

 

Chú thích:

(1). Khoa bảng Nghệ An (Đào Tam Tĩnh). NXB Nghệ An, 2005, trang 198.

(2). Theo "Vũ Trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ. NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 1960, tr15.

(3). Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (tập 4). NXB Nghệ An, năm 1995, tr115.

(4). Địa chí văn hóa Quỳnh Lưu (Ninh Viết Giao). Nhà xuất bản VHTT Hà Nội, 2008, tr465.

(5,6 ). Tiếp cận di sản Hán Nôm (Trịnh Khắc Mạnh). NXB Khoa học xã Hội Hà Nội, năm 214, trang 229, 231.

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Noi gương Tổng Bí thư Hà Huy Tập - để tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh (15/7/2021)
Bàn về tính gàn của nhà Nho xứ Nghệ (14/7/2021)
Tiến sĩ Hồ Sỹ Đống giao lưu với sứ thần Triều Tiên (13/7/2021)
Chuyện về người Tam Lễ hay nói trạng? (2/7/2021)
Vua Lê Trang Tông và truyền thuyết Đình Long Thái (1/7/2021)
Danh thần Đoàn Nhữ Hài (1/7/2021)
Một dòng họ có truyền thống yêu nước trên vùng đất Hồng Lĩnh (1/7/2021)
Tri thức bản địa về nghề thủ công truyền thống dân tộc Thổ miền Tây Nghệ An (30/6/2021)
Đền Bà Chúa Chè Hạnh Lâm - Sự tích - Sắc phong và Văn bia có những điều dị biệt? (4/5/2021)
Vị thế địa - chiến lược của Nghệ An trong sự nghiệp giữ nước thời phong kiến (4/5/2021)
Di sản tư tưởng Phan Châu Trinh và bài học của chúng ta (Từ tác phẩm “Đạo đức và luân lý Đông - Tây”) (4/5/2021)
Những đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc (28/4/2021)
Du lịch Cửa Lò hướng đến “An toàn - thân thiện - mến khách” (15/4/2021)
Tình bạn “Chung Kỳ, Bá Nha” của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu (9/4/2021)
Một số trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Thái tại lễ hội Bươn Xao Tiên Kỳ (9/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,731 | Tất cả: 3,198,012
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp