KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống: Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa, phát triển thị trường văn hóa
Tin đăng ngày: 30/6/2021 - Xem: 152
 

Nguyễn Khắc Thuần 

Công nghiệp văn hóa là một ngành công nghiệp mới nổi lên bao gồm các hoạt động sản xuất sản phẩm, dịch vụ văn hóa gắn với yếu tố sáng tạo. Nó nằm trong kinh tế công nghiệp, kinh tế dịch vụ và kinh tế số. Là giao điểm của nghệ thuật, kinh doanh và KHCN, là cầu nối giữa bản sắc văn hóa quốc gia và hội nhập quốc tế, là sự gắn kết giữa ý tưởng sáng tạo và ứng dụng KHCN đặc biệt là công nghệ số(1).

  1. Dẫn nhập

Thuật ngữ “Công nghiệp văn hóa” (CNVH) lần đầu tiên xuất hiện năm 1944 trong cuốn sách “Diale citie of Enoghten ment” của hai GS.TS, nhà nghiên cứu người Đức là Adomo và Horkenmer. Các học giả này cho rằng: CNVH làm cho văn hóa bác học và văn hóa bình dân gặp gỡ, đồng thời phản bác quan điểm văn hóa tự nảy sinh từ đại chúng trong điều kiện hiện nay vì khi ra đời các sản phẩm văn hóa đã được tính toán kỹ cho nhu cầu của đại chúng. Do đó chúng ít nhiều được sản xuất theo kế hoạch. Ở đây chữ “Công nghiệp” không nhằm chỉ quá trình sản xuất mà chỉ sự tiêu chuẩn hơn các sản phẩm cũng như hợp lý hơn kỹ thuật liên quan đến việc cung ứng, phân phối sản phẩm văn hóa. Andomo và Hor Knei cũng phê phán sự khai thác thương mại tính sáng tạo của con người(2).

Năm 1982 UNESCO cho rằng: CNVH xuất hiện khi các hàng hóa và dịch vụ văn hóa được sản xuất và tái sản xuất, được lưu trữ và phân phối trên dây chuyền công nghiệp và thương mại tức là quy mô lớn, phù hợp với các chiến lược kinh tế hơn là phát triển văn hóa. Trong những tài liệu gần đây UNESCO cho rằng: CNVH là những ngành sản xuất ra những sản phẩm hữu hình hay vô hình mang tính nghệ thuật, sáng tạo và có tiềm năng sáng tạo ra thu nhập của cải, vật chất thông qua việc khai thác các tài sản văn hóa, sản xuất hàng hóa, dịch vụ dựa trên tri thức văn hóa và sở hữu trí tuệ để sản phẩm văn hóa với ý nghĩa văn hóa xã hội(3). Khái niệm “Công nghiệp” liên quan đến quy mô sản xuất hàng hóa còn khái niệm “Văn hóa” liên quan đến sự trìu tượng, ghép hai khái niệm là một sự cộng sinh sức mạnh tiềm ẩn về văn hóa mà trước đây con người chưa tiếp cận sâu sắc.

Trong một số nghiên cứu, các học giả ghép CNVH với công nghiệp sáng tạo (CNST) là tạo dựng các sản phẩm dịch vụ thương mại hóa cho quần chúng với nội dung nghệ thuật. Sản phẩm hàng hóa mang tính đột phá về    KH-CN và kỹ thuật số.

  1. Bản đồ toàn cầu về CNVH

CNVH ra đời và phát triển mạnh cả về quy mô, tính chất và hiệu quả xã hội là vì nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người ngày càng gia tăng, sản xuất công nghiệp ngày càng phát triển với tốc độ vũ bão. Toàn cầu hóa về văn hóa đã và đang mang lại một lực hấp dẫn mới cho mọi quốc gia, lãnh thổ.

Theo bản đồ toàn cầu về CNVH của    UNESCO (năm 2017) thì tổng doanh thu từ ngành CNVH năm 2016 là 2.250.000 tỷ USD tạo công ăn việc làm cho 129,6 triệu lao động trên toàn cầu. Đặc biệt hơn đây là ngành lao động trẻ cả nghĩa đen và nghĩa bóng khi có tới 70% lao động có độ tuổi từ 15-39. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới công bố năm 2018 tỷ lệ đóng góp doanh thu của ngành CNVH đối với tổng doanh thu toàn cầu là xấp xỉ 4%, thu nhập bình quân của người lao động cao gấp 2,44 lần so với mặt bằng chung của thế giới. Chính vì thế CNVH đang là chìa khóa phát triển của nhiều quốc gia nhất là các nước châu Á (Nhật = 7,1% GDP, Hàn Quốc = 6,4% GDP, Ấn Độ 6,48% GDP, Singapo = 6,47% GDP).

Thực tiễn đã chứng minh, CNVH đang đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì nó chính là ngành công nghiệp có tính mở đường, đột phá, giúp quảng cáo thương nghiệp và khai thác thị trường. Nó sử dụng tài nguyên đầu vào là sự sáng tạo các giá trị văn hóa nên luôn luôn bền vững không gây ô nhiễm môi trường. Các sản phẩm đều có tính dữ liệu có khả năng tái sử dụng cao và gắn liền sử dụng cách mạng 4.0 hiện nay.

Thực tiễn về sự phát triển của ngành CNVH những thập kỷ gần đây cho thấy các nước phát triển, các nước có ngành công nghiệp hiện đại đã tạo được sự đột phá đi trước và mang lại hiệu quả kinh tế to lớn dẫn đến hiệu quả xã hội rộng rãi, hài hòa được hai mục tiêu kinh tế - văn hóa cùng phát triển trực tiếp góp phần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân loại. Những thành tựu về công nghệ thông tin về thương mại quốc tế đã mang sản phẩm của CNVH từ một quốc gia thành đa quốc gia. Sức lan tỏa của sản phẩm từ các ngành CNVH đã rút ngắn khoảng cách, không gian tạo điều kiện để các nước chậm phát triển có thể đón đầu, đi tắt chạm đến được quy mô phát triển nhanh, bền vững.

  1. Chiến lược phát triển CNVH của Việt Nam đến năm 2030

Trong các ngành kinh tế của Việt Nam, CNVH là ngành trẻ nhất cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. CNVH được đề cập đến đầu tiên trong Văn kiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX (khóa XI ngày 9/6/2014). Trong đó nhiệm vụ phát triển CNVH được gắn liền với việc phát triển thị trường văn hóa. Đây là sự kế tục, phát huy, phát triển hệ thống quan điểm “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đã được các Văn kiện của Đảng xác định.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ IX, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 1755/QĐ-TTG ngày 8/9/2016 về “Chiến lược phát triển ngành CNVH đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. Quyết định đã xác định rõ: CNVH là một phạm trù rộng lớn, bao gồm đa lĩnh vực như quảng cáo, kiến trúc, phần mềm và các trò giải trí, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, xuất bản, thời trang, nghệ thuật biểu diễn mỹ thuật, nhiếp ảnh, triễn lãm truyền hình và phát thanh, du lịch văn hóa. Vì vậy CNVH là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực để phát triển CNVH trong đó sự phát triển của các ngành CNVH được dựa trên sự sáng tạo KH-CN và bản quyền trí tuệ, khai thác tối đa yếu tố kinh tế của các giá trị văn hóa. Việc phát triển CNVH có lộ trình, trọng tâm, trọng điểm theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phát huy tối đa lợi thế VN, phù hợp với các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường và được đặt trong tổng thể phát triển KT-XH bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các ngành, các khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng, phát triển CNVH gắn liền với việc quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt nam góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu, hội nhập và hợp tác quốc tế.

Mục tiêu đến hết năm 2020 doanh thu của các ngành CNVH đạt 3% GDP, tạo thêm nhiều công ăn việc làm. Mục tiêu phấn đấu của một số lĩnh vực cụ thể được xác định: Điện ảnh đạt 150 triệu USD trong đó phim Việt đạt 50 triệu USD, nghệ thuật biểu diễn đạt 16 triệu USD, mỹ thuật nhiếp ảnh và triển lãm, khoảng 80 triệu USD, quảng cáo trên truyền hình, phát thanh, báo, tạp chí, internet và quảng cáo ngoài trời đạt khoảng 3.200 triệu USD. Ngành du lịch văn hóa chiếm 15-18% trong tổng số 18-19 tỷ USD. Kỳ vọng đến 2030 các ngành CNVH sẽ đạt 7% GDP để tiến tới đa dạng, đồng bộ và hiện đại tất cả các ngành CNVH một cách bền vững, được ứng dụng công nghệ tiên tiến, các sản phẩm dịch vụ văn hóa có thương hiệu khu vực và quốc tế, đạt tiêu chuẩn các nước phát triển và tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ văn hóa toàn cầu(4).

Không nằm ngoài kỳ vọng, với sự chuyển biến cả trong nhận thức và hành động, thống kê từ các rạp chiếu phim lớn trên cả nước năm 2019 đã đạt 4,1 ngàn tỷ VNĐ (trong đó phim VN chiếm 29%). Các hoạt động du lịch văn hóa đã trở thành 1/4 dòng sản phẩm chính thu hút du khách trong và ngoài nước. Lĩnh vực quảng cáo cũng đã thu được nhiều kết quả nổi trôi, các ngành khác của CNVH cũng tăng trưởng mạnh góp phần to lớn trong quảng bá thương hiệu Việt Nam ra toàn thế giới. Trong năm 2020 và những tháng đầu năm 2021 cũng như hầu hết các ngành kinh tế khác, CNVH cũng phải đương đầu với những khó khăn, thách thức do dịch bệnh Covid-19 gây ra, doanh thu của ngành CNVH Việt Nam không đạt như kế hoạch. Tuy nhiên nhu cầu giải trí, tiếp cận các loại hình văn hóa đã trở thành yêu cầu ngày càng cao với mọi đối tượng. Với những biện pháp chỉ đạo quyết liệt vừa chống dịch vừa tăng trưởng của Chính phủ xu thế phát triển ngành CNVH VN đã đang mở ra nhiều cơ hội mới, đánh thức một tiềm năng phong phú, đa dạng, to lớn của Việt Nam.

Trong dịch bệnh, kinh tế Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng dương, các ngành CNVH vẫn phát triển mạnh đặc biệt là các ngành liên quan đến kinh tế số. Những thành tựu đó đã đạt được nền móng cho việc phát triển đồng bộ, đạt mục tiêu 7% GDP vào năm 2030(5).

  1. Phát triển CNVH theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII

Đặt trong tổng thể tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội Việt Nam phát triển mạnh mẽ KH&CN và đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh CNH - HĐH, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nhanh, bền vững, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục xác định, nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển ngành CNVH gắn với phát triển thị trường văn hóa. Các nội dung văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ cùng lúc phải giải quyết nhiều vấn đề thách thức đang đặt ra cho CNVH. Chỉ rõ: Thách thức đầu tiên đến từ vấn đề pháp lý do thể chế văn hóa Việt Nam chưa hoàn thiện. Tập trung khắc phục nhanh những thiếu sót trong hành lang pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ làm cơ sở quan trọng để bảo vệ doanh nghiệp trước nạn xâm phạm và ăn cắp bản quyền. Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ sản phẩm của ngành CNVH, tạo điều kiện để Việt Nam có các sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia mang chất lượng cấp độ khu vực, quốc tế. CNVH thực sự là một mục tiêu kinh tế trong giai đoạn mới nhằm khai thác tối đa tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa VN, khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa để góp phần quảng bá thương hiệu Việt.

Một số giải pháp cơ bản đã được xác định đó là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, chú trọng phát triển nhận thức, chú trọng phát triển nhân lực chuyên ngành CNVH, hoàn thiện cơ chế chính sánh, tăng cường ứng dụng tiến bộ KHKT, phát triển thị trường gắn với giao lưu và hợp tác kinh tế.

Với những nhận thức mới về CNVH mà Nghị quyết Đại hội XIII đã xác định, với phong trào thi đua đưa Nghị quyết XIII của Đảng vào cuộc sống, phát triển CNVH gắn với phát triển thị trường văn hóa, đưa CNVH thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước đang thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp và cá nhân. Đây là một động lực mới để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng cho phát triển và hội nhập.

 

Chú thích

(1). (2). UNESCO và Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch, tập 3, tr.17, tr.28, Nxb. Thông tin H. 2020.

(3). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia, 2021.

(4). Chiến lược phát triển CNVH đến năm 2030 tầm nhìn 2050, NXB Chính trị Quốc gia - HN - 1999.

(5). Báo Nhân dân số ra ngày 20/1/2021.

KHXHNV & Đời sống khác:
Sống mãi những bài thơ viết về thương binh, liệt sĩ (Bài viết nhân 74 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021) (27/7/2021)
Tri ân các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (27/7/2021)
Ký ức, kỷ niệm về Vinh xưa: Hoài niệm về Rạp 12/9 - Vinh (15/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (13/7/2021)
Vài suy nghĩ về Hiệp định BTA nhân kỷ niệm ngày ký kết (13/7/2021)
Xã hội hóa trong việc tôn tạo, phục hồi di tích nhìn từ đền Nhà Quan (6/7/2021)
Vài nét đặc biệt của Quốc hội khóa I (2/7/2021)
Khi nhà khoa học viết văn… (Đọc “Hai phía chân dung” - Ngẫu văn của Lê Quốc Hán, NXB Nghệ An, 2021) (2/7/2021)
Lễ hội đền Chín Gian từ lịch sử đến đến đời sống tâm linh của người Thái Phủ Quỳ (1/7/2021)
Chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và việc thực hiện ở trường Đại học Kinh tế Nghệ An (1/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (30/6/2021)
Những vị đại biểu Quốc hội khóa I hy sinh vì nước (30/6/2021)
Đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống: Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa, phát triển thị trường văn hóa (30/6/2021)
Tình hình thiên tai ở Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII và biện pháp khắc phục của triều định Lê - Trịnh (30/6/2021)
Gia đình và việc làm (26/6/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,803 | Tất cả: 3,198,084
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp