NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Nói quá - Một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (Trên tư liệu hát giặm Nghệ Tĩnh)
Tin đăng ngày: 30/6/2021 - Xem: 67
 

                                                                ĐỖ THỊ KIM LIÊN

  1. Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Như chúng ta biết, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, trong đó “hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thường xuyên của sự hành chức ngôn ngữ” [4, tr.17]. Còn văn hóa, theo Federico Mayor (nguyên Tổng Bí thư Unesco) thì "Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [dẫn theo TC Người đưa tin, Unesco, 1994, số 10, tr.34-36].

Ngôn ngữ và văn hóa có quan hệ qua lại chặt chẽ, gắn bó. Ngôn ngữ phản ánh văn hóa. Văn hóa có nguồn gốc từ ngôn ngữ. Trên thực tế, khi chú trọng đến lời hát đối đáp giữa cá nhân với cá nhân hay theo nhóm bằng ngôn ngữ vùng miền thì cách suy nghĩ, sự tri nhận của cá nhân vùng miền nào đó có chọn lựa và thể hiện ra hình thức bên ngoài qua từ ngữ, qua phép ẩn dụ, hoán dụ, nói giảm (nói khiêm nhường), hoặc nói quá (nói tăng lên)… thì chúng tạo nên dấu ấn văn hóa của vùng miền nhất định.

Tác giả Trần Văn Cơ, khi nghiên cứu vấn đề Ngôn ngữ học tri nhận đã khẳng định: “Cần nhấn mạnh mối quan hệ đặc biệt giữa ngôn ngữ học tri nhận với văn hóa học, đó là, ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu: a) Phạm trù hóa ngôn ngữ; b) Nghiên cứu khái quát vấn đề ý niệm, ý niệm hoá thế giới; c) Nghiên cứu ngữ nghĩa tri nhận; d) Nghiên cứu những ý niệm cảm xúc. Còn văn hóa học nghiên cứu các nền văn hóa nơi diễn ra đời sống của con người và đời sống của ngôn ngữ dân tộc. Văn hóa học nhằm cung cấp cho ngôn ngữ học tri nhận những cách nhìn thế giới đặc trưng cho một dân tộc nhất định, cùng với ngôn ngữ học tri nhận tạo ra các ý niệm phản ánh những bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Văn hóa đối với con người là hiện thực thứ hai. Con người tạo ra văn hóa, và chính văn hóa lại trở thành đối tượng nhận thức của con người. Văn hóa liên quan mật thiết với dân tộc sáng tạo ra nó. Trong kho tàng văn hóa có những ý niệm mang tính chất thế giới quan toàn nhân loại, biểu biện thứ triết học thực tiễn của con người, chẳng hạn: chân lí, sự thật, giả dối, tự do, số phận, cái thiện, cái ác, quy luật, trật tự, vô trật tự, nghĩa vụ, lỗi lầm, cái đẹp… Đồng thời, mỗi một ý niệm ấy lại mang tính chất đặc thù dân tộc. Mỗi ý niệm có đặc thù dân tộc riêng, tạo cho mỗi ý niệm một thứ ngôn ngữ riêng cung cấp khả năng thực hiện việc phục chế ý niệm, xác định đặc thù dân tộc của nó, và vị trí của nó trong ý thức thường nhật của con người. Ngoài ra, việc nghiên cứu những ý niệm văn hóa rất quan trọng còn bởi lẽ, chúng thực hiện chức năng làm trung gian giữa người và hiện thực trong đó con người đang sống” [2, tr. 58].

Mỗi vùng miền đều có một lối nói riêng, thể hiện đặc trưng văn hóa của vùng miền đó. Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), khái niệm văn hóa được hiểu rộng hơn, gồm các nghĩa: 1. Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa của các dân tộc (Kho tàng văn hóa dân tộc). 2. Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa (Chú ý đời sống văn hóa nhân dân). 3. Tri thức khoa học, trình độ học vấn: Trình độ văn hóa. 4. Lối sống, cách ứng xử có trình độ văn hóa cao, biểu hiện văn minh: người có văn hóa (Gia đình văn hóa mới). 5. Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa xác định được nhờ tổng thể các di vật có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn (Văn hóa rìu hai vai) [5, tr.144]. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ văn hóa với nghĩa 1- chỉ những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử. Sau đây, chúng tôi đề cập đến “Nói quá - một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (trên tư liệu Hát giặm Nghệ - Tĩnh)”.

Upload

Làng quê Nghệ - Tĩnh, môi trường diễn xướng của dân ca ví giặm

  1. Khái niệm nói quá

Tác giả Đinh Trọng Lạc, khi bàn về phương tiện tu từ - ngữ nghĩa trong Phong cách học tiếng Việt, đã chia ra 17 tiểu nhóm sau: 1/Phóng đại; 2/Thu nhỏ; 3/Nói giảm; 4/Ẩn dụ (gồm: ẩn dụ định danh, ẩn dụ nhận thức, ẩn dụ hình tượng); 5/ Ẩn dụ bổ sung; 6/Ẩn dụ tượng trưng; 7/ Cải danh; 8/Nhân hóa; 9/Vật hóa; 10/ Phúng dụ; 11/Hoán dụ (gồm hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ); 12/Uyển ngữ; 13/Nhã ngữ; 14/ Tượng trưng; 16/ Tập kiều; 17/ Nói mỉa [3, tr.241-262].

Với 17 tiểu nhóm trên, nói quá thuộc tiểu nhóm Phóng đại. Phóng đại (còn gọi là khoa trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách thể hoặc hiện tượng nhằm làm nổi bật bản chất của đối tượng miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ [3, tr.242]. Cơ sở của phóng đại là tâm lí của người nói muốn những điều mình nói gây được sự chú ý và tác động cao nhất làm người đọc hiểu được nội dung và ý nghĩa đến mức tối đa. Như vậy, giữa phóng đại và nói quá có điểm chung: a) Thể hiện lối nói của người nói đối với người nghe, gây sự chú ý đối với người nghe; b) Giúp người nghe hiểu được ý nghĩa, nội dung người nói một cách tối đa.

Nói quá, theo cách dùng của chúng tôi, là lối nói được người Nghệ - Tĩnh  sử dụng từ ngữ trong câu, đoạn theo lối nói quá lên, tăng lên nhằm tạo sự chú ý, hứng thú đối với người tiếp nhận(1).

Upload

Sân khấu hóa dân ca ví giặm Nghệ - Tĩnh

  1. Biểu hiện lối nói quá của người Nghệ -Tĩnh và quan hệ với đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh

3.1. Biểu hiện lối nói quá của người Nghệ-Tĩnh

  1. Lối nói quá về số lượng đồ vật

Lối nói quá được người Nghệ - Tĩnh thường sử dụng là nói nhiều lên về số lượng đồ vật, thể hiện qua những danh từ (quần áo, vải vóc, lụa là), cây trái với số lượng nhiều (cà pháo, mít, khoai lang), thực phẩm chế biến từ cây trái (nhút, tương), con vật từ sông, biển (cá, tôm, tép, tép khô), thực phẩm chế biến từ con vật (ruốc, mắm, mắm nêm, ruốc chua, nước mắm). Ví dụ:

Lụa sồi không mấy trự (đồng)

 không mấy trự: Nói quá về lượng, nói ít đi không đáng mấy, thể hiện sự phóng khoáng

Cứ may mặc tự nhiên

Chẳng ai dám hỏi tiền,

May một khi mười bộ

May một lần chục bộ [t.1, tr.24].

 may mười bộ/ may chục bộ (nói lặp lại) thể hiện nói quá, nói nhiều lên so với thực tế.

Có những con vật ngày nay là đặc sản, hiếm có, nhưng trước đây, với người Nghệ - Tĩnh được miêu tả rất nhiều, sẵn có, ai cũng có để ăn:

Rươi(2) muối để đầy nhà

Ông mô rồi cũng có

Bà mô rồi cũng có [t.1, tr.24].

  1. Lối nói quá về mức độ

Bên cạnh số lượng danh từ chỉ đồ vật, chúng ta còn gặp người Nghệ - Tĩnh sử dụng tính từ kết hợp với phụ từ mức độ nhằm thể hiện đặc điểm tính chất của sản vật, thực phẩm liên quan đến ăn uống, như: quá, lắm, ghê, thật nhiều…., hoặc sản vật có đặc điểm ngon, ngọt quá mức (tận đằng sau ót), như:

Rươi Hưng Nguyên trắng đỏ

Nghe nói đến đã thèm.

Ngài nếm thử mà xem

Ngọt ra đằng sau ót,

Ngọt tận đằng sau ót [t.2, tr.23].

Khi nói về màu sắc của sản vật thì người Nghệ - Tĩnh lại chọn phụ từ chỉ màu sắc “ruộm” mà từ này không có trong từ điển toàn dân do Nguyễn Như Ý(3) chủ biên, để miêu tả màu vàng óng của nước chè xanh thật hấp dẫn, thể hiện trong câu:

Nước chè xanh vàng ruộm,

Nước chợ Gay vàng ruộm [t.2, tr.25].

Với cách thể hiện tăng (quá) về mức độ, ta còn bắt gặp cách sử dụng hành động qua động từ cuốc bộ kết hợp với từ chỉ mức độ đến mức bở hơi tai để đến vùng Anh Sơn (Nghệ An) ghé thăm con người, cảnh vật: “Đất Anh Sơn cũng rộng/ Cuốc bộ bở hơi tai” [t.2, tr.25].

  1. Lối nói quá về thời gian - không gian

Cùng với lối nói quá, nói nhấn mạnh về mức độ, ta còn bắt gặp người Nghệ - Tĩnh ưa lối nói quá về giới hạn, không gian - thời gian tạo tính hấp dẫn, sự hứng thú, sự quyết tâm thực hiện, có thể thực hiện được đối với người nghe. Đó là các tổ hợp từ có nghĩa thực chỉ thời gian ngắn, như: một tỉ, một tí, một ít, một lát… nhưng qua cách sử dụng của người Nghệ Tĩnh, những từ này lại mang nghĩa mới thông qua đặc điểm tâm lý, thái độ của người nói là dài:

“Nay cũng muốn mời ngài

Ghé qua chơi một tỉ

Ghé về chơi một tỉ”.

Bên cạnh nghĩa thời gian, người Nghệ - Tĩnh còn nói đến không gian:

Ở bài Khuyên chàng đua đuổi kịp người, ta gặp cách sử dụng từ một tỉ không phải với nghĩa chỉ thời gian mà với nghĩa chỉ không gian với độ dài số lượng: ít nhiều. Vợ mong muốn chồng hướng đến việc học hành, chàng không cần biết bất cứ việc gì dù là việc nhỏ nhất.

Nội việc nhà việc nước,

Trăm mối thật tơ vò

Một mình thiếp âu lo

Chàng không hay (biết) một tỉ,

Không động lòng một tỉ [t.2, tr.144].

Khi bàn về vấn đề chung mang tính đối ngoại ngoài xã hội, thì người Nghệ - Tĩnh cũng thể hiện lối nói có tính chất tâm tình gần gũi như sự trao đổi giữa những người thân trong gia đình, quý mến tin cậy nhau, họ dùng từ đôi lời:

Chị ơi chị! Chị ngồi lại

Cho em bàn giải đôi lời:

Sinh ra kiếp làm người

Phận liễu bồ khôn xiết…[ t.2, tr.148].

3.2. Quan hệ giữa nói quá và đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh

  1. Thể hiện văn hóa lạc quan

Có thể thấy, từ góc nhìn phong cách, nói quá có vai trò tạo sự chú ý đối với người nghe, giúp người nghe hiểu được ý nghĩa của lời nói một cách sâu sắc. Trong những câu ví giặm mà người Nghệ Tĩnh sử dụng lối nói quá đã gián tiếp thể hiện đặc trưng văn hóa luôn lạc quan của người xứ Nghệ, tạo thái độ vui vẻ, hứng thú đối với người nghe, từ đó tiếp nhận ở lời mời mọc thân tình của con người xứ Nghệ. Trong bài “Mời bạn dạo chơi tỉnh nhà”, bằng bức tranh tổng quan, người đọc hiểu những danh lam thắng cảnh của mười một huyện Nghệ An với những đặc sản, thực phẩm ngon miệng và loài vật quý hiếm phục vụ cho đời sống, sức khỏe con người ở từng vùng sông nước, qua đó thể hiện đặc trưng văn hoá lạc quan. Những từ ngữ này phản ánh lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa tri nhận của con người xứ Nghệ dù cực khổ thiếu thốn nhưng họ luôn mơ ước đến sự sung sướng, đầy đủ, dư thừa sản vật, đồ dùng. Như vậy, từ thực tế phản ánh từ ngữ giúp chúng ta nhận ra đặc trưng văn hóa của người Nghệ Tĩnh luôn lạc quan, tự vượt lên những khăn, gian khổ để sống.

  1. Thể hiện văn hóa thân tình, xích gần quan hệ

Qua từ ngữ thể hiện lối nói quá của người Nghệ Tĩnh, chúng ta thấy nổi lên đặc trưng văn hóa gần gũi thân tình, xích gần quan hệ giữa người nói và người nghe. Xét về sâu xa, người Nghệ - Tĩnh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên họ sống thành làng xóm gồm những người có quan hệ bà con ruột thịt. Chính vì vậy, khi đối xử với nhau ngoài xã hội, người xứ Nghệ cũng mang theo lối ứng xử thân mật gần gũi giữa những người trong cùng họ hàng. Khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy, người Nghệ Tĩnh thường chọn lựa vai giao tiếp khi trao đáp giữa hai nhân vật, họ đưa ra lời hát hướng đến vai nghe đều là những vai gần gũi: là dì, là o, là ôông, là mệ, là chú để gọi nhau, nói với nhau, nhờ đó tạo nên đặc trưng văn hóa gần gũi, thân tình.

Đó là khi mẹ nói với dâu con, cháu con:

- Nhân khi nguyệt gác song đào

Thanh nhàn mẹ kể thấp cao sự lòng

Kể mọi nỗi rành rành

Cho dâu con biết tỏ

Cho cháu con biết tỏ [t.2, tr.180].

Đó là lời kể về cố, về cha Kế, về đĩ Tiểng, đĩ Úc, về cu Thắng… đều sống trong làng với nhau:

- Sáng mai cu Thắng đến chộ

Lưỡi cố le ngang

Cu Thắng ôm lên giường,

Hai tay lần mở chạc (dây)…[t.2, tr 202].

  1. Thể hiện văn hóa cộng đồng

Cũng từ nguồn sống chủ yếu, người Nghệ-Tĩnh giống như mọi người Việt nói chung ở ba miền là sống ở vùng nhiệt đới, trồng lúa. Con người ở đây cần sống thành nhóm, thành cộng đồng để cùng làm ăn vào các mùa vụ: cày ruộng, gieo mạ, làm cỏ, cấy lúa, gặt lúa, đập lúa, phơi lúa, cắt rạ rồi xay thóc, giã gạo… đều cần đến cộng đồng nhiều người, nhất là người phụ nữ, để cùng làm nhanh trong một số ngày nhất định gắn với thời tiết âm lịch, tháng năm tháng mười. Từ nền sản xuất đó đã kéo theo đặc trưng văn hóa cộng đồng thể hiện khá rõ. Chúng ta bắt gặp lời hát ví giặm thường nhắc đến tính cộng đồng qua các từ ngữ, như: bảo nhau, bảo ban nhau, cùng nhau, nói với nhau (Cùng gọi nhau đi cấy/ Ngay từ sáng tinh mơ); hoặc gọi nhau cùng đi làm (ới chị em ơi, này bà con ơi, cô bác hỡi); hoặc thường dùng cách xưng hô do từ ghép đẳng nghĩa, như: ông bà, chú mự, ông cháu, chú bác, cô dì, cô chú, chú thím… hoặc dùng sóng đôi thành cặp: anh với em, chàng với nàng, tui với mợ, mự…

- Em đó với anh đây

Ta kéo nhịp cầu Cày,

Rút ngắn lại đường dây

Của Bắc Nam ruột thịt

Mối thâm tình ruột thịt [t.2, tr.323].

Khi kể chuyện, người kể cũng hướng đến số đông qua từ xưng hô chỉ những người trong họ hàng cùng sinh sống, những từ ngữ này đã thể hiện nét văn hóa cộng đồng của người Nghệ Tĩnh:

- Lời thưa cùng cô bác

Nên nghĩ lại thế này [t.2, tr.240].

Hoặc:

- Hỡi anh em binh lính ta ơi!

Xin anh em ở lại, tôi gửi lời phân minh [t.2, tr.238].

  1. Kết luận

Từ kết quả phân tích trên, chúng tôi rút ra một số kết luận:

Hát giặm được người Nghệ - Tĩnh sử dụng từ lâu trên dưới hai trăm năm, thể hiện đời sống và lao động của người dân trong gian khổ. Họ sử dụng từ ngữ theo phong cách “xứ Nghệ” là lối nói quá phản ánh lao động, sinh hoạt gắn với cuộc sống hàng ngày theo thời gian lịch sử, vì vậy, chính ngôn ngữ đã để lại dấu ấn về văn hóa, phản ánh những đặc trưng văn hóa riêng, có tính vùng miền xứ Nghệ, đó là văn hóa lạc quan, văn hóa thân tình, và văn hóa cộng đồng.

 

Chú thích

(1). Lối nói chệch mức độ so với hiện thực (nếu thì khen quá lên, nếu xấu thì nói xấu quá, nếu nói nhiều thì tăng mức độ số lượng).

(2). Rươi: con vật, chân đốt, thân nhiều tơ nhỏ, sống ở sông nước lợ, sinh theo mùa.

(3). Từ điển của Nguyễn Như Ý chỉ có từ vàng xuộm: vàng ối [xem 5, tr. 1740].

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Hát Giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1962 (tập 1), 1963 (tập 2), bài “Mời quí vị dạo chơi tỉnh nhà”, tr.22 - 27.
  2. Trần Văn Cơ, Ngôn ngữ học tri nhận, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007.
  3. Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1999.
  4. Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb Giáo dục, Đà Nẵng, 1999.
  5. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc gia, TP Hồ Chí Minh, 2006

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
DỰ THẢO Văn bia nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) (1/7/2021)
Nói quá - Một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (Trên tư liệu hát giặm Nghệ Tĩnh) (30/6/2021)
Phân tích vai trò vốn văn hóa gia đình trong phát triển du lịch cộng đồng (27/6/2021)
Bữa cơm gia đình trong văn hóa truyền thống Việt Nam (26/6/2021)
Một lát cắt trong lịch sử về giống: Dưa hấu có nguồn gốc từ đông bắc châu Phi (3/6/2021)
Tìm hiểu khía cạnh kinh tế của di sản (liên hệ thực tế tại Nghệ An) (5/5/2021)
Một cách nhìn về Nguyễn Huy Thiệp (5/5/2021)
Khoa học tái hiện tái hiện “Lầu son gác tía” tại Hoàng thành Thăng Long sau 1.000 năm (3/5/2021)
Đường tàu khát vọng “đi suốt bốn mùa Xuân” (30/4/2021)
Bảo tồn các giá trị văn hóa bản sắc nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (28/4/2021)
Văn hóa vật thể và các hình thức văn hóa vật thể tiêu biểu (28/4/2021)
Vì sao người Việt chắp tay và niệm “Nam mô a di đà Phật” khi cúng bái? (9/4/2021)
Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo (9/4/2021)
Chuyển đổi kỹ năng trong giáo dục gia đình: Nuôi và dạy con trẻ ở nông thôn hiện nay (8/4/2021)
Đặc điểm giáo dục, khoa cử Nho học thời Nguyễn (8/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,880 | Tất cả: 3,198,161
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp