ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > KHÁM PHÁ XỨ NGHỆ AN
Tri thức bản địa về nghề thủ công truyền thống dân tộc Thổ miền Tây Nghệ An
Tin đăng ngày: 30/6/2021 - Xem: 99
 

                                                                                        LÊ THỊ HIẾU

Dân tộc Thổ là một trong số các dân tộc thiểu số có số lượng dân cư tương đối đông ở miền núi phía Tây Nghệ An. So với các dân tộc khác như Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu thì dân tộc Thổ có nhiều nét đặc biệt hơn: Đây là một cộng đồng được tập hợp từ nhiều nhóm khác nhau và sinh sống trên một vùng lãnh thổ địa lý cách xa nhau, nhưng có chung một số nét đặc trưng chung về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

Xuất hiện trong “Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam” năm 1979, “Dân tộc Thổ” được công nhận là tộc danh chung của các nhóm địa phương như Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Con Kha, Xá Lá Vàng. Điều đó cho thấy rằng, cái gọi là “Dân tộc Thổ” thực chất là “một sản phẩm của quá trình sản xuất tri thức về tộc người”. Tri thức nghề thủ công truyền thống của người Thổ mang nhiều nét đặc trưng riêng về văn hoá của người Thổ trong quá trình phát triển.

Upload

Thiếu nữ dân tộc thổ và trang phục truyền thống

  1. Tri thức bản địa về nghề thủ công của người Thổ

1.1. Tri thức trong đan lát

Nghề đan lát khá phát triển ở người Thổ vùng Tân Kỳ, Con Cuông, Tương Dương. Sản phẩm chủ yếu là đồ dùng sinh hoạt trong gia đình và sản xuất như: rổ, rá, nong nia, dần sàng, thúng mủng, giỏ xôi, giỏ mang 1 bên vai…

 Người Thổ có cách riêng trong khai thác và chế biến nguyên liệu. Những nguyên liệu được chọn chủ yếu cây tre, cây vầu, cây nứa, cây mây, cây giang. Những nguyên liệu này có sẵn nơi đồng bào sinh sống.

 Mỗi loại sản phẩm đan lát người Thổ có cách chọn nguyên liệu riêng. Loại tre bánh tẻ, to, lóng dài được dùng cho đan nống - dụng cụ để phơi thóc, khoai, sắn, đậu.

Cây vầu có độ dẻo, cứng thường làm nan đan nong, nia, giần, sàng; giang rất thuận tiện cho việc làm nan rá, rổ rửa rau; tre gai thân chắc, ruột đặc, được làm rổ lớn, thúng; nứa to, nứa nhỏ (nứa trầu) dùng để đan bồ đựng thóc, thuyền chở thóc, chở phân, đi đánh cá trên ruộng sâu, sông suối. Người Thổ dùng cây mây là nguyên liệu dùng để buộc, nức, cạp miệng các loại sản phẩm đan.

Theo kinh nghiệm dân gian người Thổ thời điểm khai thác nguyên liệu đan là thời kỳ mùa đông từ tháng 9 đến tháng 12 (âm lịch) là tốt nhất. Theo người Thổ thời tiết khô ráo, không mưa, các loại tre nứa, giang vầu hút nước ít, sản phẩm làm ra không bị mọt, gẫy.

Tre, vầu, giang, nứa, mây khai thác về được chẻ thành nan, vuốt nhẵn để lên gác bếp cho nan khô để dùng dần trong năm. Để đan được những sản phẩm đẹp và bền thì họ phải lựa chọn được nguyên liệu tốt. Thường thì họ chọn những cây tre, nứa hay mây to, lóng đều và không bị sâu mọt. Về cắt khúc ra theo lóng và theo kích cỡ sản phẩm cần đan. Phải những người có kinh nghiệm thì mới lựa chọn được những cây nguyên liệu tốt để đan lát. Sau khi chặt được nguyên liệu về thì họ cắt khúc rồi chẻ mỏng để đan. Có gia đình còn ngâm nan tre với nước muối, phơi khô rồi mới để lên gác bếp. Nhiều gia đình người ta thường ngâm tre xuống nước một thời gian vừa chống mối mọt, vừa bền hơn.

Riêng người Tày Pọong để sản phẩm đẹp hơn thì nhiều người còn biết đi kiếm lá, cây rừng về làm thuốc nhuộm để nhuộm các nguyên liệu rồi mới đem đan tạo nên những hoa văn bắt mắt trên những dụng cụ của họ, nhất là làm ép xôi. 

Về dụng cụ đan lát: Người Thổ dùng dao, cái nêm, dùi đục. Dao của người thợ đan có đặc điểm là bản to, lưỡi dầy, sắc, dài khoảng 50 - 60 cm. Loại dao này có ưu điểm là chắc, khoẻ và sắc; khi pha tre, nứa không bị cong vênh và mẻ lưỡi. Nêm là dụng cụ để đẩy cho các nan vào đúng vị trí mong muốn của người đan. Dùi đục là dụng cụ đóng lên đầu nêm.

Ngoài những dụng cụ cơ bản này, có người còn chuẩn bị thước, dây chỉ, đinh, mực để đo kích thước cho sản phẩm, vẽ vòng tròn cho mảnh đan, v.v.

 Kỹ thuật đan: Tuỳ theo loại sản phẩm mà người ta quyết định loại hình kỹ thuật đan nào. Đan nống, mẹt, nong, nia, thuyền người ta đan theo hình thức “lóng thuyền”, tức những sản phẩm này đan theo kiểu đan thuyền. Đây là kiểu đan bắt 5 đè 2. Kỹ thuật này thực hiện như sau: sau khi rải nan “công” (nan đặt cố định), người ta đưa nan đan vào theo thứ tự 5 nan phía trên, 2 nan phía dưới, cứ đan như vậy đến khi hoàn chỉnh một “mê” đan trước khi đưa vào “lận cạp” - tạo dáng sản phẩm. Đan thúng, mủng theo kỹ thuật đan lóng 3, tức bắt 3 đè 2. Đan rổ, sáo (loại rổ to), bồ đựng thóc theo kỹ thuật đan 2, tức bắt 2, đè 1. Giần, sàng, rá vo gạo, rổ nhỏ rửa rau được đan lóng mốt, tức bắt 1 đè 1.

Ngoài ra, để đan lồng chim, bu gà, sọt,… người ta đan kiểu mắt cáo. Trong nghề đan, khó nhất là công đoạn vào cạp. Công đoạn này không phải người thợ nào cũng làm được, mà chỉ là những người khoẻ, khéo tay. Vì các mê đan là một tấm phẳng, nên để có sản phẩm là chiếc nống có hình tròn, cái thúng, mủng hình nửa quả cầu,… người thợ đan cho chúng vào một cái khuôn và cố định lại qua chiếc cạp bục sợi mây chắc chắn.        

Những sản phẩm đan lát nổi tiếng của người Thổ  như ép xôi, ghế mây, nống, sảo, rổ, gùi, các dụng cụ đánh bắt cá như oi, đơm, đó… Ngày trước, không dễ để mua bán các đồ dùng như hiện nay nên đan lát chính là sự tự túc tốt nhất để phục vụ sản xuất và sinh hoạt của các gia đình. Nếu gia đình nào không có người biết đan lát thì phải mang thóc lúa đi đổi lấy dụng cụ để sử dụng.

Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, nghề đan lát của người Thổ đang ngày càng mai một và có dấu hiệu mất mát. Những đồ dùng thiết yếu như thúng, mủng, rổ, rá, ghế, bàn, các dụng cụ đánh bắt cá đều có thể mua dễ dàng ngoài chợ nên người ta không còn đan lát nữa. Chỉ còn một ít người già còn nhớ nghề và thích sử dụng đồ đan truyền thống họ tự đan để dùng.

Upload

   1.2 Tri thức dệt thủ công 

Trước đây, hầu hết phụ nữ Tày Poọng đều biết trồng bông, trồng đay, xe sợi, dệt vải, nhuộm vải và may quần, váy, áo để sử dụng. Trình độ dệt may cũng được cộng đồng xem như là một trong những giá trị để đánh giá về người phụ nữ. Cô gái nào khéo tay, may được những bộ trang phục đẹp thì đương nhiên cũng được nhiều chàng trai mến mộ, theo đuổi. Người Tày Poọng trồng cây bông, cây đay, cây gai trên nương rẫy. Khi thu hoạch về thì họ quay thành sợi rồi dệt thành các tấm vải thô. Họ sử dụng các cây, lá rừng để nhuộm vải cho bền hơn, đẹp hơn rồi may thành các bộ trang phục truyền thống sự dụng trong gia đình. Có những lúc, một số người đã may được nhiều đồ để đem đi trao đổi cho những người xung quanh để có thêm những vật phẩm thiết yếu.

Nhưng rồi dần dần, cùng với sự xuất hiện của các hàng hóa thị trường, nghề dệt may của người Tày Poọng cũng mất dần và trang phục truyền thống cũng ngày càng ít người sử dụng. Theo những người già trong làng thì nghề dệt may ở bản Phồng bắt đầu mai một vào đầu những năm 2000. Nhưng trước đó, sự giao lưu với các cộng đồng xung quanh, đặc biệt là người Thái cũng đã làm cho nghề thủ công này hạn chế vì nhiều người đã mua vải, thậm chí áo quần từ người Thái để sử dụng. Sau này là quần áo từ dưới xuôi mang lên với nhiều mẫu mã khác nhau mà giá cả hợp lý nên thanh niên chủ yếu mua trang phục ngoài chợ để mặc. Chỉ một vài người già vẫn dệt may và mặc đồ truyền thống nhưng dần rồi cũng thay đổi. Hiện nay, cả bản Phồng không còn ai dệt vải và may trang phục truyền thống nữa. Và những kỹ năng liên quan đến nghề thủ công này hiện nay cũng không được những người trẻ tuổi tiếp nhận nữa.

1.3. Tri thức sản xuất các sản phẩm thủ công từ cây gai

Người Thổ ở vùng Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp có nghề trồng gai phát triển bên cạnh cây lúa. Gắn liền với sản phẩm gai là các nghề đan võng, đan chài, đan vó, đan lưới đánh cá và lưới săn thú, v.v.

Sợi gai bền hơn sợi bông 2 lần và sợi lanh 2 lần rưỡi. Người Thổ thử giặt 150 lần rồi dùng kính hiển vi soi không thấy sợi gai bị gẫy. Nó có sức chịu đựng tốt trong môi trường ẩm ướt, trong nước mặn và chất béo. Ngoài việc dệt vải may mặc, người ta còn dùng sợi gai làm các loại vải dù, vải lót lốp xe, các loại dây cua - roa chạy máy, dây giật lựu đạn và nhất là để bện các loại lưới săn thú, lưới đánh cá nước ngọt, lưới dánh cá nước mặn…

Đối với người Thổ, cây gai đã gắn bó mật thiết từ lâu đời. Gai có mặt trong nhà, ngoài ruộng rẫy, dưới sông nước. Cây gai cho họ biết bao đồ nghề, vật dụng không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. Võng gai là đồ dùng quen thân trong mỗi gia đình họ. Có nhiều cỡ võng rộng hẹp, dài ngắn khác nhau, song người ta quen phân biệt “võng mắt bốn” hoặc “võng mắt ba”, không tính theo kích thước mà tính theo số sợi cấu tạo nên mắt võng. Người ta cũng bện võng bằng sợi đay, nhưng chất lượng kém hơn võng gai (sức chịu đựng của võng đay chỉ bằng 36% so với võng gai).

Để săn thú, người Thổ đan tấm lưới gai săn thú rất đồ sộ: dài 9 - 10 m, rộng 3 - 4 m, đường kính thiết diện sợi lưới 1,5 cm, tốn 30 - 40 kg sợi gai.

Trước đây người Thổ dùng sợi gai để dệt vải làm váy phụ nữ, làm chăn và một số đồ dùng khác.

Cách chế biến sợi gai: Để có được sợi gai, người ta bóc vỏ của cây gai, dùng chày gỗ đập dập, đem ngâm nước 1 - 2 ngày cho “thịt” gai thối rữa để còn lại xơ. Sau đó họ đem xơ luộc trong vòng 1 - 2 giờ, rồi vớt ra phơi khô. Khi đã có sợi gai khô, người ta dùng dao nhỏ tước sợi thành các sợi mảnh, để đưa vào guồng xe sợi.

Công cụ xe sợi gai giống sợi bông và cũng không khác gì công cụ của các dân tộc láng giềng như Mường, Thái.

Cách thức dệt vải: Mắc sợi dọc vào khung cửi là công đoạn quan trọng nhất trước khi dệt. Cách mắc sợi tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm. Mắc sợi là luồn sợi qua bàn hạt, lược dập (khuôn vải), go. Số sợi được mắc là sợi dọc, ở hai bên mép vải được mắc chập đôi để biên vải cứng, không bị rách. Khi mắc sợi dọc xong, sợi được cuộn vào trục cuộn vải. Sợi ngang được cuộn vào ống tơ (đặt trong lòng thoi) để đưa qua đưa lại theo nhịp lên xuống của go.

Thao tác dệt vải được thực hiện khi chân trái dận bàn đạp (chân đòn) go, thì tay trái lao thoi, khi thoi được lao sang bên tay phải, tay kia bắt thoi, chân phải dận thì tất phải lao thoi sang bên kia, lúc này lấy lược dập cho sợi ngang sít vào nhau. Khi dập phải đều tay để cho tấm vải phẳng và mịn.  

Upload

Đan võng gai - Nghề truyền thống của người Thổ

  1. 3. Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển nghề thủ công truyền thống của người Thổ

3.1. Những vấn đề đặt ra

Trong bối cảnh hiện nay, để sử dụng, vận dụng các tri thức bản địa nghề thủ công truyền thống của người Thổ vào quá trình phát triển cần phải tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Cũng như các cộng đồng khác, tri thức đan lát, tri thức dệt của người dân tộc Thổ đang bị mai một và mất mát theo thời gian. Nó vừa là hệ quả của quá trình biến đổi văn hoá xã hội nội tại lẫn những tác động từ bên ngoài. Nhưng nhìn chung, các tri thức đan lát, đặc biệt tri thức dệt của người Thổ đang bị mất đi hoàn toàn… Và nếu không kịp thời sưu tầm và hệ thống hoá thì đến một lúc nào đó việc này lại càng thêm khó khăn hơn.

Vấn đề đặt ra ở đây là cần coi trọng việc sưu tầm và hệ thống hoá các tri thức bản địa của người Thổ. Việc sưu tầm và hệ thống hoá hiện nay đóng vai trò quan trọng bởi nó tạo ra cơ sở dữ liệu để bảo tồn và phát huy được các giá trị tri thức bản địa nghề thủ công truyền thống.

Thứ hai: Nhận thức lại đối tượng tác động đến việc sử dụng các tri thức địa phương trong bối cảnh hiện nay. Dưới tác động của kinh tế thị trường, những sản phẩm thủ công của người Thổ đem lại hiệu quả kinh tế thấp nên không được người dân quan tâm và xem đó là một nguồn sống. Trước đây người Thổ thực hành tri thức đan lát, tri thức dệt trong cuộc sống hàng ngày của họ, chính những tri thức này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu đời sống của họ. Hiện nay do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên những tri thức này không còn được sử dụng nhiều trong đời sống, nguy cơ mai một tri thức ngày càng cao.

3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy tri thức bản địa về nghề thủ công trong phát triển kinh tế - xã hội

Nghề dệt của người Thổ hiện nay đã bị thất truyền, việc khôi phục nghề dệt truyền thống trở nên cấp bách. Các địa phương có đồng bào Thổ cần xây dựng đề án khôi phục nghề dệt truyền thống của dân tộc mình. Các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ cần có đề án riêng để khôi phục và phát triển nghề dệt, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện cho các hộ làm nghề dệt thủ công truyền thống kết hợp sử dụng máy dệt trong sản xuất để bắt kịp nhu cầu, của thị trường.

Hội phụ nữ, các tổ chức đoàn thể vận động chị em thành lập các tổ nhóm khôi phục nghề dệt. Chính quyền địa phương cần khuyến khích, kêu gọi người dân nhận thức được vai trò của nghề dệt truyền thống cùng chính quyền địa phương khôi phục nghề dệt truyền thống.

Xây dựng thị trường tiêu thụ về sản phẩm dệt cho người Thổ, từng bước giới thiệu quảng bá sản phẩm dệt đến với khách hàng. Cải tiến sản phẩm vừa mang nét đặc trưng riêng văn hóa người Thổ vừa phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

Đối với sản phẩm đan lát

Tuyên truyền, vận động người dân lưu giữ nghề đan lát. Khuyến khích  cộng đồng người Thổ sử dụng sản phẩm đan lát của dân tộc mình. Tìm kiếm thị trường tiêu thụ bằng cách đa dạng hoá sản phẩm đan lát đến với người tiêu dùng.

Khảo sát nhu cầu thị trường, xây dựng các tổ hợp tác xã đan lát, khuyến khích người già trao truyền nghề nghiệp cho thế hệ trẻ.

Hội nông dân, hội phụ nữ ngoài tuyên truyền vận động người dân tham gia sản xuất phát triển nghề thủ công truyền thống, cần hỗ trợ nguồn vốn vay để sản xuất, tạo nguyên liệu, tìm kiếm thị trường phát triển nghề mây tre đan.

Bên cạnh tạo thương hiệu sản phẩm đan lát cho đồng bào người Thổ cần tạo thương hiệu sản phẩm mây tre đan riêng của người Tày Poọng bởi vì hiện nay người TàyPọong có nhiều sản phẩm đẹp về hoa văn lẫn độ bền như ép xôi, ghế mây, nống, sảo, rổ, gùi, các dụng cụ đánh bắt cá như oi, đơm, đó… Nhiều người Tày Poọng còn biết cách nhuộm màu các thanh tre, mây, nứa để tạo ra những hoa văn cực kỳ bắt mắt trên những dụng cụ của họ, nhất là làm ép xôi. Quảng bá rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng biết đến sản phẩm của người Tày Poọng.

Tại các hợp tác xã làng nghề khuyến khích làm ra các sản phẩm có hoa văn truyền thống và sử dụng các nguyên liệu tự nhiên. Mở rộng các vùng trồng nguyên liệu để sản xuất.

Đồng bào Thổ cần phải chủ động nâng cao tay nghề, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Về phía các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần quan tâm và tạo điều kiện để phát triển nghề đan lát xem đây vừa là một giải pháp phát triển kinh tế, vừa là một hình thức giữ gìn nghề truyền thống của người Thổ.

Khuyến khích sử dụng các vật dụng đan lát của người Thổ trong gia đình. Mở rộng hình thức quảng bá ra bên ngoài các sản phẩm đan lát cho khách du lịch.

Ngoài ra cần có thêm các chính sách đồng bộ về đào tạo nghề, hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất, mở rộng tiêu thụ sản phẩm thông qua ký gửi, trưng bày tại các khách sạn, đại lý, các kỳ hội chợ triển lãm ở các thành phố, điểm du lịch, giới thiệu quảng bá với du khách trong và ngoài nước.

Để đan được những sản phẩm đẹp và bền thì họ phải lựa chọn được nguyên liệu tốt. Nguyên liệu là tre, nứa, mây… tuỳ thuộc vào việc đan cái gì. Thường thì họ chọn những cây tre, nứa hay mây to, lóng đều và không bị sâu mọt.

Đối với sản phẩm Võng Gai

Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Võng Gai cho người Thổ. Đầu tư kinh phí, nguồn lực để xây dựng các HTX đan Võng Gai. Mỗi huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ cần có đề án phát triển xây dựng sản phẩm Võng Gai, quảng bá thương hiệu sản phẩm của đồng bào tới người tiêu dùng.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Lã Văn Lô (1957), Số liệu về tình hình và đặc điểm các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tập san Dân tộc, số 6, trang 11-21.
  2. Lã Văn Lô (1962), Bàn thêm về tiêu chuẩn để xác minh thành phần các dân tộc thiểu số. Tập san Dân tộc, số 36.
  3. Nguyễn Đình Lộc (2009), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An.
  4. Quán Vi Miên (2013), Văn hóa dân gian dân tộc Thổ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
  5. Nguyễn Thị Thanh Nga (2004), Một số nghề thủ công truyền thống của người Thổ, Tạp chí Dân tộc học, số 3, trang 26-30.
  6. Lê Mai Oanh (2010), Văn hóa vật chất người Thổ, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Noi gương Tổng Bí thư Hà Huy Tập - để tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh (15/7/2021)
Bàn về tính gàn của nhà Nho xứ Nghệ (14/7/2021)
Tiến sĩ Hồ Sỹ Đống giao lưu với sứ thần Triều Tiên (13/7/2021)
Chuyện về người Tam Lễ hay nói trạng? (2/7/2021)
Vua Lê Trang Tông và truyền thuyết Đình Long Thái (1/7/2021)
Danh thần Đoàn Nhữ Hài (1/7/2021)
Một dòng họ có truyền thống yêu nước trên vùng đất Hồng Lĩnh (1/7/2021)
Tri thức bản địa về nghề thủ công truyền thống dân tộc Thổ miền Tây Nghệ An (30/6/2021)
Đền Bà Chúa Chè Hạnh Lâm - Sự tích - Sắc phong và Văn bia có những điều dị biệt? (4/5/2021)
Vị thế địa - chiến lược của Nghệ An trong sự nghiệp giữ nước thời phong kiến (4/5/2021)
Di sản tư tưởng Phan Châu Trinh và bài học của chúng ta (Từ tác phẩm “Đạo đức và luân lý Đông - Tây”) (4/5/2021)
Những đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc (28/4/2021)
Du lịch Cửa Lò hướng đến “An toàn - thân thiện - mến khách” (15/4/2021)
Tình bạn “Chung Kỳ, Bá Nha” của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu (9/4/2021)
Một số trò chơi dân gian của đồng bào dân tộc Thái tại lễ hội Bươn Xao Tiên Kỳ (9/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,931 | Tất cả: 3,198,212
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp