KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tình hình thiên tai ở Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII và biện pháp khắc phục của triều định Lê - Trịnh
Tin đăng ngày: 30/6/2021 - Xem: 63
 

                                                                                           MAI THỊ HUYỀN 

Upload                                                      

  1. Vài nét về Nghệ An và tình hình thiên tai trước thế kỷ XVII

Nghệ An nằm ở miền Trung của Việt Nam, nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió Lào khô nóng và gió từ biển Đông thổi vào. Mưa lũ thường xảy ra vào mùa hè. Theo ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, các trận lụt thường xảy ra vào các tháng 5, 6, 7, 8, thậm chí là tháng 9, 10 âm lịch. Khí hậu ở các vùng khác nhau đã ảnh hưởng tới cường độ của bão và lượng mưa trong năm. So với các vùng trong nước, Nghệ An có khá nhiều bão, thường là hai năm một lần và đổ bộ vào các tháng 6 đến tháng 10. Mức độ và sự tàn phá của bão cũng ở đây cũng nặng hơn các vùng khác.

Bên cạnh đó, Nghệ An còn có con sông lớn, là nơi tập trung nước vào mùa lũ. Sách Đại Nam nhất thống chí chép khá rõ về ngọn nguồn của sông Lam: “Tỉnh Nghệ An có sông Lam Giang, tục gọi là sông Cả, [….] nguồn thứ hai của sông La Hà ở ngọn Cốt Đột núi Khai Trương, chảy về phía đông làm sông Ngàn Phố, đến xã Đỗ Xá hợp với sông La, chảy về phía đông đến xã Bùi Xá, chia một nhánh vào sông Minh, chảy về phía đông đến xã Tường Xá hợp với sông Lam”(1). Đây là con sông có mức độ lũ lụt cao, không hề chảy qua các khu vực trung lưu chuyển tiếp mà qua vùng đồi núi và đổ trực tiếp ra biển Đông. Có thể thấy, sự phân chia mùa lũ và mùa cạn ở sông Lam khá rõ rệt. Mùa lũ thường xảy ra từ tháng 8, 9 đến tháng 11, 12 trong năm. Mức độ lũ của sông Lam thực sự là mối đe dọa đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân Nghệ An.

Đồng bằng sông Lam (còn gọi là sông Cả) ở Nghệ An khá phức tạp, bị đồi núi chia cắt, địa hình tạo thành hai vùng trũng và cao rõ rệt. Châu thổ từ Hà Tĩnh trở vào Nam thì địa hình càng hẹp hơn. Đồng bằng sông Cả được hình thành trên nền đá gốc cũ mài mòn, mặt đất dốc, khi lũ xuất hiện sẽ dâng cao rất nhanh và rút xuống cũng rất nhanh. Đồng bằng này cũng là một trong những nơi cung cấp lương thực quan trọng cho Đàng Ngoài. Đất cát ở huyện Đông Thành là điều kiện thuận lợi để gieo thóc lúa. Lê Quý Đôn ghi chép trong sách Vân Đài loại ngữ đã khẳng định giống ngô trắng được trồng nhiều ở Nghệ An(2).

Như vậy, yếu tố vị trí địa lý, địa hình, khí hậu đã có tác động trực tiếp đến việc hình thành bão, lụt, hạn hán cũng như những thiên tai khác ở Nghệ An. Tìm hiểu thiên tai ở Nghệ An trước thế kỷ XVII giúp ta có cái nhìn khái lược về hiện trạng này.

Năm 1137, chính sử chép ở châu Nghệ An có động đất, nước sông đỏ như máu(3). Thời Trần, năm 1382, Cương mục chép ở Nghệ An có nạn thủy tai lớn(4). Đặc biệt, tháng 5 năm Giáp Tuất (1454), ở Nghệ An xảy ra hiện tượng “lá tre úa vàng”(5). Năm 1467, thì “các huyện ở đầu nguồn và ven biển thuộc Nghệ An cũng bị thủy tai”(6). Trận mưa to trong hai ngày liền vào tháng 8 năm Tân Hợi (1491) khiến không chỉ Kinh thành Thăng Long bị ngập mà Nghệ An cũng bị ảnh hưởng, sách Cương mục chép là “tháng 8, mưa to suốt ngày đêm không ngớt”(7).

Dưới thời Mạc Phúc Nguyên (1546-1561), trời hay mưa dầm liên miên hàng tuần không tạnh, lúa miền Thanh, Nghệ phần nhiều bị ngập và hư hại”(8). Năm 1751, Nghệ An đói và có dịch bệnh, “dịch lệ lại phát sinh, người chết đến quá nửa. Nhân dân Nghệ An xiêu dạt hoặc tan tác vào Nam, ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu, vắng tanh”(9).

  1. Triều đình Lê - Trịnh với việc khắc phục thiên tai ở Nghệ An thế kỷ XVII-XVIII

Trong hai thế kỷ XVII-XVIII, thiên tai ở Nghệ An xảy ra với mức độ khác nhau. Hiện tượng mưa bão, lụt, hạn hán, nhật thực, nguyệt thực, động đất đã xảy ra ở vùng này. Về mưa, lụt, ghi chép vào năm 1559, tại Nghệ An có thủy tai lớn(10). Như vậy, trong hai thế kỷ ở Nghệ An xảy ra 4 lần mưa, lụt: 1559, 1748, 1756 và 1760. Có 4 lần hạn hán vào các năm: 1714, 1728, 1755, 1768. Ngoài ra có các hiện tượng thiên tai khác vào các năm 1753 và 1767. Xin xem các bảng thống kê dưới đây:

Bảng 1: Thống kê về mưa, lụt ở Nghệ An thế kỷ XVII- XVIII

Thời gian

Triều vua

Số lượng/năm

Mức độ

Nguồn tư liệu

1559

Lê Thần Tông

(1619-1643)

1

Tháng 8, Nghệ An có thủy tai lớn.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.139.

1748

Lê Hiển Tông

(1740-1786)

1

Tháng 9, mưa to, nước sông tràn ngập, thóc lúa bị thối nát.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.595.

1756

 

1

Tháng 10, Nghệ An mưa to. Nước dẫy lên. Nghệ An nước ngập, lúa bị mất.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr. 632.

1760

 

1

Mưa dầm kéo dài

ĐVSKTB, Sđd, tr.294.

Tổng

 

4

 

 

Nguồn: Cương mục (1998), (2007), II, Nxb. Giáo dục;  Đại Việt sử ký tục biên (2011), Nxb. Văn hóa - Thông tin.

Bảng 2: Thống kê về hạn hán ở Nghệ An thế kỷ XVII-XVIII

Thời gian

Triều vua

Số lượng/năm

Mức độ

Nguồn tư liệu

1714

Lê Dụ Tông

(1706- 1729)

1

Xứ Nghệ không mưa

ĐVSKTB, Sđd,  tr.109

1728

 

1

Nghệ An không mưa

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.470

1755

Lê Hiển Tông

(1740-1786)

1

Hạn hán

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.628

1768

 

1

Đại hạn, dân Nghệ An đói, các lộ Tây, Nam, Bắc lúa ruộng tổn hại nhiều.

ĐVSKTB, Sđd, tr.323.

Tổng

 

4

 

 

Nguồn: Cương mục (1998), (2007), II, Nxb. Giáo dục;  Đại Việt sử ký tục biên (2011), Nxb. Văn hóa - Thông tin.

 

Bảng 3: Thống kê về các thiên tai khác ở Nghệ An thế kỷ XVII-XVIII

Thời gian

Triều vua

Số lượng/

năm

Mức độ

Nguồn tư liệu

1753

Lê Hiển Tông

(1740-1786)

1

Tháng 10: Nhật thực, nguyệt thực

ĐVSKTB, Sđd, tr.235.

1767

 

1

Huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu động đất.

 

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr. 665; ĐVSKTB, Sđd, tr.297.

Tổng

 

2

 

 

Nguồn: Cương mục (1998), II, Nxb. Giáo dục;  Đại Việt sử ký tục biên (2011), Nxb. Văn hóa- Thông tin.

Thiên tai đã tác động mạnh đến đời sống nhân dân Nghệ An. Ghi chép của các bộ sử như Đại Việt Sử ký tục biên, Cương mục, Lịch triều tạp kỷ đều cho thấy mưa lụt và hạn hán không chỉ gây mất mùa mà còn khiến xuất hiện nạn đói nghiêm trọng ở vùng này. Cương mục viết: “Năm 1774, tháng 2, Nghệ An đói to. Dân Nghệ An nhiều người chết đói”(11). Sách Đại Việt sử ký tục biên cũng chép: “Tháng hai, Nghệ An đói, dân nhiều người bị chết”(12). Thống kê sau đây cho biết về nạn đói ở Nghệ An:

Bảng 4: Nạn đói ở Nghệ An do ảnh hưởng của thiên tai thế kỷ XVII-XVIII

Thời gian

Triều vua

Số lượng

/năm

Mức độ

Nguồn tư liệu

1724

Lê Dụ Tông

 (1706 - 1729)

1

Nghệ An bị đói

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.453.

1759

Lê Hiển Tông

(1740-1786)

1

Tháng 2, Nghệ An bị đói. Huyện Đông Thành, Quỳnh Lưu bị đói to.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.639.

1768

 

1

Dân Nghệ An đói. Nghệ An giá gạo cao vọt.

ĐVSKTB, Sđd, tr.323; Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.681.

1774

 

1

Tháng 2, Nghệ An đói to; Nghệ An đói, dân phần nhiều bị chết.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.709; ĐVSKTB, Sđd,  tr.360.

1777

 

1

Tháng 4, Nghệ An bị đói.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.735.

1778

 

1

Tháng 6 nhuận, dân bị đói to.

Cương mục, II, Sđd, 1998, tr.741.

Tổng

 

6

 

 

Nguồn: Cương mục (1998), II, Nxb. Giáo dục;  Đại Việt sử ký tục biên (2011), Nxb. Văn hóa - Thông tin.

Như vậy, thống kê trong bảng 4 cho biết ở Nghệ An đã có 6 năm xảy ra nạn đói. Trong những năm này, năm 1774 được coi là năm có nạn đói lớn, mức độ được sử ghi chép là gây chết người. Các năm đói to là 1759, 1774, 1778.

Từ những tác động của thiên tai trên đây, triều đình Lê - Trịnh đã có những biện pháp khắc phục cụ thể. Biện pháp trước mắt là chẩn cấp, ân xá, giảm tô thuế. Vào năm 1724, triều đình giảm tô và thuế cho Nghệ An. Nguyên do một phần là nơi hưởng ứng sự nghiệp trung hưng nhà Lê, một phần là vùng chịu ảnh hưởng nặng bởi thiên tai nên tô và thuế đều được triều đình giảm nhẹ. Sử chép: “ở Nghệ duy tiền thuế điệu là theo thể lệ tứ trấn, tô ruộng được giảm một nửa. Thuế thân dung được miễn hết(13).

Năm 1725, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép vào tháng sáu, triều đình đã tha thuế còn đọng thiếu cho xứ Nghệ(14). Năm 1728, triều đình giảm tô thuế cho Nghệ An. Năm 1753, chúa sai quan đi thăm hỏi dân điêu hao ở ven núi trấn Nghệ An(15). Năm 1759 được coi là đói lớn ở huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu. Theo Cương mục thì chúa Trịnh đã ra lệnh cho Hà Huân đến nơi thăm hỏi xem xét, tạm lấy tiền thông kinh và mộ nhà giàu nộp của, rồi tùy phương tiện mà phát chẩn cho dân(16). Năm 1767, triều đình tiếp tục miễn thuế tô, thuế dung thiếu đọng cho xứ Nghệ(17). Năm 1768, do Nghệ An bị đói, vì ảnh hưởng của đại hạn, chúa triệu các đại thần bàn thi hành chính sách cứu đói. ĐVSKTB ghi là: “Sai quan trấn Nghệ An hiểu dụ dân giàu trong hạt: ai chịu nộp tiền nộp thóc thì trao cho quan chức, rồi đem tiền thóc ấy phát chẩn cho dân nghèo đói. Sai Hiến ty các lộ thăm hỏi sự cực khổ của dân gian tâu lên”(18).

Năm 1774, nhiều tư liệu khẳng định là triều đình Lê - Trịnh đã giảm thuế cho Nghệ An. Sách ĐVSKTB viết: “quan cầm quyền bàn phát chẩn, cho vay và đem 3 điều của Bồi tụng Lê Quý Đôn thi hành. Bèn lưu những điền sản của phủ hộ nộp vào để lại ở trấn để phát chẩn, bãi thuế tuần trong hạt; nghiêm việc phòng giữ mặt biển. Hoãn việc truy bắt lính trốn; hoãn việc xét xử kiện tụng; nghiêm trách Hiến ty phải xét kỹ các điều đau khổ của dân, tâu lên để cứu cấp cho dân”(19). Cùng sự kiện này, sách Cương mục viết: lệnh cho các quan “giữ lại số tiền do nhà giàu trong trấn ấy đệ nộp để phát chẩn cho dân; tha các thuế tuần ti trong hạt để việc buôn bán lưu thông”(20).

Năm 1777, Nghệ An bị nạn đói, triều đình đã phát chẩn cho dân: “Luôn mấy năm nay, trấn Nghệ An mất mùa đói kém, thây chết đói nối liền với nhau. Ti Hiến sát đem tình trạng ấy tâu bày. Triều đình bèn hạ lệnh cho bọn Nguyễn Đình Diễn và Ngô Phúc Lâm trích 15.000 quan tiền và 15 vạn bát quan thóc trong kho, chia ra phát chẩn”(21).

Thực hiện sửa đê, đào sông  

Ngoài ra, triều đình Lê - Trịnh thực hiện việc mở thêm đường sông ở Nghệ An vào năm 1724 nhằm mục đích để “thủy thế lưu thông”: hạ lệnh cho ty trấn thủ Nghệ An đi khám xét các sông trong hạt, chỗ nào nông cạn, chỗ nào úng tắc, thì thùy theo trượng thước nông hoặc sâu, trù tính định ra công việc phải làm, rồi lấy dân xã tiếp cận sung vào làm việc, để cho đường thủy được lưu thông, dân những xã này sẽ được trừ tiền thuế điệu(22). Việc tu sửa đê được triều đình quan tâm và quy định cụ thể đối với các trấn ở địa phương. Dưới thời Lê - Trịnh, phụ trách về sửa đắp đê và hộ đê những năm mưa lũ đều do các quan địa phương thực hiện. Chỉ biết vào năm 1724 triều đình có khai sông, ngoài ra chúng tôi chưa thấy tư liệu nào chép về công việc này ở Nghệ An dưới thời Lê - Trịnh. Đây là điểm khác biệt so với thời Lê Thánh Tông(23).

Cầu đảo

Bên cạnh các biện pháp về chẩn cấp và tu sửa đê, các chúa Trịnh cũng rất quan tâm đến vấn đề tâm linh. Việc thiên tai xảy ra nhiều, khiến các chúa cho rằng trách nhiệm của mình với trời chưa đầy đủ, nên bị trời giáng tai họa. Vì thế, một mặt kêu gọi sự đóng góp ý kiến của quần thần, mặt khác chúa Trịnh cũng tiến hành những nghi thức cầu đảo để an dân.

Năm 1755, do hạn hán nên chúa Trịnh Doanh hạ chiếu cho trăm quan nói thẳng những điều thiếu sót lầm lỗi, một mặt tiến hành hoãn tiền thuế tô ruộng công, ruộng tư cho Nghệ An(24). Theo sách ĐVSKTB thì năm 1760, do trời mưa dầm kéo dài, ngập lụt nhiều lúa, chúa Trịnh đã dụ các quan rằng: “Nay mưa dầm đã gần một tuần, tổn hại lúa má, ta ngày đêm lo lắng. Hoặc giả chính sự có điều gì sai sót chăng, cho nên không cảm cách được lòng trời. Hãy viết thư kín, nói cho hết, đừng giấu giếm gì. Chưa bao lâu trời tạnh”(25).

Năm 1778, xét thấy tình hình mấy năm hạn hán mất mùa, giá gạo cao vọt, đầy đường những thây chết đói, triều đình Lê - Trịnh đã “lập đàn tràng cầu đảo ở kinh thành; dựng quán tế sinh ở thôn Ái Mộ: nấu cơm cháo chia ra phát chẩn; người có bệnh thì cấp cho thuốc thang. Lại hạ lệnh cho các trấn khuyên nhủ dân sở tại người giàu, người nghèo giúp đỡ lẫn nhau; cấm nhân dân đóng cửa không bán thóc gạo”(26).

  1. Nhận xét

Như vậy, Nghệ An là vùng khá đặc biệt của miền Trung, nơi xảy ra nhiều   thiên tai. Trong hai thế kỷ XVII-XVIII, lũ lụt, hạn hán là hiện tượng nổi bật nhất ở vùng này và để lại ảnh hưởng nghiêm trọng, đời sống nhân dân đói khổ.

Nhà nước Lê - Trịnh tỏ ra thực sự quan tâm, ưu tiên đến vùng đất Nghệ An. Một phần đó là nơi có những người hưởng ứng việc nghĩa - giúp vua Lê thực hiện công cuộc trung hưng, nhưng chủ yếu là vì đây là một trong những nơi cung cấp lương thực quan trọng cho Đàng Ngoài. Vì vậy chẩn cấp, ân xá cho Nghệ An góp phần khôi phục sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống cho người dân ở Nghệ An.

Trong các biện pháp ứng phó khắc phục thiên tai ở Nghệ An, chẩn cấp, ân xá, giảm thuế được triều đình chú trọng hơn cả so với các biện pháp khác. Chẩn cấp, giảm thuế trở thành điểm nổi bật trong chính sách ân xá, giảm tô thuế của triều đình Lê - Trịnh đối với xã hội Đàng Ngoài trong hai thế kỷ XVII-XVIII.

Chẩn cấp, ân xá, tu bổ đê điều là những biện pháp của triều đình Lê - Trịnh góp phần an dân ở Nghệ An. Các biện pháp của triều đình đã cho thấy sự quan tâm của nhà nước Lê - Trịnh đối với người dân Nghệ An, đã khắc phục phần nào những thiệt hại do thiên tai gây ra. Mặt khác cũng thể hiện được tác dụng của nó, nhằm ổn định xã hội, đảm bảo được sự tồn tại của chính quyền Lê- Trịnh trong hai thế kỷ trên.

Chú thích:

  1. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V, Nxb. Thuận Hóa Huế, 2006, tr.311.
  2. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, in trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, Nxb. Văn hóa , Hà Nội, 1962, tr.181.
  3. Đại Việt sử ký tiền biên, Trung tâm KHXH&NV quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Dương Thị The dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2011, tr.331.
  4. 8, 9, 10, 11,13, 16, 21, 23, 24, 25. Cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007, tr.646, tr.136, tr.158, tr.139, tr.709, tr.444, tr.639, tr.735.

5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb. Khoa học Xã hội, 1993, tr.379, tr.427 .

  1. Cương mục, tập I, Sđd, 1998, tr.1138.

12, 14, 15, 17, 18, 19, 22. Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 2011, tr. 360, tr.98, tr.235, tr.300, tr.323, tr.360.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, in trong Lê Quý Đôn toàn tập, tập 2, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1962.
  2. Đại Việt sử ký tiền biên, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Dương Thị The dịch, Nxb. Văn hóa thông tin, 2011.
  3. Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. Văn hóa thông tin, 2011.
  4. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (tập I- II), Nxb. Giáo dục, 1998.
  5. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, 2007.
  6. Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, Nxb. Khoa học xã hội, 1995.
  7. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V, Nxb. Thuận Hóa, Huế,

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Sống mãi những bài thơ viết về thương binh, liệt sĩ (Bài viết nhân 74 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021) (27/7/2021)
Tri ân các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng (27/7/2021)
Ký ức, kỷ niệm về Vinh xưa: Hoài niệm về Rạp 12/9 - Vinh (15/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (13/7/2021)
Vài suy nghĩ về Hiệp định BTA nhân kỷ niệm ngày ký kết (13/7/2021)
Xã hội hóa trong việc tôn tạo, phục hồi di tích nhìn từ đền Nhà Quan (6/7/2021)
Vài nét đặc biệt của Quốc hội khóa I (2/7/2021)
Khi nhà khoa học viết văn… (Đọc “Hai phía chân dung” - Ngẫu văn của Lê Quốc Hán, NXB Nghệ An, 2021) (2/7/2021)
Lễ hội đền Chín Gian từ lịch sử đến đến đời sống tâm linh của người Thái Phủ Quỳ (1/7/2021)
Chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và việc thực hiện ở trường Đại học Kinh tế Nghệ An (1/7/2021)
ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG: Xây dựng hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực con người trong thời kỳ hội nhập (30/6/2021)
Những vị đại biểu Quốc hội khóa I hy sinh vì nước (30/6/2021)
Đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống: Xây dựng ngành công nghiệp văn hóa, phát triển thị trường văn hóa (30/6/2021)
Tình hình thiên tai ở Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII và biện pháp khắc phục của triều định Lê - Trịnh (30/6/2021)
Gia đình và việc làm (26/6/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,791 | Tất cả: 3,198,072
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp