KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Vài nét đặc biệt của Quốc hội khóa I
Tin đăng ngày: 2/7/2021 - Xem: 84
 

Nguyễn Văn Toàn

Quốc hội khóa I có nhiều điều đặc biệt. Đây là Quốc hội đầu tiên (1946) và kéo dài nhất (1946-1960) của nước ta. Quốc hội khóa I thông qua đến hai bản Hiến pháp: 1946 và 1959. Tuy nhiên, nổi bật lên trên hết, đây là Quốc hội của đại đoàn kết, Quốc hội của toàn dân như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Upload

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946,
tại Nhà hát lớn Hà Nội

Quốc hội đầu tiên và kéo dài nhất

Ngay khi chuẩn bị tổ chức cuộc tổng tuyển cử, ngày 31-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Ý nghĩa tổng tuyển cử” đăng báo Cứu quốc. Người khẳng định: “Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”.

Ngày 3-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Chính phủ, kiểm tra lần cuối những công việc của cuộc Tổng tuyển cử. Ngày 5-1-1946, Người ra Lời kêu gọi quốc dân thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ công dân của mình và nhấn mạnh: “Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ được tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước...”. Đồng thời, Người nêu rõ cử tri cần sử dụng đúng đắn trách nhiệm, quyền bầu cử để lựa chọn các đại biểu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trên tinh thần “những ai muốn làm quan cách mạng thì không nên bầu”.

Cựu hoàng Bảo Đại, nay đã là công dân Nguyễn Vĩnh Thụy và là Cố vấn tối cao Chính phủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận động ra ứng cử đại biểu Quốc hội tại tỉnh Thanh Hóa và đã trúng cử. Theo đồng chí Lê Tất Đắc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh Thanh Hóa: “Hồ Chủ tịch giao cho tôi về nói lại với nhân dân để nhân dân hiểu rõ, Bảo Đại tuy đã làm vua nhưng nay làm dân, về ứng cử ở quê cũ là hợp lẽ. Tôi truyền đạt ý kiến của Hồ Chủ tịch muốn Bảo Đại ứng cử Quốc hội. Bảo Đại rất vui”. Bên cạnh đó, cựu Thượng thư Bùi Bằng Đoàn cũng ứng cử đại biểu Quốc hội tại quê nhà là tỉnh Hà Đông và đã trúng cử.

Đây là cuộc tổng tuyển cử thật đặc biệt bởi số người ứng cử đại biểu Quốc hội so với số người được bầu rất đông. Đơn cử như Hà Nội có 74 ứng cử viên nhưng chỉ bầu lấy 6 đại biểu. Người đạt phiếu cao nhất tại Hà Nội là Chủ tịch Hồ Chí Minh được 169.222 phiếu, tức 98,4%.

Trong thành phần của Quốc hội khóa I có đại biểu đại diện cho cả ba miền Bắc - Trung – Nam. Quốc hội khóa I đã hội tụ đại biểu của tất cả các ngành, các giai cấp tầng lớp xã hội từ công nhân, nông dân cho đến những nhà tư sản, công thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô...; những nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hoá nổi tiếng như Nguyên Văn Tố, Hoàng Đạo Thuý, Thái Văn Lung, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Thai Mai... Quốc hội khóa I cũng hội tụ đại biểu của các thành phần tôn giáo trên đất nước ta như Thiên Chúa giáo (Linh mục Phạm Bá Trực), Phật giáo (Thượng toạ Thích Mật Thể), Cao Đài (Chưởng quản Cao Triều Phát)...

Tư tưởng xây dựng một nhà nước kiểu mới mà ở đó nhân dân là người chủ của đất nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (1927): “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc”. Bởi thế, Quốc hội khoá I có đến 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng, thực sự phản ánh đúng dân ý tại Việt Nam.

Quốc hội khoá I đã xem xét, ban hành Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và nhiều đạo luật khác, đặt nền móng chính trị, pháp lý quan trọng, nhất là trong việc thành lập Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Quốc hội khoá I cũng đã đóng góp to lớn vào công cuộc củng cố nền độc lập, xây dựng nhà nước dân chủ cộng hoà, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân; khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền Bắc tiến trên con đường xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Upload

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (2-3-1946)

70 ghế không qua bầu cử

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh lấy ngày 23-12-1945 mở cuộc tổng tuyển cử trong toàn quốc, sau đó lại hoãn tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 để các nhân sĩ muốn ra ứng cử có đủ thì giờ để nộp đơn và vận động.

Ngày 24-12-1945, đại biểu của Việt Minh và các đảng phái theo chân quân Tưởng về nước là Việt Quốc, Việt Cách đã ký bản Biện pháp đoàn kết gồm 14 điều chính và 4 điều phụ, thể hiện rõ các nội dung: Độc lập trên hết; kêu gọi đoàn kết; đình chỉ đăng báo công kích lẫn nhau bằng lời nói và hành động; nhất trí mở rộng Chính phủ lâm thời có đại diện của Việt Quốc và Việt Cách; thừa nhận 70 ghế trong Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử.

Ngày 1-1-1946, Chính phủ cách mạng lâm thời đã cải tổ, mở rộng thành phần Chính phủ liên hiệp lâm thời. Chính phủ liên hiệp lâm thời đã ra Tuyên bố việc làm này là để “cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẵn sàng việc khai Quốc hội”.

Trước đó, dù đã có sự thoả thuận giữa các đảng phái, Việt Quốc vẫn ra sức hoạt động phá hoại cuộc Tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Tại Hà Nội, chúng dùng tiểu liên đe doạ đồng bào ta tại Ngũ Xã, ngăn không cho ta đặt hòm phiếu, cấm nhân dân treo cờ. Nhân dân đã kéo sang khu phố gần đó để bỏ phiếu. Tại Nam Bộ, cuộc bầu cử ở nhiều nơi diễn ra dưới bom đạn của quân Pháp. Hơn 40 cán bộ đảng và Việt Minh đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ vận động Tổng tuyển cử. Mặc dù vậy, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao, trung bình là 89%, nhiều nơi đạt 95%.

Kết quả, có 333 đại biểu Quốc hội được bầu trong ngày tổng tuyển cử. Trong đó, Việt Minh có 120 ghế, Đảng Dân chủ có 46 ghế, Đảng Xã hội có 24 ghế, không đảng phái có 143 ghế. Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I ngày 2-3-1946 đã nhất trí dành 70 ghế không thông qua bầu cử cho các đảng phái theo chân quân Tưởng về nước là Việt Quốc, Việt Cách. Do đó, tổng số đại biểu Quốc hội khóa I tăng lên 403.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu trong phiên khai mạc Quốc hội khóa I: “Có những đồng chí cách mạng người Việt Nam ở hải ngoại vì không có thì giờ tham gia tổng tuyển cử của đảng phái, các dân tộc thiểu số và phụ nữ đều có đại biểu, và như thế không phải là các đại biểu thay mặt cho một đảng phái hay một dân tộc nào mà là đại biểu cho quốc dân Việt Nam”.

Upload

Hồ Chủ tịch trong phiên họp Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất (1953)

Quốc hội khóa I với phụ nữ Việt Nam

Trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lại lời Các Mác: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi” và lời V.I.Lênin: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”[1]. Người cũng nhận định: “Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả”[2]. Bởi thế, trong “Tuyên ngôn Độc lập” của nước ta (2-9-1945), Người không trích dẫn nguyên văn từ bản “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ năm 1776. Bản tuyên ngôn của nước Mỹ viết “that all men are created equal”, nghĩa là “mọi đàn ông sinh ra đều bình đẳng”. Còn Người viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”[3].

Để sớm xác định tư cách pháp lý của Nhà nước Việt Nam trước thế giới và toàn dân tộc, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời vào ngày 3-9-1945 (chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ cách mạng lâm thời “tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống…”. Kết quả, trong thành phần của Quốc hội khóa I có 10 đại biểu nữ. Phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội.

Tại Điều thứ 1, Điều thứ 9, Điều thứ 18, Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đã quy định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”; “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền”.

Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội các khóa sau ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Đánh giá về kết quả sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng và Chính phủ khẳng định: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ nước nhà”[4]. Chẳng hạn, bà Nguyễn Thị Thập, một nữ đại biểu Quốc hội khóa I sau này là Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981). Do đó, bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, đã nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và từ đó giải phóng chính mình”[5].

Upload

Cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa I ngày 6-1-1946

Quốc hội khóa I với đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên  cả nước. Cuộc Tổng tuyển cử đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 34 đại biểu dân tộc thiểu số. Quốc hội khóa I (1946-1960) đã tạo nên sự thay đổi quan trọng đối với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền nam tại Pleiku (19-4-1946),  Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các dân tộc đều là anh em, phải đoàn kết để xây dựng, bảo vệ đất nước: “Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc cho tất cả các đồng bào”[6]. Tiếp đó, ngày 3-5-1946, Người ký Sắc lệnh số 58 tổ chức Bộ Nội vụ trong đó có Nha Dân tộc thiểu số với chức năng, nhiệm vụ: “Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”.

Hiến pháp năm 1946 cũng khẳng định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”, “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1946 còn khẳng định: “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”. Để tạo điều kiện nâng cao dân trí  cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, Hiến pháp năm 1946 còn hiến định thêm tại Điều 15: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình”.

Nhìn lại lịch sử 75 năm của Quốc hội Việt Nam, số đại biểu là đồng bào dân tộc thiểu số tăng dần. Chẳng hạn, Quốc hội khóa II (1960-1964) có số đại biểu là đồng bào dân tộc thiểu số là 56, Quốc hội khóa III (1964-1971) có số đại biểu là đồng bào dân tộc thiểu số là 60, Quốc hội khóa IV (1971-1975) có số đại biểu là đồng bào dân tộc thiểu số là 73… Hiện nay, Quốc hội khóa XIV (2016-2021) có 86 đại biểu là đồng bào dân tộc thiểu số. Từ khóa I đến khóa XIV, đã có 49/53 đồng bào dân tộc thiểu số có đại biểu tham gia Quốc hội. Kết quả là, các đại biểu Quốc hội là đồng bào dân tộc thiểu số đã đóng góp công sức để củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh; động viên đồng bào tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; không nghe theo lời kẻ xấu; đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chung tay xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Upload

Bác Hồ chụp ảnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa I. Ảnh tư liệu

Những vị đại biểu Quốc hội khóa I hy sinh vì nước

Đại biểu Nguyễn Văn Tố sinh năm 1889 tại Hà Nội, hy sinh vào tháng 10-1947 tại Việt Bắc. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ông là hội trưởng Hội Truyền bá học quốc ngữ thành lập theo chủ trương của Đảng. Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ Lâm thời. Ngày 6-1-1946, trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội tại Nam Định. Ngày 2-3-1946, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I, ông được bầu là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Toàn quốc kháng chiến nổ ra (19-12-1946), ông được cử là Phó chủ tịch Ủy ban tản cư và di cư. Tháng 10-1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công quy mô vào căn cứ địa Việt Bắc, ông bị giặc bắt và hy sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bật khóc khi nhớ về ông và Người đã viết văn tế với những lời lẽ trân trọng: “Nhớ cụ xưa/Văn chương thuần tuý, học vấn cao sâu/Thái độ hiền từ, tính tình thanh khiết/Mở mang văn hoá, cụ dốc một lòng/Phú quý, công danh cụ nào có thiết…./Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt…”.

Đại biểu Nguyễn Văn Luyện sinh năm 1898 tại Bắc Ninh, hy sinh năm 1946 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Đại học Y Đông Dương và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ y khoa tại Pháp. Tại cuộc Tổng tuyển cử năm 1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội. Tại Quốc hội khóa I, ông là Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội. Trong trận chiến bảo vệ Thủ đô ngày 19-12-1946, ông cùng 2 người con trai là tự vệ thành cầm súng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Với sự hy sinh anh dũng đó, ông được truy tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.

Đại biểu Trần Kim Xuyến sinh năm 1921 tại Hà Tĩnh, hy sinh năm 1947 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Quốc học Vinh (Nghệ An) và sau đó tham gia các hoạt động yêu nước ở Bắc Giang và Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Ngày 22-8-1945, ông được cử giữ chức vụ Đổng lý văn phòng của Bộ, kiêm chức Phó Giám đốc Nha thông tin Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn giao ông tham gia thành lập Đài Phát thanh quốc gia cùng ông Trần Lâm, ông Chu Văn Tích. Tháng 1-1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I tại Bắc Giang. Sáng ngày 3-3-1947, ông hy sinh vì bom đạn của giặc Pháp khi ở lại chuyên chở tài liệu của Nha thông tin đến nơi an toàn. Ngày 23-4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 32/SL truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho ông.

Đại biểu Lý Chính Thắng (tên thật là Nguyễn Đắc Huỳnh) sinh năm 1917 tại Hà Tĩnh, hy sinh năm 1946 tại Chiến khu An Phú Đông gần Sài Gòn. Đầu năm 1929, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ và sau đó là An Nam Cộng sản đảng. Sau đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào năm 1930, ông đã gia nhập Đảng và đổi tên là Lý Chính Thắng. Tiếp đó, ông tham gia Thành ủy kiêm thư ký công đoàn Sài Gòn - Gia Định. Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, ông giữ chức vụ Ủy viên Thành bộ Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn. Tháng 10-1945, ông làm Tổng Thư kí Tổng Công đoàn Nam Bộ và tham gia sáng lập báo “Cảm tử” của Tổng Công đoàn Nam Bộ. Tháng 11-1945, ông lập trạm đón tiếp công nhân từ Sài Gòn ra An Phú Đông và biến nơi đây thành chiến khu kháng chiến chống Pháp. Tháng 1-1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn. Giặc Pháp tấn công Chiến khu An Phú Đông, ông được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận phía Đông. Trong một trận đánh, ông bị thương, bị giặc Pháp bắt và hy sinh vào ngày 30-9-1946. Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh ngày 25-4-1949 truy tặng Huân chương độc lập hạng Nhì cho ông.

Đại biểu Thái Văn Lung sinh năm 1916 tại Gia Định, hy sinh năm 1946 tại Gia Định. Ông có bằng Cử nhân Khoa Luật tại Đại học Paris và từng theo học Trường Sĩ quan Pháo binh ở Pháp. Tháng 3-1945, ông làm việc tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn. Tháng 6-1945, ông tham gia sáng lập lực lượng Thanh niên Tiền phong và phụ trách làm huấn luyện quân sự. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 23-9-1945, ông bị giặc Pháp bắt nhưng trốn thoát được. Ông trở ra ngoại thành Sài Gòn và được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến huyện Thủ Đức, xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang của huyện và được nhân dân quen gọi là bộ đội Thái Văn Lung. Sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, ông trở thành một trong những đại biểu Quốc hội khóa I thuộc Gia Định. Ông bị giặc Pháp bắt trong một trận đánh và hy sinh vào ngày 1-7-1946.

Đại biểu Lê Thế Hiếu sinh năm 1892 tại Quảng Trị, hy sinh năm 1947 tại Quảng Trị. Ông sớm giác ngộ và tham gia cách mạng. Năm 1929, ông bị giặc bắt và bị đày lên Lao Bảo và sau đó là nhà lao Vinh vào năm 1933. Đến năm 1936, phong trào Bình dân ở Pháp thắng thế, ông được thả và tiếp tục tham gia phong trào cách mạng. Cuối năm 1939, giặc bắt ông và giam ở Đắc Lây rồi Đắc Tô cho đến ngày Nhật đảo chính Pháp (3-1945). Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Quảng Trị. Tại cuộc bầu cử Quốc hội khóa I, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội. Tháng 5-1947, ông hy sinh khi đụng độ với giặc Pháp đang chúng đi càn để phá hoại vùng căn cứ Chợ Cạn, phá hoại mùa màng, khủng bố nhân dân.

Tên tuổi các đại biểu Quốc hội hy sinh vì nước còn nối dài như: Đại biểu Siểng (đại biểu Quốc hội tại Biên Hoà), người dân tộc Khơ Me, bị giặc giết hại năm 1947; đại biểu Nguyễn Văn Triết (đại biểu Quốc hội tại Thủ Dầu Một) bị giặc giết hại vào tháng 4-1948; đại biểu Huỳnh Bá Nhung (đại biểu Quốc hội tại Rạch Giá) bị giặc giết hại vào tháng 11-1953.

Tôn vinh những vị đại biểu Quốc hội đã hy sinh vì nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Đối với các vị ấy, nhân dân, Quốc hội, Chính phủ đều mến yêu mãi mãi. Các vị đại biểu kể trên đã từ trần vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì nhiệm vụ kháng chiến, xứng đáng là đại biểu của nhân dân Việt Nam anh dũng”.

Huế, ngày 21-5-2021

Chú thích

 [1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 288

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009,  tr. 195.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 1.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 256.

[5] Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh BBC (Vương quốc Anh) vào ngày 3 tháng 7 năm 2001. Xem:  http://www.mofahcm.gov.vn/en/mofa/cs_doingoai/pbld/ns04081814261544.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 217-218

KHXHNV & Đời sống khác:
Sống mãi những bài thơ viết về thương binh, liệt sĩ (Bài viết nhân 74 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021) (27/7/2021)
Tri ân các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (27/7/2021)
Ký ức, kỷ niệm về Vinh xưa: Hoài niệm về Rạp 12/9 - Vinh (15/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (13/7/2021)
Vài suy nghĩ về Hiệp định BTA nhân kỷ niệm ngày ký kết (13/7/2021)
Xã hội hóa trong việc tôn tạo, phục hồi di tích nhìn từ đền Nhà Quan (6/7/2021)
Vài nét đặc biệt của Quốc hội khóa I (2/7/2021)
Khi nhà khoa học viết văn… (Đọc “Hai phía chân dung” - Ngẫu văn của Lê Quốc Hán, NXB Nghệ An, 2021) (2/7/2021)
Lễ hội đền Chín Gian từ lịch sử đến đến đời sống tâm linh của người Thái Phủ Quỳ (1/7/2021)
Chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và việc thực hiện ở trường Đại học Kinh tế Nghệ An (1/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (30/6/2021)
Những vị đại biểu Quốc hội khóa I hy sinh vì nước (30/6/2021)
Đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống: Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa, phát triển thị trường văn hóa (30/6/2021)
Tình hình thiên tai ở Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII và biện pháp khắc phục của triều định Lê - Trịnh (30/6/2021)
Gia đình và việc làm (26/6/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,896 | Tất cả: 3,198,177
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp