NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
DỰ THẢO Văn bia nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An)
Tin đăng ngày: 1/7/2021 - Xem: 80
 

PGS.TS. Nguyễn Minh Tường

Upload

Nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, có diện tích khoảng 5.570 m2, tọa lạc tại khối Đông Hồ, thị trấn Quỳ Hợp, bên bờ hồ Thung Mây, cách cơ quan Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân Huyện, ước chừng 300 m. Đây là nơi yên nghỉ vĩnh hằng của 647 Anh hùng liệt sĩ – những người con yêu thương được sinh ra từ “Đất Mẹ Quỳ Hợp”, và cũng là nơi tưởng niệm 25 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng” trong huyện.

Dựng nước luôn luôn đi đôi với giữ nước đã trở thành một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (3-2-1930) và Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2-9-1945)[1], đến nay, dân tộc ta đã nhiều lần buộc phải cầm vũ khí để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất quốc gia – dân tộc. Có thể nói, trong các cuộc chiến tranh giữ nước, bảo vệ Tổ quốc ấy, đều có sự tham gia tích cực của hàng trăm, hàng ngàn chàng trai, cô gái đất Quỳ Hợp anh hùng.

Những Anh hùng liệt sĩ đang an giấc ngàn thu trong Nghĩa trang liệt sĩ này, phần nhiều đã hy sinh anh dũng trong 4 cuộc chiến tranh giữ nước và 2 sứ mệnh quốc tế là: Kháng chiến chống Thực dân Pháp, Kháng chiến chống Đế quốc Mỹ, Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây – Nam, Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở CampuchiaThực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào.

Upload

Cuộc Kháng chiến chống Thực dân Pháp (1945-1954)[2] của nhân dân ta là một cuộc chiến đấu trường kỳ, trải qua hơn 3000 ngày, đêm, đầy hy sinh, gian khổ, anh dũng và cuối cùng, chúng ta đã giành được chiến thắng lẫy lừng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trên cả nước. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Nhưng được quân Anh và quân Mỹ giúp sức, Thực dân Pháp nuôi tham vọng xâm lược nước ta một lần nữa. Để giúp Pháp đạt được tham vọng trên, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 2,7 tỷ đô la, 350 máy bay, 390 tàu chiến, 1.400 xe thiết giáp, 16.000 xe ô tô, và các phương tiện chiến tranh khác[3]. Thực dân Pháp đã gây ra biết bao đau thương, tang tóc đối với nhân dân ta… Tham vọng của chúng là đè bẹp ý chí phản kháng và khát vọng giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!...”[4]. Đáp lại Tiếng gọi thiêng liêng của Bác Hồ, trong 9 năm kháng chiến, cả huyện[5] có hàng ngàn thanh niên, nếu chỉ tính riêng năm 1954, đã có 250 người nhập ngũ, anh dũng xung phong ra tiền tuyến, giết giặc[6].

Cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đánh bại cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Đế quốc Mỹ, xét về quy mô tập trung lực lượng, vũ khí, phương tiện kỹ thuật chiến tranh, về tính chất hiện đại và sự ác liệt tăng theo thời gian 21 năm, với 5 chiến lược quân sự[7] là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh kéo dài, ngoài sức tưởng tượng của các nhà hoạch định chiến lược Hoa Kỳ. Suốt cuộc chiến tranh, Mỹ phải huy động sang Việt Nam hơn 2 triệu 500 nghìn lượt lính Mỹ và hàng chục ngàn quân các quốc gia đồng minh khác tham chiến[8]. Mỗi năm, Mỹ phải chi phí trung bình xấp xỉ 30 tỷ đô la[9]. Thời kỳ cao nhất (17-3-1969), tổng số quân Mỹ lên tới 625.866, quân các nước chư hầu 72.000 và trên 1 triệu quân Sài Gòn[10]. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống quân xâm lược Mỹ, nổi rõ đặc điểm là “không cân sức”. Lúc đầu, nhiều người trên thế giới cho rằng Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ, vì “trứng không thể chọi với đá” được!

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân Việt Nam chấp nhận đụng đầu lịch sử đối với Đế quốc Mỹ, dẫu biết phải hy sinh nhiều của, nhiều người, đất nước sẽ bị tàn phá, nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ!

Còn non, còn nước, còn người

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay![11]

Trong cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu này, Đế quốc Mỹ đã bộc lộ tất cả những gì là “văn minh, dân chủ kiểu Mỹ”, một thứ “văn minh phi nhân tính”, độc ác, hủy diệt con người! Đế quốc Mỹ đã ném xuống Việt Nam 15 triệu tấn bom đạn và hơn 100 triệu lít chất độc hóa học màu “da cam[12], hòng biến Việt Nam thành hoang mạc, không còn sự sống.

 Ngày 5-8-1964, Đế quốc Mỹ trắng trợn dùng máy bay ném bom Vinh – Bến Thủy (Nghệ An) và một vài nơi trên miền Bắc.

Ngày 26-8-1965, lần đầu tiên, máy bay Mỹ đã bắn phá xóm Việt Kiều, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp làm 5 người chết và 1 người bị thương, 2 ngôi nhà bị cháy…[13]. Sau sự kiện bắn phá xóm Việt Kiều này, giặc Mỹ còn đánh phá liên tiếp vào các địa phương khác như: Nghĩa Xuân, Đồng Hợp, Bãi Tập, Châu Lộc, Khe Nậm, đặc biệt là đánh vào khu vực nhà Dinh và cầu Canh Lâu ngày càng ác liệt hơn[14].

Quỳ Hợp là một huyện miền núi đất rộng, người thưa, nhưng trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), cũng có tới 3.593 thanh niên lên đường nhập ngũ, vào Nam chiến đấu[15].

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (từ 30-4-1977 đến 7-1-1979) là cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta nhằm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Ngay đêm 30-4-1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm 2 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, tập đoàn Pôn Pốt – Iêng Xari đã xua hàng nghìn quân bất ngờ tiến công toàn biên giới tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học…, và tàn sát rất nhiều người dân vô tội, phần lớn là phụ nữ và trẻ em.

Cuộc chiến tranh kéo dài gần 2 năm, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm, thu hồi đất đai, đồng thời hỗ trợ các lực lượng vũ trang yêu nước Campuchia nổi dậy, tiến công giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh (7-1-1979), đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt – Iêng Xari, giành chính quyền về tay nhân dân.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc (từ 17-2-1979 đến 18-3-1979) là cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của quân Trung Quốc. Đêm 16 rạng sáng ngày 17-2-1979 (đêm thứ bẩy rạng sáng ngày chủ nhật), lợi dụng trời tối, sương mù, phía Trung Quốc bí mật đưa một lực lượng lớn vượt biên, ém sẵn ở nhiều khu vực trên toàn tuyến biên giới, từ Pò Hèn (Quảng Ninh) đến Pa Nậm Cúm (Lai Châu). Từ 3 giờ 30 phút, ngày 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn tiến công sang lãnh thổ Việt Nam. Quân Trung Quốc tiến sâu vào nội địa nước ta, trên một số hướng như: Cao Bằng (từ 40 – 50 km), Lạng Sơn, Lào Cai (từ 10 – 15 km)… và lần lượt chiếm các thị xã Lào Cai (19 - 2), Cao Bằng (24 - 2), Cam Đường (25 - 2), Lạng Sơn ( 5 - 3), thị trấn Phong Thổ ( 5 - 3)… Chúng đi đến đâu vừa đánh, vừa tàn sát, gây nhiều thiệt hại về người và của đối với nhân dân ta. Hang Pắc Pó, một di tích lịch sử thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt Nam, bị phá sập bằng bộc phá.

Mở cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nước ta, Trung Quốc hy vọng thực hiện được nhiều mục tiêu[16], nhưng mục tiêu chủ yếu là cứu bọn Pôn Pốt – Iêng Xari, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ. Nhưng cuối cùng, Trung Quốc đã phải nhận thất bại nặng nề. Kết quả trong khoảng 30 ngày diễn ra chiến tranh, quân và dân ta đã gây tổn thất cho 9 quân đoàn chủ lực, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân (hơn 1/10 tổng số quân Trung Quốc huy động vào cuộc chiến tranh), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 115 khẩu pháo và cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự[17].

Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, vào đầu năm 1979, Trung Quốc đã bị thất bại toàn diện về quân sự, chính trị và ngoại giao. Trung Quốc thất bại cả ở chiến trường, ở trong nước và trên thế giới.

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1976-1988). Cũng như Việt Nam sau giải phóng, Cách mạng Lào đứng trước muôn vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh để lại. Lợi dụng những khó khăn của nước bạn Lào, các thế lực thù địch ra sức thực hiện kế hoạch hậu chiến, thúc đẩy bọn phản động điên cuồng chống phá Cách mạng Lào, gây chia rẽ mối quan hệ Việt – Lào. Trước tình hình cấp bách đó, Nhà nước Lào đề nghị ta, đưa quân tình nguyện Việt Nam trở lại Lào. Từ giữa năm 1976, đến cuối năm 1988, quân tình nguyện Việt Nam đã sang giúp Cách mạng Lào. Đồng chí Khămtày Xinphănđon – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, khẳng định: “Giúp Lào, lại một lần nữa, các tình nguyện Việt Nam đã nêu gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ, về tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung, xả thân vì bạn[18].

Thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia (1979-1989). Cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp nhân dân nước bạn giải phóng khỏi họa diệt chủng, giành chính quyền về tay nhân dân, bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ. Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… giúp nhân dân nước bạn, tức là mình tự giúp mình[19], quân và dân Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân Campuchia và nhân dân Lào anh em.

Ngày nay, những cuộc chiến tranh vừa kể trên, đã đi qua hơn 30 năm rồi. Các Anh hùng liệt sĩ đã trở về yên nghỉ trong lòng “Đất Mẹ Quỳ Hợp”.

Khu Nghĩa trang liệt sĩ này là một công trình văn hóa được xây dựng, để thể hiện sự tri ân, đạo ý “Uống nước nhớ nguồn” của Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân Huyện, cùng toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân huyện Quỳ Hơp, tỉnh Nghệ An đối với các “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”, các Anh hùng liệt sĩ trong huyện.

Chúng tôi, những thế hệ hậu sinh xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các “Bà Mẹ Việt Nam anh hùng”, các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân.

Thi hào Nguyễn Du từng nói: “Thác là thể phách, còn là tinh anh[20]. Vì vậy, chúng tôi hằng tin tưởng rằng các Anh hùng liệt sĩ của chúng ta vẫn bất tử, vẫn từng ngày, từng giờ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế - xã hội và văn hóa - giáo dục… của quê hương Quỳ Hợp kiên cường.

Quỳ Hợp, ngày 27 tháng 7 năm 2020

Người kính cẩn soạn văn bia

PGS.TS. Nguyễn Minh Tường

 

Chú thích:

[1]. Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, họp kỳ thứ nhất ở Hà Nội. Tại kỳ họp này, Quốc hội tuyên bố đổi tên nước là: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

[2]. Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống Thực dân Pháp xâm lược đã bùng nổ trên chiến trường Nam Bộ, ngày 23-9-1945. Ngày 19-12-1946, là mốc mở đầu Kháng chiến toàn quốc.

[3]. Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Nxb Từ điển Bách khoa – Hà Nội, tập 2, tr.489.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội, tập 8 (1945-1947), tr.160.

[5]. Trong kháng chiến chống Pháp, huyện còn có tên là huyện Quỳ Châu. Ngày 19-4-1963, Chính phủ đã ra Quyết định số 52-CP, chia huyện Quỳ Châu thành 3 huyện: Quỳ Châu, Quế Phong và Quỳ Hợp.

[6]. Lịch sử huyện Quỳ Hợp (sơ thảo) (2004), Nxb Nghệ An – Vinh, tr.54.

[7]. Năm chiến lược quân sự của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam là:

            - Giai đoạn 1, từ 7-1954 đến hết năm 1960: Mỹ thực hiện chiến lược “Chủ nghĩa thực dân kiểu mới” ở miền Nam Việt Nam.

            - Giai đoạn 2, từ năm 1961 đến giữa năm 1965: Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

            - Giai đoạn 3, từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968: Mỹ thực hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

            - Giai đoạn 4, từ đầu năm 1969 đến tháng 1-1973: Mỹ tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần quân Mỹ và quân đội chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam.

            - Giai đoạn 5, từ tháng 1-1973 đến tháng 4-1975: Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng ủng hộ về vũ khí, tài chính cho Ngụy quyền Sài Gòn, phá hoại Hiệp định Paris.

[8]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2020), Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tập 11 (1954-1975), tr.524.

[9]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2020), Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, tập 11 (1954-1975), tr.524.

[10]. Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Sđd, tập 2, tr.486.

[11]. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Nxb Chính trị Quốc gia, tập 15, tr.612.

[12]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2020), Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, tập 11 (1954-1975), tr.525.

[13]. Lịch sử huyện Quỳ Hợp (sơ thảo) (2004), Sđd, tr.90.

[14]. Lịch sử huyện Quỳ Hợp (sơ thảo) (2004), Sđd, tr.91.

[15]. Lịch sử huyện Quỳ Hợp (sơ thảo) (2004), Sđd, tr.259.

[16]. Năm mục tiêu của Trung Quốc khi tiến hành chiến tranh là:

  1. Cứu bọn Pôn Pốt, giữ Campuchia trong quỹ đạo của họ. Đây là mục tiêu chủ yếu.
  2. Tranh thủ Mỹ và các nước đế quốc khác giúp họ xây dựng “Bốn hiện đại hóa” (Nông nghiệp - Công nghiệp - Quân sự - Khoa học, kỹ thuật).
  3. Phá hoại tiềm lực quốc phòng và kinh tế của ta.
  4. Uy hiếp Lào từ phía Bắc, buộc Lào theo họ chống lại ta.
  5. Thăm dò phản ứng của Liên Xô.

[17]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2020), Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, tập 13 (1975-2000), tr.202, 203.

[18]. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2020), Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, tập 13 (1975-2000), tr.352.

[19]. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Sđd, tập 8, tr.105.

[20]. Câu thơ 115-116, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nguyên văn như sau:

Kiều rằng: “Những đấng tài hoa

Thác là thể phách, còn là tinh anh”.

 (Ghi chú:

- Những chú thích trên đây chỉ có ở Tài liệu Văn bia đóng thành quyển, lưu giữ tại Văn phòng UBND huyện và Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Quỳ Hợp, tỉnh nghệ An.

- Trên Bia đá tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp không có 20 chú thích trên).

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
DỰ THẢO Văn bia nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) (1/7/2021)
Nói quá - Một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (Trên tư liệu hát giặm Nghệ Tĩnh) (30/6/2021)
Phân tích vai trò vốn văn hóa gia đình trong phát triển du lịch cộng đồng (27/6/2021)
Bữa cơm gia đình trong văn hóa truyền thống Việt Nam (26/6/2021)
Một lát cắt trong lịch sử về giống: Dưa hấu có nguồn gốc từ đông bắc châu Phi (3/6/2021)
Tìm hiểu khía cạnh kinh tế của di sản (liên hệ thực tế tại Nghệ An) (5/5/2021)
Một cách nhìn về Nguyễn Huy Thiệp (5/5/2021)
Khoa học tái hiện tái hiện “Lầu son gác tía” tại Hoàng thành Thăng Long sau 1.000 năm (3/5/2021)
Đường tàu khát vọng “đi suốt bốn mùa Xuân” (30/4/2021)
Bảo tồn các giá trị văn hóa bản sắc nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (28/4/2021)
Văn hóa vật thể và các hình thức văn hóa vật thể tiêu biểu (28/4/2021)
Vì sao người Việt chắp tay và niệm “Nam mô a di đà Phật” khi cúng bái? (9/4/2021)
Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo (9/4/2021)
Chuyển đổi kỹ năng trong giáo dục gia đình: Nuôi và dạy con trẻ ở nông thôn hiện nay (8/4/2021)
Đặc điểm giáo dục, khoa cử Nho học thời Nguyễn (8/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 2,031 | Tất cả: 3,198,312
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp