DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Không gian xã hội của các chuỗi hàng hóa nông sản
Tin đăng ngày: 30/6/2021 - Xem: 73
 

 Minh Hải

Phát triển chuỗi hàng hoá nông sản là xu hướng được tỉnh Nghệ An quan tâm từ nhiều năm nay. Và gần đây, nhiều dự án, chương trình liên quan đến chuỗi hàng hoá nông sản được gọi với tên là phát triển chuỗi giá trị nông sản ở các địa phương được tỉnh chú trọng. Và thực tế, những cách thức tiếp cận này đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nông nghiệp hàng hoá. Tuy nhiên, như một hạn chế về mặt phương pháp tiếp cận, người ta vẫn thường quy các chuỗi giá trị hàng hoá nông sản về mặt kinh tế để phân tích. Cách làm như vậy thường đơn thuần là cái nhìn kinh tế học, thúc đẩy phát triển thị trường nhưng lại không thấy hết những vấn đề văn hoá xã hội mà các hoạt động thị trường nông sản tác động đến các nhóm, cá nhân liên quan. Vậy nên, bài viết này muốn đi xa hơn, phân tích không gian xã hội của các chuỗi hàng hoá nông sản để có cái nhìn sâu rộng hơn về sự phát triển của thị trường nông sản trong môi trường rộng của nó. Đây là một phân tích dựa trên góc nhìn của lĩnh vực khoa học phát triển, nên nó có thể bù đắp, hỗ trợ phần nào đó, có thể rất nhỏ, cho những phương pháp tiếp cận trước đây về chuỗi hàng hoá nông sản địa phương ở Nghệ An.

Upload

Các mặt hàng nông sản Việt Nam đang dần chiếm lĩnh thị trường nước ngoài

Mạng lưới thị trường

Một khái niệm quan trọng để làm đề dẫn cho sự phân tích chuỗi hàng hoá là mạng lưới thị trường. Nhìn lại lịch sử hơn một nửa thế kỷ qua, sự phát triển của kinh tế thị trường ở Việt Nam mang tính đặc thù riêng, không theo những quy luật cơ bản của thị trường. Trong giai đoạn kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mạng lưới thị trường là một dòng chảy âm thầm, thị trường kín, là “chợ đen”, không được công khai. Các dòng chảy hàng hoá được phân phối theo kênh chính quy của nhà nước qua hệ thống hợp tác xã. Từ sau Đổi mới 1986, kinh tế thị trường bắt đầu được cởi trói và phát triển nhưng chưa thoát ra được khỏi tính đặc thù. Tuy nhiên, các mạng lưới thị trường cũng được phát triển một cách nhanh chóng. Mạng lưới thị trường là một hệ thống các nhân tố và các mối quan hệ cũng như thể chế liên quan đến sự trao đổi hàng hoá dịch vụ trên thị trường. Thảo luận về mạng lưới thị trường ở vùng nông thôn Việt Nam từ sau đổi mới, Nghiêm Phương Tuyến và Masayuki Yanagisawa (2008: 129) đã nhận định: “Tính chất của mạng lưới thể hiện ở sự đa dạng trong “dòng chảy” của các sản phẩm địa phương và mối quan hệ xã hội đa dạng giữa các thành phần tham gia. Trong mạng lưới này không có sự tham gia của hệ thống chợ (điểm họp chợ) trong huyện và xã  nhưng có sự tham gia của điểm trung chuyển để tập kết hàng hoá”. Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của mạng lưới thị trường vùng nông thôn, trong đó có vai trò của hệ thống giao thông vận tải. Hệ thống giao thông vận tải (và cả hệ thống giao thông quốc gia) có ảnh hưởng đa chiều đến mạng lưới thị trường thông qua việc giảm chi phí vận chuyển và giá thành sản phẩm (Ellis, 2000; Nghiêm Phương Tuyến và Masayuki Yanagisawa, 2008). Hình thức thương mại không qua các điểm chợ, với sự hỗ trợ của hệ thống giao thông giúp cho người dân địa phương và thương lái gặp nhau trực tiếp để trao đổi về giá cả, kế hoạch sản xuất cũng như chia sẻ những cơ hội làm ăn là một trong những giá trị lớn mà mạng lưới thị trường mang lại. “Sự giao thương trực tiếp của nông dân với tư thương đã mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho nông dân do không phải thông qua nhiều cấp bậc trong hệ thống mạng lưới” (các trung gian bán buôn bán lẻ qua hệ thống chợ) (Nghiêm Phương Tuyến và Masayuki Yanagisawa, 2008: 131). Như vậy, mạng lưới thị trường là cơ sở quan trọng để hình thành và phát triển các chuỗi hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá nông sản ở các vùng nông thôn.

Upload

Nông sản được đưa vào bán trong các siêu thị lớn

Chuỗi hàng hoá

Các loại hàng hoá luân chuyển trong thị trường đều theo những chuỗi hàng hoá khác nhau. Chuỗi hàng hoá được hiểu là tổng thể các khâu đoạn và những người liên quan trong mạng lưới thương mại của một dòng hàng hoá. Đó chính là hệ thống các mối quan hệ giữa những người tham gia vào quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng một sản phẩm. Trong vài thập kỷ gần đây, tiếp cận chuỗi hàng hoá là phương pháp tiếp cận được nhiều nhà nghiên cứu trong nhiều chuyên ngành của lĩnh vực khoa học xã hội vận dụng chứ không riêng gì kinh tế học. Trong Nhân học, tiếp cận chuỗi hàng hoá được xem là một cách thức tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu về kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển và kém phát triển. Nguyên nhân là sự phát triển của kinh tế thị trường luôn mang lại lợi ích không đồng đều cho các bên liên quan. Sự không đồng đều trong phân chia lợi ích nhiều khi dẫn đến xung đột xã hội. Nhưng mặt khác, dù nhận biết được sự không đồng đều trong phân chia lợi ích nhưng những bên tham gia vào mạng lưới thị trường hầu hết đều hài lòng và chấp nhận điều đó. Các nhà hoạt động xã hội cổ điển dựa vào sự phân bổ lợi ích mà đấu tranh đòi công bằng xã hội với nghĩa là cào bằng lợi ích trong mạng lưới thị trường. Tuy nhiên, nhận thức và phương pháp đó ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế. Nó gợi mở cho các nhà nghiên cứu những cách tiếp cận phù hợp hơn để diễn giải những vấn đề này. Và tiếp cận chuỗi hàng hoá là một trong những phương pháp được các nhà nhân học lựa chọn.

Chuỗi hàng hoá thể hiện rõ vai trò và chức năng của các nhóm, cá nhân tham gia vào mạng lưới thị trường của một sản phẩm hàng hoá nhất định. Từ đó cho phép nhà nghiên cứu bóc tách được những vấn đề liên quan cụ thể trong từng mắt xích, từng bên liên quan trong chuỗi hàng hoá. Từ những nguồn vốn mà các bên liên quan đầu tư vào đến thể chế và nguyên tắc hoạt động cũng như lợi ích và sự chia sẻ lợi ích. Ở đó, những giá trị đầu tư hay rủi ro mà các bên liên quan phải đối diện đều được thể hiện. Qua đó giúp người ta hiểu rõ hơn về những nguyên tắc, những mối liên hệ cơ bản của các bên liên quan trong chuỗi hàng hoá. Điều đó giúp cho sự thảo luận về dòng chảy hàng hoá hay phân chia lợi ích có sức thuyết phục hơn.

Nghiên cứu về chuỗi hàng hoá nông sản ở Việt Nam cần phải kể đến các học giả nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý là những công trình nghiên cứu của Sarah Turner và Jean Michaud (2008); Claire Tugault-Lafleur and Sarah Turner (2009); Jean Michaud (2010); Sarah Turner (2012); Sarah Turner,  Christine Bonnin và Jean Michaud (2015); Sarah Turner và Jean Michaud (2016, 2017),... Những nghiên cứu này hầu hết được thực hiện trong một không gian xã hội xuyên quốc gia, mà chủ yếu là vùng biên giới Việt Nam-Trung Quốc với sự tiếp cận trường hợp chuỗi hàng hoá nông sản của người Hmông. Chính các nghiên cứu của các học giả nước ngoài đã tạo cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đi sâu vào các trường hợp cụ thể mà họ quan tâm. Theo các học giả nước ngoài, “Phân tích chuỗi hàng hoá là một phương pháp để làm nổi bật những mối quan hệ trao đổi phức tạp của một loại hàng hoá trên thị trường” (Claire Tugault-Lafleur và Sarad Turner, 2009:391). Và cũng theo các tác giả này thì việc phân tích không gian xã hội của chuỗi hàng hoá là một phương pháp quan trọng để nghiên cứu về sinh kế cũng như mạng lưới thương mại của các cộng đồng trong bối cảnh đa sắc tộc.

Upload

Cam Vinh- một mặt hàng được ưa chuộng trên thị trường trong nước

Chuỗi hàng hoá nông sản

Khi tham gia vào thị trường, các loại nông sản ở các địa phương cũng luân chuyển theo một chuỗi hàng hoá nhất định. Chuỗi hàng hoá đó vô cùng phức tạp, nhưng nhìn chung có 4 nhóm tham gia cơ bản là: (i)-Nhóm cung cấp nguyên liệu. (ii)-Nhóm sản xuất. (iii)-Nhóm kinh doanh. (iv)-Nhóm tiêu thụ. Đương nhiên, cách phân chia các khâu đoạn hay các nhóm này chỉ mang tính tương đối và cũng trên cơ sở lý thuyết. Vì thực tế nhiều khi người cung cấp nguyên liệu cũng là người sản xuất và cũng là người kinh doanh. Như vậy để hiểu, sự phân chia các nhóm là để thuận tiện cho các thao tác phân tích, còn thực tế thì đa dạng hơn. Mặt khác, mỗi nhóm như vậy không đơn giản chỉ là những người tham gia đơn lẻ, mà là một mạng lưới xã hội có quan hệ phức tạp với nhau. Vậy nên để hiểu rõ và quản trị được chuỗi hàng hoá sản phẩm địa phương một cách hiệu quả thì phải phân tích được mạng lưới xã hội tham gia vào toàn bộ chuỗi hàng hoá đó. Phân tích mạng lưới xã hội là phương pháp tiếp cận không gian xã hội của những người tham gia vào các khâu đoạn trong chuỗi hàng hoá cũng như các mối quan hệ giữa các cá nhân trong mạng lưới xã hội đó. Và phân tích chuỗi hàng hoá cũng không thể không đề cập đến vấn đề giá cả và quan hệ lợi ích giữa những bên liên quan trong mạng lưới xã hội và chuỗi hàng hoá đó. Và, qua quá trình phần tích chuỗi hàng hoá nông sản cũng giúp cho người ta nắm được sự hoạt động, giá trị tạo ra và sự phân chia lợi ích trong chuỗi hàng hoá của một sản phẩm. Vậy nên, trong bối cảnh đẩy mạnh thương mại hoá các sản phẩm nông sản địa phương thì phân tích mạng lưới xã hội trong chuỗi hàng hoá sản phẩm nông sản địa phương sẽ là phương pháp quan trọng, có nhiều giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn cho cả những người tham gia lẫn những nhà quản lý.

Upload

Mô hình trông rau an toàn được triển khai ở nhiều địa phương

Không gian xã hội và mạng lưới xã hội

Từ lâu nay chúng ta vẫn được nghe nói đến nhiều về khái niệm không gian văn hoá, như không gian văn hoá làng, không gian văn hoá đô thị, không gian văn hoá Ví Giặm, không gian văn hoá Tây Nguyên…. Trong khi đó, không gian xã hội được nhắc đến ít hơn. Thực chất, hai khái niệm này có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà nhiều khi còn được sử dụng thay cho nhau trong một số trường hợp nhất định. Không gian xã hội được hiểu là môi trường và hệ thống các mối quan hệ do con người tạo ra trong những giai đoạn, bối cảnh nhất định. Nó bao gồm cả yếu tố không gian vật chất lẫn phi vật chất, không gian thực tiễn hoặc không gian do khoa học công nghệ tạo nên (như không gian mạng internet), hay do sự tưởng tượng của con người (không gian tâm linh)…. Nếu không gian văn hoá nhấn mạnh đến các yếu tố giá trị thì không gian xã hội nhấn mạnh đến các yếu tố quan hệ. Quan hệ giữa con người với con người tạo nên không gian xã hội và chi phối không gian xã hội. Nhưng không gian xã hội cũng tác động lại các mối quan hệ của con người.

Trong phân tích chuỗi hàng hoá thì phân tích không gian xã hội gắn với các yếu tố, các mắt xích trong chuỗi hàng hoá là vô cùng quan trọng. Bởi nó biểu thị tính chất của các mối quan hệ cũng như lý giải tâm lý, tâm thế của các bên liên quan trong từng mắt xích đó. Nói cách khác, cần phải đặt các cá nhân, nhóm khi tham gia vào các mắt xích trong chuỗi hàng hoá gắn với không gian xã hội của nó mới hiểu được tại sao họ tham gia và họ chấp nhận sự không đồng đều về lợi ích. Nếu mang các yếu tố đó ra khỏi không gian xã hội của nó thì sự phân tích sẽ không có nhiều giá trị.

Mạng lưới xã hội là một khái niệm do J. A. Barnes, một nhà nhân học người Anh sáng tạo ra từ giữa thế kỷ XX và sau đó được nhiều nhà khoa học xã hội vận dụng và phát triển thành một khái niệm quan trọng và một khung phân tích phổ biến trong nghiên cứu xã hội từ giữa những năm 1970. Barnes coi những mối quan hệ như bạn bè, tộc và những sự chuyển tiếp các mối quan hệ đó (hiểu theo nghĩa quan hệ luôn được mở rộng và những người trong mạng lưới sẽ có quan hệ chuyển tiếp với nhau) làm cho cộng đồng trở thành một mạng lưới và chi phối nhiều hoạt động của các cá nhân cũng như của chính cộng đồng đó, và ông gọi đó là mạng lưới xã hội (J.A. Barnes, 1954). Cũng có thể hiểu, mạng lưới xã hội là “một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi chung là các actor. Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội, các tổ chức, các thiết chế, các công ty xí nghiệp và cả các quốc gia. Các mối quan hệ giữa các actor cũng có thể mang nhiều nội dung khác nhau từ sự tương trợ, trao đổi thông tin cho đến việc trao đổi hàng hóa, trao đổi các dịch vụ…” (Lê Minh Tiến, 2006: 66). Chúng ta cũng có thể hiểu, mạng lưới xã hội được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, các nhân tố kết nối và thể chế gắn kết của các cá nhân, các nhóm, các tổ chức, cộng đồng được hình thành nhằm chia sẻ những lợi ích cũng như trách nhiệm với nhau trong việc khai thác các nguồn lực để phát triển kinh tế. Do vậy, mạng lưới xã hội, trước hết là do các cá nhân tạo ra trong quá trình tham gia phát triển của mình, đó là sự thể hiện của năng lực giao tiếp, khả năng kết nối và kỹ năng quản trị quan hệ của các cá nhân. Vậy nên mạng lưới xã hội của các cá nhân khác nhau do các yếu tố hình thành từ các cá nhân không giống nhau. Và mạng lưới xã hội cũng mang tính chất là nhóm, cộng đồng cùng chia sẻ một số mối quan tâm nhất định trong quá trình phát triển.

Về cơ bản, mạng lưới xã hội được xem là một loại vốn trong phát triển kinh tế, và trong kinh tế học, phân tích các nguồn vốn là vấn đề quan trọng. Nhưng mạng lưới xã hội cũng được nhiều ngành khoa học xã hội khác quan tâm và vận dụng vào các nghiên cứu chứ không chỉ có kinh tế học. Trong xã hội học kinh tế, phân tích mạng lưới xã hội được đặt trong khung phân tích vốn xã hội. Vốn xã hội, một thuật ngữ và cũng là một khái niệm quan trọng được nhiều học giả nghiên cứu trong hơn một thế kỷ qua. Đến nay, khái niệm vốn xã hội cũng chưa đồng nhất về mặt nội hàm nhưng lại được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm. Nhưng dù hiểu theo nghĩa nào thì phần đa những nhà nghiên cứu đều đồng ý một điểm rằng mạng lưới xã hội là yếu tố quan trọng bậc nhất trong khái niệm vốn xã hội. Bởi mạng lưới xã hội trong bản thân nó cũng bao hàm cả niềm tin, các mối liên kết và quan hệ xã hội giữa các thành viên. Và nó cũng là một nguồn lực, một loại vốn trong quá trình phát triển.

Trong phân tích chuỗi hàng hoá nông sản, không gian xã hội và mạng lưới xã hội là hai nhân tố vô cùng quan trọng, bởi nó chi phối mạnh mẽ đến các chuỗi hàng hoá. Nếu như không gian xã hội thể hiện được tính chất của các đối tượng tham gia vào chuỗi hàng hoá thì mạng lưới xã hội lại thể hiện được mối quan hệ giữa các mắt xích xuyên qua các không gian xã hội khác nhau. Nếu chuỗi hàng hoá nông sản được phân thành các nhóm như là các mắt xích trong chuỗi gồm nhóm cung cấp nguyên liệu, nhóm sản xuất hàng hoá, nhóm kinh doanh, và nhóm tiêu dùng, thì phân tích chuỗi hàng hoá nông sản cần gắn với phân tích không gian xã hội của các nhóm này. Như vậy sẽ có không gian xã hội của nhóm cung cấp nguyên liệu (cung cấp giống, phân bón, công cụ lao động,….); không gian xã hội nhóm sản xuất (chủ yếu là người dân ở địa phương, bỏ sức lao động để sản xuất hàng hoá nông sản cung cấp cho thị trường); không gian xã hội nhóm kinh doanh (là các cơ sở thu gom, đại lý phân phối, cơ sở dịch vụ…., là những người đầu tư các nguồn vốn khác để luân chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng); không gian xã hội nhóm tiêu dùng. Trong xã hội thị trường, hầu hết các chuỗi hàng hoá đều trải rộng trên một thị trường rộng lớn với một không gian xã hội rộng lớn là vùng miền, quốc gia và quốc tế. Vậy nên không gian xã hội gắn với các nhóm cũng đa dạng và phức tạp hơn. Nói cách khác thì những đối tượng tham gia vào chuỗi hàng hoá có những không gian xã hội riêng của họ và không gian xã hội đó ảnh hưởng nhiều đến quyết định tham gia hay từ bỏ chuỗi hàng hoá của họ. Và không gian xã hội cũng có nhiều cấp độ khác nhau, từ gia đình, xã, huyện, tỉnh….

Upload

Mô hình trồng dưa lưới an toàn được xây dựng ở Nghệ An

Một ví dụ về phân tích chuỗi hàng hoá nông sản địa phương ở Nghệ An

Nghệ An hiện này có hàng trăm sản phẩm địa phương đang được đưa ra thị trường. Trong đó, được nhiều người biết đến từ lâu thì có Nhút Thanh Chương, Tương Nam Đàn, Cam Nghĩa Đàn, Cam Con Cuông, Hương trầm Quỳ Châu,…. Mỗi sản phẩm như vậy đều luân chuyển vào thị trường theo một chuỗi hàng hoá nhất định của nó. Và nó hình thành các mạng lưới xã hội liên quan đến chuỗi hàng hoá này. Xin phân tích trường hợp chuỗi hàng hoá Nhút Thanh Chương. Hẳn có người sẽ còn lăn tăn chuyện coi nhút là nông sản hay sản phẩm của thủ công nghiệp? Thực tế thì nhút được làm từ quả mít và người dân trồng cây mít vừa lấy quả, vừa lấy gỗ. Nên mít cũng có thể coi là một loại cây trồng lâu năm trong vườn nhà của khá nhiều hộ nông dân ở Thanh Chương và một số địa phương khác. Nhưng kỹ năng làm nhút cũng là một “tay nghề” hiểu theo sự tương đối. Nên sự phân định này đối với nhút Thanh Chương không quá quan trọng bởi dù thế nào thì nó cũng là một đặc sản gắn với người nông dân Thanh Chương. Ở đây, việc lựa chọn loại “nông sản” này để phân tích chuỗi hàng hoá vì nó dựa vào nguồn tài liệu chúng tôi có và nó liên quan đến khái sự phân tích không gian xã hội đang được đề cập đến trong bài viết này.

Nhút Thanh Chương là sản phẩm đặc sản địa phương của người nông dân ở huyện Thanh Chương. Nhưng không phải tất cả người dân ở các xã trong huyện đều làm và làm ngon, mà cũng phân chia ra khá đa dạng. Có những làng có nhiều hộ gia đình làm nhút để bán. Nhưng cũng có nhiều làng đã nhiều năm nay người dân không làm nhút nữa. Tuy nhiên, tên gọi Nhút Thanh Chương vẫn được dùng chung. Chúng tôi khảo sát một xã có 7 hộ gia đình chuyên sản xuất nhút để bán ra thị trường và thấy chuỗi hàng hoá nhút này như sau:

Trước hết là nhóm cung cấp nguyên liệu (là quả mít để làm nhút và một số gia vị, nguyên liệu khác). Ban đầu, 7 hộ gia đình kia thu gom những quả mít của các hộ gia đình xung quanh để về làm nhút. Nhưng khi phát triển, nhu cầu nguyên liệu nhiều hơn mà họ không trực tiếp đi thu mua được nên phải mua lại của người khác. Một số người có quan hệ thân thiết đã đi mua mít của các gia đình khác, thậm chí phải đi đến các xã khác để thu mua mít rồi về bán lại cho các hộ gia đình làm nhút. Nhiều người tự mang mít nhà mình đến bán cho người sản xuất nhút mà không qua trung gian nữa. Có lúc nhu cầu nguyên liệu lên cao thì có gần chục người khác đi thu mua mít quả về bán lại cho những gia đình sản xuất nhút. Như vậy, không gian xã hội của nhóm cung cấp nguyên liệu chủ yếu ở khu vực nông thôn, gắn với địa phương sản xuất nông sản và vùng xung quanh.

Thứ hai là nhóm sản xuất nhút. Ở đây là 7 hộ gia đình chủ yếu sản xuất để bán. Trong đó bao giờ cũng có một người (thường là phụ nữ) có kinh nghiệm trong việc làm nhút sao cho ngon. Họ cũng có am hiểu về món đặc sản này và giải thích lý do vì sao nhút của mình lại là đặc trưng cho món Nhút Thanh Chương và họ giải thích theo cách hiểu của họ cũng như cách làm của họ. Cách giải thích vừa có cái chung, vừa có cái riêng và cũng tạo ra những điểm riêng cho sản phẩm mỗi gia đình dựa vào cái chung là hương vị Nhút Thanh Chương. Để sản xuất nhút, 7 gia đình này luôn có quan hệ với một số người khác chuyên đi thu mua mít cung cấp nguyên liệu cho họ. Thường là những người có quan hệ thân thiết. Và đặc biệt, các gia đình này đều có mạng lưới quan hệ với các đại lý, các nhà phân phối nhút ở nhiều nơi. Cả 7 hộ gia đình này đều có 2-3 điểm bán nhút ở dọc đường quốc lộ là mua sản phẩm của họ. Ngoài ra là những người bán hàng của họ ở Vinh, Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng. Gia đình nào làm nhút ngon thì có nhiều điểm bán hàng hơn và khi có mạng lưới phân phối rộng lớn hơn thì họ dễ mở rộng sản xuất hơn. Không gian xã hội của những người sản xuất nhút thường bó hẹp hơn các nhóm khác.

Thứ ba là mạng lưới kinh doanh, phân phối nhút. Trước hết là các điểm bán hàng ở dọc đường quốc lộ. Hàng loạt các quán tạp hoá đều có một tủ hàng bán Nhút Thanh Chương và nhiều người trong số họ là kênh phân phối sản phẩm của các hộ gia đình sản xuất nhút nói trên. Sau đó là các điểm bán hàng ở TP Vinh, nơi cung cấp cho các quán nhậu và những người thích ăn món ăn truyền thống này. Thư ba là các đại lý ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Chủ yếu là con em những gia đình sản xuất nhút hoặc có quan hệ thân thiết. Họ đặt hàng cho các gia đình này sản xuất và tuỳ theo số lượng mà có thể gửi theo xe ô tô khách hoặc chở bằng xe trọng tải nhỏ cung cấp đến đại lý. Không gian xã hội của nhóm kinh doanh, phân phối lại rộng lớn hơn, lúc này không còn trong địa phương sản xuất nông sản mà vươn ra các khu vực khác rộng lớn hơn.

Thứ tư là mạng lưới tiêu thụ, là những người mua nhút về ăn. Chủ yếu là những người quê Thanh Chương đi ra ngoài kiếm sống nhưng vẫn muốn ăn món ăn truyền thống của mình nên mua mang đi. Hoặc một số khách lạ muốn thưởng thức cho biết đặc sản này hay đi du lịch rồi mua về làm quà. Nhìn chung, các điểm bán nhút ở đường quốc lộ trong địa phương thì bán cho con em đi xa hoặc một vài du khách đi ngang qua. Các điểm bán nhút ở thành phố Vinh cung cấp nhút cho các quán nhậu và những người có nhu cầu ăn món này mà họ quen biết. Còn ở Hà Nội, Sài Gòn hay Đà Nẵng thì chủ yếu cung cấp cho mạng lưới người Nghệ (chủ yếu là người Thanh Chương) sinh sống, học tập và làm việc tại đây. Không gian xã hội của nhóm này lại vô cùng rộng lớn, nhưng có chung mối quan hệ nào đó về văn hoá, xã hội với người Thanh Chương.

Như vậy, mỗi nhóm tham gia vào chuỗi hàng hoá này đều là một không gian xã hội và mạng lưới xã hội khác nhau và có quan hệ với nhau. Và cả chuỗi hàng hoá này cũng tạo thành một mạng lưới xã hội rộng lớn trong một không gian xã hội rộng lớn có quan hệ phức tạp mà trong đó có mối quan hệ quan trọng liên quan đến đặc trưng văn hoá Thanh Chương. Và trong chuỗi hàng hoá đó, sự phân chia lợi ích cũng khác nhau. Xin lấy ví dụ, một bình Nhút Thanh Chương được bán ở Hà Nội với giá 55 ngàn đồng thì lợi ích sẽ có sự phân chia như sau. Thứ nhất, để sản xuất một bình nhút như vậy mất 2kg mít làm nguyên liệu vị chi mất 10 ngàn đồng. Người sản xuất bỏ thêm công sức và thêm một số nguyên liệu, gia vị khác và bán cho đại lý với giá 30 ngàn đồng. Đại lý mua nhút về và bán lại cho người tiêu dùng với giá 55 ngàn đồng. Theo đó, người cung cấp nguyên liệu thu được 10 ngàn đồng, người sản xuất thu được 20 ngàn đồng và người phân phối, kinh doanh thu được 25 ngàn đồng. Về mặt kinh tế là vậy, nhưng lợi ích còn được thể hiện trên nhiều phương diện khác. Những người cung cấp nguyên liệu có thể thu được ít tiền nhất nhưng họ chấp nhận vì ở quê không có nhiều việc làm và họ có thể tranh thủ làm việc này vào thời gian thích hợp. Hơn nữa, nguồn thu nhập đó cũng có giá trị với họ trong điều kiện kinh tế nông thôn. Người sản xuất thu nhập cao gấp đôi người cung cấp nguyên liệu nhưng họ phải đầu tư nhiều thứ, trong đó có cả kinh nghiệm, kỹ năng làm nhút. Và họ cũng nhận được sự trân trọng của những người khác khi góp phần phát huy giá trị văn hoá địa phương. Còn người kinh doanh nhận được nhiều tiền nhất. Nhìn có vẻ họ bỏ ra ít công sức, nhưng thực ra họ là người phải đầu tư nhiều vào mạng lưới xã hội của mình để thực hiện việc này. Và mạng lưới xã hội rộng lớn để phân phối không phải ai cũng có điều kiện và có thể làm được. Nếu xem xét như vậy, sư phân chia lợi ích đó khá hài hoà và được các bên tham gia chấp nhận.

Tóm lại, phân tích không gian xã hội là một cách tiếp cận chuỗi hàng hoá nông sản trong nghiên cứu phát triển. Nó có nhiều lợi thế khi đưa các chuỗi hàng hoá nông sản vào phân tích một cách toàn diện hơn trong các mối quan hệ phức tạp của nó. Phân tích không gian xã hội không chỉ cung cấp thông tin về mặt kinh tế của các chuỗi hàng hoá mà còn đưa ra những lý giải về văn hoá xã hội của các nhóm tham gia vào chuỗi hàng hoá đó. Và nó cũng tạo cơ sở nền tảng để đưa ra những gợi mở cho việc xây dựng và phát triển các chuỗi hàng hoá nông sản một cách bền vững. Trong bối cảnh các địa phương đang đẩy mạnh thương mại hoá các nông sản địa phương ra thị trường rộng lớn hơn thì cách phân tích này cần thiết để nhận thức lẫn vận dụng vào thực tiễn./.

Tài liệu tham khảo

Barnes, J. A. (1954), Class and Committees in a Norvegian Island Parish, Human Relations, VII, 1, pp.39-58.

Claire Tugault-Lafleur and Sarah Turner (2009), The price of spice: Ethnic minority livelihoods and cardamom commodity chains in upland northern Vietnam, Singapore Journal of Tropical Geography 30, tr.388-403.

Christine Bonnin and Sarah Turner (2011), Livelihood Vulnerability and Food Security among Upland Ethnic Minorities in Northern Vietnam, Kasarinlan: Philippine Journal of Third World Studies 26 (1–2), tr.324-340.

Trần Trung Dũng (2014), Nguồn gốc và khái niệm không gian xã hội trong nghiên cứu xã hội học.  Tạp chí Giáo dục, số tháng 9, tr. 89-91;

Ellis, Frank (1993): Peasants Economics: Farm Households and Agrarian Devolopment, 2ndEdition, Cambridge University Press.

Jean Michaud (2010), Nghiên cứu về kinh tế và bản sắc của người H’mông ở Việt Nam, In trong Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.42-70.

Sarah Turner, Jean Michaud (2016), Sinh kế nơi biên cương: sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt-Trung, In trong Nhân học ở Việt Nam: một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo. Nxb Tri thức, Hà Nội, tr.315-334.

Jean Michaud and Sarah Turner (2016), Tonkin’s uplands at the turn of the 20th century: Colonial military enclosure and local livelihood effects, Asia Pacific Viewpoint, Vol. 57, No. 2, pp.154–167.

Jean Michaud and Sarah Turner (2006), Contending visions ò hill-station in Vietnam. Annals of  Tourism Research,  Vol. 33,  No. 3,  pp. 785-808

Sarah Turner (2017), A Fortuitous Frontier Opportunity Cardamom Livelihoods in the SinoVietnamese Borderlands. In: Dan Smyer Yü & Jean Michaud (eds.), “Trans-Himalayan Borderlands. Livelihoods, Territorialities, Modernities”. Amsterdam: Amsterdam University Press, pp.263-283.

Sarah Turner (2012), “Forever Hmong”: Ethnic Minority Livelihoods and Agrarian Transition in Upland Northern Vietnam,The Professional Geographer, 64:4, pp.540-553.

Lê Minh Tiến (2006), Phương pháp phân tích mạng lưới xã hội trong nghiên cứu xã hội, Tạp chí Khoa học xã hội số 9, tr.66-77.

Nghiêm Phương Tuyến, Masayuki Yanagisawa (2008), Quá trình phát triển mạng lưới thị trường tại một huyện vùng núi phía Bắc Việt Nam. In trong “Thời kỳ mở cửa: Những chuyển đổi kinh tế - xã hội ở vùng cao Việt Nam”, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.

 

 

Diễn đàn khác:
COVID-19 và những thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (28/7/2021)
Nông thôn mới phải mới cả “tam nông” (13/7/2021)
Báo chí khoa học ở Việt Nam: Ước mơ còn dang dở (2/7/2021)
Nền kinh tế trong đại dịch: Phao cứu sinh của nhà nước? (2/7/2021)
Hạn chế bất bình đẳng đến từ chính sách hỗ trợ (1/7/2021)
Không gian xã hội của các chuỗi hàng hóa nông sản (30/6/2021)
Gia đình Việt Nam hiện nay: Truyền thống hay hiện đại? (26/6/2021)
Chống dịch Covid: Cần lắm những chốt chặn từ mỗi chúng ta (22/6/2021)
Báo chí cách mạng Việt Nam - Cội nguồn, đặc trưng, trọng trách (20/6/2021)
Dự báo dịch tễ học COVID-19: Cần một cơ sở dữ liệu lớn, chi tiết (25/5/2021)
Nữ quyền đầu thế kỷ XX: Như vệt sao băng (7/5/2021)
Từ “giải cứu” quýt PQ đến hiện tượng “giải cứu” nông sản - Lời giải khó cho bài toán cũ (5/5/2021)
Bàn tròn tháng 3: Thầy, cô có hạnh phúc? (9/4/2021)
Nhiều văn bản và nhiều sự trăn trở (9/4/2021)
Từ quy định “Phân hạng” đạo đức giáo viên, nghĩ về ngôi vị người thầy trong giáo dục hiện đại (9/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,910 | Tất cả: 3,198,191
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp