NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tìm hiểu khía cạnh kinh tế của di sản (liên hệ thực tế tại Nghệ An)
Tin đăng ngày: 5/5/2021 - Xem: 170
 

Trần Văn Dũng

  1. Kinh tế di sản - một cách tiếp cận

1.1. Sơ lược về vấn đề di sản

Di sản là một khái niệm rộng. Việc xác định và sử dụng khái niệm này thực sự không đơn giản. Di sản được hiểu theo nhiều góc độ, nhiều ý nghĩa khác nhau.

Căn cứ vào sự tồn tại các dạng thức của văn hóa, UNESCO phân chia các di sản văn hóa thành hai loại: thứ nhất, những di sản văn hóa vật thể, gồm các di sản tồn tại ở dạng vật chất như: hang động, quần thể hay vật thể địa chất, vịnh, đền, miếu, lăng mộ… Thứ hai, những di sản văn hóa phi vật thể gồm các biểu hiện tượng trưng của văn hóa ở dạng tinh thần, được lưu truyền qua thời gian với một số quá trình tái tạo kế tiếp nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Di sản phi vật thể bao gồm truyền thống, âm nhạc, nghệ thuật, lễ hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, dấu ấn ngôn ngữ,…

1.2. Di sản - nhìn từ góc độ kinh tế

Khi nói đến di sản, ta thường nghĩ về những giá trị văn hóa của nó, và thực tế thì di sản thường được biểu hiện ở hai chức năng chính là nhận thức và giáo dục. Tuy nhiên khi xã hội phát sinh nhu cầu chiêm ngưỡng hay khai thác những giá trị văn hóa của di sản, đặc biệt trong môi trường một thế giới mở thì nhu cầu đó càng được thể hiện một cách rõ rệt. Quan hệ cung - cầu trong việc chiêm ngưỡng hay khai thác những giá trị văn hóa của di sản đã làm xuất hiện khía cạnh kinh tế, mà nhân tố đảm đương vai trò kết nối cung cầu đó là hoạt động du lịch. Du lịch văn hoá được ra đời trong bối cảnh đó. Tính chất hay bản chất cũng như nhu cầu phát triển của ngành du lịch đã làm phát sinh tính thương mại trong du lịch văn hóa. Thương mại hóa các giá trị văn hóa trong hoạt động du lịch là yếu tố tồn tại cùng với tính nguyên bản, chịu sự chi phối của tính nguyên bản. Sản phẩm du lịch văn hóa tạo ra dựa trên tính nguyên bản đem lại cho du khách sự trải nghiệm đích thực về văn hóa, và một khi tính nguyên bản được khai thác, trở thành sản phẩm du lịch thì nó đem lại giá trị kinh tế, có tính thương mại.

1.3. Tính hai mặt của việc khai thác văn hóa di sản thông qua hoạt động du lịch

  1. a) Khai thác hiệu quả di sản thông qua hoạt động du lịch giúp bảo tồn tính nguyên bản của di sản

Bên canh giá trị về nhận thức, giáo dục thì từ góc độ và mức độ nào đó, các di sản còn mang lại giá trị kinh tế. Giá trị kinh tế của di sản lại chủ yếu thông qua các hoạt động du lịch. Trong du lịch, tính nguyên bản được đặc biệt chú ý xuất phát từ quan điểm cho rằng, sức hấp dẫn của du lịch đến từ sự chiêm ngưỡng, những nhận thức, trải nghiệm và lợi ích du khách có được tại các điểm đến. Vì vậy, không những đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, mà trong du lịch, tính nguyên bản cũng được coi là mang một giá trị cốt lõi. Tính nguyên bản có thể được hiểu theo nhiều nét nghĩa khác nhau như là nguyên gốc (original), chân thực (real), xác thực (genuine) hay tính bản địa (indigenous), truyền thống (traditional),… tùy thuộc từng đối tượng khác nhau của di sản. Có thể hiểu một cách khái quát, nguyên bản là tính nguyên sơ ban đầu (cái gốc ban đầu, chưa phát triển hoặc chưa bị biến đổi). Tính nguyên bản được xem là tiêu chí quan trọng nhất cho phát triển du lịch văn hóa. Một khi tính nguyên bản được giữ gìn nguyên vẹn thì cảnh quan, không gian văn hóa cũng như văn hóa truyền thống của cộng đồng được bảo tồn. Từ đó tạo nên những giá trị văn hóa bền vững, và đó cũng là cơ sở để du lịch văn hóa phát triển. Khi du khách tham gia vào các chương trình du lịch văn hóa thì tính nguyên bản của sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định động cơ đi du lịch, bởi khi quyết định lựa chọn họ đều mong muốn tìm kiếm sự chân thực về văn hóa, có thể là chiêm ngưỡng một danh thắng, một công trình kiến trúc, một di tích lịch sử, hay chỉ đơn giản là thưởng thức các tiết mục nghệ thuật độc đáo, ẩm thực địa phương. Quan điểm này cũng chỉ ra rằng, thông qua hoạt động du lịch, người dân địa phương sẽ có ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa bởi họ cảm thấy có niềm tin và lòng tự hào với những di sản trên quê hương mình cũng như nét đặc trưng văn hóa của dân tộc khi chứng kiến sự chiêm ngưỡng, trải nghiệm của du khách. Hơn nữa, một khi thu được lợi ích kinh tế từ việc giữ gìn các giá trị văn hóa để khai thác du lịch, bản thân người dân địa phương sẽ có động lực để bảo tồn những giá trị văn hóa ấy. Các du khách một khi đã nhận thức được giá trị của sản phẩm du lịch, họ sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn cảnh quan, vệ sinh, hạn chế các hành vi tiêu cực làm xâm hại các giá trị văn hóa của di sản. Điều này góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn tính nguyên bản của di sản.

  1. b) Hiện tượng thương mại hóa các giá trị của di sản trong hoạt động du lịch

Trong thực tế, khi di sản làm cơ sở cho mục đích của chuyến đi và được khai thác vào hoạt động du lịch, sẽ rất khó tránh khỏi hiện tượng thương mại hóa các giá trị văn hóa. Trong hoạt động du lịch văn hóa, để đáp ứng yêu cầu về lợi ích kinh tế, các di sản có thể bị xâm hại, bị biến dạng hoặc phá vỡ kiến trúc, cảnh quan. Một số đặc trưng nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống, lễ hội của dân tộc tại chỗ được biến tấu nhằm phù hợp với điều kiện thực tế, loại hình du lịch, nhu cầu du khách. Như thế, văn hóa đã trở thành “sản phẩm hàng hóa” để mua bán và đó chính là bản chất của việc thương mại hóa các giá trị văn hóa. Hiện đang có những ý kiến khác nhau về hiện tượng này. Nhiều ý kiến chỉ trích hiện tượng thương mại hóa các giá trị văn hóa. Quan điểm này xuất phát từ nhận thức cho rằng, hoạt động du lịch sẽ biến các di sản văn hóa thành hàng hóa để thu lợi nhuận, tất yếu những nét nguyên sơ của di sản có nguy cơ bị biến dạng, những đặc trưng văn hóa truyền thống có nguy cơ bị thay đổi để đáp ứng nhu cầu du khách và điều kiện của nhà cung cấp dịch vụ, từ đó tạo nên sự biến đổi các yếu tố văn hóa tinh thần mang tính giá trị của văn hóa di sản. Tuy nhiên cũng không ít ý kiến cho rằng, thương mại hóa là quá trình định giá một thứ gì đó dựa vào giá trị trao đổi của nó. Xét về khía cạnh thương mại, văn hóa trở thành hàng hóa và khi hệ thống trao đổi phát triển, đặt trong một thị trường nhất định thì giá trị trao đổi hàng hóa được biểu hiện thông qua giá cả.

  1. Một vài suy nghĩ về việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản ở Nghệ An - từ góc độ kinh tế

2.1. Vài nét về kho tàng di sản ở Nghệ An

Nghệ An là một vùng đất có lịch sử định cư lâu đời; là địa bàn sinh sống của cư dân Đông Sơn với di chỉ Làng Vạc. Đây cũng là nơi tụ hội của nhiều danh lam, thắng cảnh, hệ thống di tích, văn hoá cổ truyền,… phong phú về số lượng, độc đáo về nội dung, đa dạng về loại hình. Có thể điểm qua vài nét sau đây:

Về các di sản cảnh quan thiên nhiên, Nghệ An là một địa phương có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và biển. Có 9 huyện nằm trong Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, và Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương là lõi của Khu dự trữ, với trung tâm là Vườn quốc gia Pù Mát. Một số di tích thắng cảnh như thác Sao Va (Quế Phong), thác Bản Bìa, hang Kẻ Ham, Thẩm Poòng (Quỳ Hợp), Thẩm Nặm (Tương Dương); một số hang động vừa là di sản thiên nhiên vừa là di sản lịch sử như Khu di tích Hang Bua, hang Thẩm Ôm (Quỳ Châu), hang Thẩm Hoi (Con Cuông), và một số hang động thuộc khu Lèn Hai Vai (Diễn Châu),... Ven biển có danh thắng Hòn Ngư, núi Mộ Dạ, bãi biển Cửa Lò, Bãi Lữ,…

Về các di sản lịch sử, các di tích lịch sử cổ đại như di chỉ thuộc văn hóa Quỳnh Văn; các di chỉ hang Thẩm Ôm, hang Thẩm Hoi, hang Đồng Trương, di chỉ Làng Vạc,... Nhiều di tích lịch sử thời trung, cận và hiện đại như: Di tích Đền Cuông (ở Diễn Châu), núi Lam Thành, đền vua Lê, đền thờ Nguyễn Biểu, đền thờ Hoàng Mười, Khu di tích Lê Hồng Phong, Đài tưởng niệm các liệt sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh (ở Hưng Nguyên), Di tích Trà Lân (ở Con Cuông), đền thờ vua Mai, Nhà lưu niệm Phan Bội Châu (ở Nam Đàn),... Với 2.602 di tích (trong đó có trên 400 di tích được xếp hạng), có thể nói Nghệ An là một trong những địa phương có mật độ di tích khá đậm đặc.

2.2.  Nhận thức về vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản ở Nghệ An

  1. a) Giữ gìn tính nguyên bản, cách bảo tồn và phát huy giá trị của di sản

Có thể nói, di sản ẩn chứa nhiều giá trị, trong đó phải kể đến các giá trị cơ bản như giá trị khoa học, giáo dục (nhận thức, thẩm mĩ) và giá trị kinh tế.

Di sản là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Nhờ di sản, và thông qua di sản với các kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học, giúp du khách có được sự nhận thức đầy đủ về giá trị của di sản, qua đó giáo dục niềm tự hào và tự tôn dân tộc, biết quý trọng những gì mà thiên nhiên ban tặng cũng như tổ tiên bao đời để lại. Vì vậy, tính nguyên bản của di sản chính là hệ giá trị bảo đảm cho sức sống và tính hấp dẫn vĩnh hằng của di sản. Điều đó cũng góp phần quan trọng cho việc chủ nhân của di sản sáng tạo ra cách tiếp cận di sản một cách phù hợp, hiệu quả: tính nguyên bản của di sản làm nên tính hấp dẫn của du lịch di sản và sự phát triển của kinh tế du lịch từ sự hấp dẫn của di sản sẽ là yếu tố quan trọng để bảo tồn di sản. Từ thực tế đó, trong bất cứ hoàn cảnh nào và phục vụ cho mục tiêu nào thì các di sản về lịch sử cũng như cảnh quan thiên nhiên, tính nguyên bản phải đặt lên hàng đầu và phải được bảo đảm một cách nghiêm ngặt, với một định chế chặt chẽ. 

  1. b) Tính nguyên bản và thương mại hóa giá trị di sản văn hóa bản địa trong phát triển du lịch bền vững tại Nghệ An

Nghệ An là vùng đất cư trú lâu đời của nhiều tộc người, với nhiều vùng văn hóa và văn hóa tộc người khác nhau, như văn hóa biển, văn hóa đồng bằng, văn hóa miền núi,… cùng với đó là một số tộc người thiểu số như Mông, Khơ Mú, Thái, Thổ, Ơ Đu, Đan Lai, với nhiều nét văn hóa độc đáo tạo nên sực hấp dẫn riêng. Và vì thế, bản sắc văn hóa tộc người là sản phẩm nhận được sự chú ý đặc biệt trong lĩnh vực du lịch. Ở Nghệ An thời gian gần đây khai thác du lịch từ văn hóa bản địa đã và đang đem lại hiệu quả nhất định. Nhằm đáp ứng nhu cầu du khách, các sản phẩm du lịch ngày càng chú trọng khai thác các nét riêng trong văn hóa vật thể, phi vật thể của các địa phương và tộc người tại chỗ. Nhiều đặc trưng được cải biến cho phù hợp loại hình và không gian du lịch… Từ đó dẫn đến vấn đề là phải bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người để  làm “nguồn” thu hút khách du lịch nhưng vẫn phải phát triển phù hợp thời đại với những nhu cầu của cuộc sống hiện đại. Nói cách khác là bên cạnh lợi ích kinh tế từ du lịch, phải bảo đảm tính nguyên bản của di sản, tránh làm tổn thương, mai một các giá trị văn hóa. Không làm được điều đó, khai thác du lịch từ văn hóa các địa phương và tộc người tại chỗ sẽ không đảm bảo tính bền vững. Có thể khẳng định, hoạt động du lịch có sự tham gia của cư dân tại chỗ sẽ mang lại hiệu quả về nhiều mặt trong đó có thu nhập kinh tế cho người dân. Thực tế cho thấy, tính nguyên bản của văn hóa bản địa là động lực hấp dẫn du khách, kích thích họ trải nghiệm và chi tiêu cho những chuyến du lịch đến các thôn bản đồng bào các địa phương, các dân tộc. Trên thế giới, loại hình du lịch văn hóa dựa trên tính nguyên bản được xem là yếu tố then chốt để thu hút du khách, đem lại nguồn lợi kinh tế và giúp tạo dựng hình ảnh địa phương. Có thể thấy rõ ở một số quốc gia như Trung Quốc, Italia, New Zealand, Malaysia,... Ở Việt Nam thì bản Cát Cát (Sa Pa), Mai Châu (Hòa Bình) là một ví dụ. Nhờ phát triển du lịch dựa trên khai thác văn hóa bản địa, người dân địa phương được hưởng lợi thông qua cung ứng một số sản phẩm dịch vụ du lịch (như làm hướng dẫn viên, phục vụ phương tiện đi lại, cung cấp chỗ ở, phục vụ ăn uống với đặc sản và phong cách ẩm thực mới lạ, đồ thủ công mĩ nghệ, thổ cẩm, biểu diễn văn nghệ dân gian truyền thống,…). Người dân tự nhận thức và thực hiện việc bảo tồn văn hóa cộng đồng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của họ.

  1. c) Giải pháp dung hòa giữa vấn đề bảo đảm tính nguyên bản và thương mại hóa trong việc khai thác các giá trị văn hóa di sản mang tính bản địa

Từ những thực tế nêu trên, chúng ta thấy rõ được tác động hai mặt của vấn đề. Khi đề cập đến tính thương mại của văn hóa bản địa, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến những tác động tiêu cực như thay đổi văn hóa truyền thống, làm biến chất giá trị văn hóa. Thực ra tính tích cực của vấn đề thương mại hóa các giá trị văn hóa trong du lịch đã góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Thông qua hoạt động du lịch, không ít địa phương ở Nghệ An, văn hóa bản địa được khai thác, trở thành sản phẩm du lịch và phục vụ du khách một cách hiệu quả. Nhờ đó các giá trị văn hóa của địa phương được “sống” đúng nghĩa. Đồng thời, bản thân người dân cũng có cơ hội hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa tộc người, địa phương mình. Thực tế có những làn điệu dân ca, điệu múa cổ truyền, những nghề thủ công truyền thống (kể cả tài sản thiên nhiên và di sản khác) đối diện nguy cơ biến mất nhưng nhờ vào phát triển du lịch, những yếu tố này được “sống lại” bởi hấp dẫn du khách, khiến họ sẵn sàng bỏ tiền ra để thưởng thức, trải nghiệm hoặc sử dụng. Do đó có thể thấy, thương mại hóa đã góp phần bảo tồn những nét đẹp của văn hóa cổ truyền đang đứng trước nguy cơ bị mai một bởi sự thay đổi của nhịp điệu đời sống hiện đại (những làn điệu dân ca ví giặm, những điệu khèn Mông, những điệu xòe Thái, nghề thổ cẩm,…). Có thể nói rằng, nếu các giá trị văn hóa chỉ tồn tại riêng rẽ, hay tính nguyên bản của văn hóa chỉ được bảo đảm bởi đơn thuần là một sự tuyên truyền, vận động hoặc can thiệp mang tính hành chính, cưỡng bức cũng không thể đảm bảo quá trình này diễn ra lâu dài. Chỉ có người dân địa phương, những người hiểu rõ văn hóa của di sản mới có thể bảo tồn giá trị di sản một cách hiệu quả, bền vững. Và khi người dân được hưởng lợi nhờ văn hóa di sản,  họ sẽ xem việc bảo tồn các giá trị của di sản không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là niềm tự hào và quyền lợi của chính mình.

Để các giá trị văn hóa di sản tồn tại bền vững, đồng hành với sự phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch, thiết nghĩ phải tạo ra được sự cân bằng giữa hai yếu tố tính nguyên bản và tính thương mại. Có như vậy, chúng ta mới giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa mà không bị cuốn theo cơn lốc thương mại hóa. Theo chúng tôi, cần quan tâm một số vấn đề sau:

Đối với các cấp chính quyền, cần có chủ trương chính sách và cơ chế phù hợp, khả thi khi khai thác văn hóa di sản trong phát triển du lịch theo hướng bền vững; có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ cộng đồng địa phương những điều kiện thiết yếu nhất định và định hướng cụ thể cho việc giữ gìn các giá trị di tích cũng như kết hợp khai thác giá trị văn hóa ấy vào hoạt động du lịch; cần quan tâm đến ý kiến các bên liên quan trong triển khai thực hiện, tránh áp đặt, dẫn đến can thiệp thô bạo, làm biến dạng, lai căng các giá trị văn hóa của di tích hoặc làm trở ngại cho các hoạt động du lịch.

 Đối với các nhà khoa học, cần có những công trình nghiên cứu đánh giá thực trạng, phân tích, nhận định với những minh chứng cụ thể về khai thác du lịch từ văn hóa di sản, từ đó xác định được các giá trị của các loại hình di sản, giúp chỉ ra yếu tố nào cần giữ gìn nguyên bản, yếu tố nào có thể linh hoạt điều chỉnh hợp lí, và ở mức độ nào để đáp ứng nhu cầu du khách, nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho người dân nhưng vẫn không làm mất tính nguyên bản của di sản.

Các doanh nghiệp lữ hành phải làm tốt vai trò kết nối các bên trong hoạt động du lịch, định hướng tài nguyên khai thác khi xây dựng sản phẩm du lịch. Ở đây, tài nguyên được khai thác là các giá trị văn hóa của di sản, một dạng tài nguyên giúp tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt, có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền mà còn giữa các quốc gia. Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, giới thiệu thông tin giúp du khách hiểu rõ hơn về tính nguyên bản, các giá trị về văn hóa trong từng sản phẩm du lịch. Doanh nghiệp còn có thể giúp du khách nâng cao nhận thức khi sử dụng sản phẩm du lịch để trở thành những người du lịch có trách nhiệm đối với di sản. Như vậy, doanh nghiệp vừa có thể thu được lợi nhuận vừa có thể bảo tồn tính nguyên bản của di sản trong phát triển du lịch bền vững.

Cư dân địa phương là đối tượng tham gia trực tiếp trong hoạt động du lịch dựa vào di sản và cũng là những người trực tiếp sáng tạo, nuôi dưỡng, bảo tồn tài nguyên văn hóa địa phương nên rất thấu hiểu giá trị di sản và những đặc trưng văn hóa cộng đồng. Những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch cần tìm ra cách thức phục vụ du khách phù hợp, không mất kiểm sóat và luôn trên tinh thần tự tôn tộc người, địa phương; tránh những sự thay đổi một cách tùy tiện theo hướng đơn giản hóa, dễ được lòng một số du khách cá biệt, hay có khi chỉ là một chút sự tự ti dân tộc. Điều đó vô tình sẽ làm mất đi bản sắc văn hóa địa phương và tộc người mình. Làm mất bản sắc văn hóa bản địa chính là họ đánh mất cơ hội của cộng đồng mình trong tương lai.    

2.3. Vấn đề di sản tham gia vào chuỗi các hoạt động kinh tế

Nghệ An là một địa bàn khá lí tưởng cho hoạt động du lịch và phát triển kinh tế du lịch. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận, hiện tại Nghệ An chưa phải là điểm sáng trong lĩnh vực này. Cũng từ đây, chúng ta cần mạnh dạn tìm ra những yếu tố có tính chất “điểm nghẽn” để tháo gỡ và mở ra những hướng đi mới cho du lịch địa phương. Nếu như hướng chủ đạo của du lịch Quảng Ninh là du lịch biển kết hợp với du lịch di sản; Quảng Nam là du lịch khám phá di tích lịch sử kết hợp với du lịch biển; Khánh Hòa, Bà Rịa-Vũng Tàu là du lịch biển; Lâm Đồng là du lịch nghỉ dưỡng; Ninh Bình là du lịch chủ yếu dựa vào di tích hỗn hợp; các tỉnh vùng cao phía Bắc quan tâm đến du lịch bản địa với trọng tâm là du lịch cư trú tại nhà (homestay),… thì có thể nói, Nghệ An chưa có một mũi nhọn du lịch đích thực. Theo nhìn nhận chủ quan của chúng tôi, nhiều bãi biển ở các địa phương khác của nước ta cũng không hoàn toàn ưu thế hơn về cảnh quan, về chất lượng nước và cát so với bãi biển Cửa Lò và một vài bãi biển khác ở Nghệ An. Tuy nhiên về mùa du lịch chúng ta thấy hầu như các bãi biển và các điểm di sản thiên nhiên nổi tiếng của chúng ta đều vắng du khách nước ngoài, thậm chí không nhiều du khách các địa phương khác trong nước. Không ít người còn cho rằng, nếu không có Khu Di tích Kim Liên thì du lịch Nghệ An còn khó khăn hơn nhiều. Nếu chúng ta lấy số lượt khách viếng thăm Khu Di tích Kim Liên so sánh với số lượt khách du lịch được công bố trên các phương tiện truyền thông thì nhận xét trên là có cơ sở. Nói điều này là chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề, với những lợi thế của địa phương như trình bày ở trên, chúng ta lựa chọn một vài lợi thế có tính ưu thế nhất làm tiêu điểm để “hút khách”, và là trung tâm để kết nối các điểm và loại hình du lịch đến Nghệ An. Chúng ta biết rằng, không phải mọi di sản đều hấp dẫn, cuốn hút mọi đối tượng du khách. Chẳng hạn, du lịch tâm linh ít hấp dẫn du khách phương Tây, trong khi nhu cầu khám phá di sản thiên nhiên, các di sản mang đặc trưng truyền thống của địa phương (nghề truyền thống, các nhạc cụ và hình thức diễn xướng văn nghệ dân gian, món ăn truyền thống có tính độc đáo) của tộc người thông qua hình thức du lịch homestay và du lịch mạo hiểm, cảm giác mạnh, du lịch nghỉ dưỡng lại lôi cuốn họ hơn. Hình thức du lịch này lại giữ chân du khách được lâu, theo đó là chi tiêu nhiều. Du khách châu Á và trong nước thường quan tâm nhiều hơn đến cảnh quan thiên nhiên, văn hóa ẩm thực, và đặc biệt là khám phá di sản về lịch sử và văn hóa tâm linh. Có được nghệ thuật quảng bá và sự kết nối tốt; hiểu được tâm lí du khách và có giải pháp tiếp cận hợp lí sẽ mang lại hiệu quả, ngay cả đối với địa phương hay quốc gia không có lợi thế về di sản. Chúng ta hãy điểm qua một vài ví dụ:

- Singapore là một quốc gia gần như không có di sản. Họ không có một bề dày lịch sử, không có cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng, diện tích hẹp, dân số không đông. Xung quanh là biển nhưng không có ngư trường. Mọi thứ hầu như là đi mua, kể cả nước ngọt. Nói một cách cực đoan là du lịch đến đất nước này chúng ta ít có được sự trải nghiệm hấp dẫn. Giá cả lại quá đắt đỏ. Nhưng phải nói, Singapore là một quốc gia phát triển về du lịch, và có tên tuổi trong những nước có thu nhập về du lịch cao; là một trong bốn trụ cột về kinh tế của quốc gia này. Một bảo tàng chỉ bằng một góc nhỏ của Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, một hồ nước ngọt nhỏ và không có gì hấp dẫn hơn bất kỳ một hồ nước tự nhiên nào có tên trong danh sách các hồ nước ở Nghệ An,… cũng trở thành điểm du lịch có khả năng giữ chân du khách được ít nhất một ngày, với những chi phí kèm theo. Điều cần nói là những điểm đến không có gì đáng nói lại được kết nối trong chuỗi hoạt động du lịch của họ.

Từ ví dụ trên đây, chúng tôi muốn đề cập đến một vấn đề, đó là cách thức tổ chức các hoạt động du lịch di sản. Để di sản có thể tham gia vào chuỗi hoạt động kinh tế một cách hiệu quả thì hoạt động du lịch về lĩnh vực này phải là một nghệ thuật. Về cơ bản, mỗi di sản khó có thể tự mình làm du lịch, và không phải di sản nào cũng có chức năng làm kinh tế. Thậm chí trong giai đoạn hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo, từng địa phương khó có thể tự mình thành công trong hoạt động du lịch nếu không tham gia vào chuỗi hệ thống du lịch toàn quốc và du lịch quốc tế, mà mỗi di sản, mỗi địa phương là một mắt xích quan trọng trong hệ thống đó. Vai trò của chủ thể du lịch là kết nối các di sản, để đưa các di sản tham gia vào các tour du lịch một cách hợp lí, tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng du khách cũng như thời gian lưu trú của họ, thậm chí có thể tác động đến quyết định thời gian cho chuyến đi của du khách. Làm được điều đó, các di sản mới có điều kiện bảo tồn được tính nguyên bản, và có cơ hội để “sống lại” tính nguyên sơ của nó. Nói cách khác, hoạt động du lịch đã dung hòa được vấn đề bảo đảm tính nguyên bản và thương mại hóa trong việc khai thác các giá trị văn hóa di sản.

  1. Lời kết

Mặc dù “kinh tế di sản” là một khái niệm còn nhiều chỗ cần bàn, nhưng thực tế du lịch khai thác văn hóa di sản đã và đang thu được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, nếu không nhận thức được một cách đầy đủ, có tính khoa học; không được tổ chức một cách hợp lý sẽ tạo ra những hậu quả khó lường cho di sản mà chúng ta không dễ nhìn thấy một sớm một chiều. Khi khai thác văn hóa di sản để phát triển du lịch, chúng ta nhận diện được tính hai mặt của vấn đề. Du lịch giúp bảo tồn tính nguyên bản các loại hình di sản, và di sản góp phần vào sự phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch. Điều quan trọng là những người làm du lịch phải biết cách thức dậy những giá trị được ẩn chứa trong di sản, có giải pháp để các loại hình di sản có cơ hội và điều kiện tham gia đóng góp vào chuỗi các hoạt động du lịch; đồng thời du lịch khai thác di sản không làm tổn thương di sản; phải tạo nên quan hệ cộng hưởng trong hoạt động du lịch. Các di sản tư tưởng, di sản lịch sử, di sản là tài nguyên thiên nhiên cần được bảo tồn trên cơ sở tính nguyên bản một cách nghiêm ngặt, bởi với các di sản này, tính nguyên bản cũng đồng nghĩa với tính giá trị của di sản. Với các di sản văn hóa mang tính bản địa, các bên hữu quan cần có những nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở đó nhận diện những yếu tố nguyên bản mang tính giá trị để bảo tồn. Cùng với đó, điều chỉnh linh hoạt một số yếu tố văn hóa phù hợp loại hình du lịch, nhu cầu du khách khi cung cấp dịch vụ. Có như thế việc khai thác giá trị văn hóa của di sản trong phát triển du lịch sẽ bền vững và đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.q                                  

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
DỰ THẢO Văn bia nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) (1/7/2021)
Nói quá - Một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (Trên tư liệu hát giặm Nghệ Tĩnh) (30/6/2021)
Phân tích vai trò vốn văn hóa gia đình trong phát triển du lịch cộng đồng (27/6/2021)
Bữa cơm gia đình trong văn hóa truyền thống Việt Nam (26/6/2021)
Một lát cắt trong lịch sử về giống: Dưa hấu có nguồn gốc từ đông bắc châu Phi (3/6/2021)
Tìm hiểu khía cạnh kinh tế của di sản (liên hệ thực tế tại Nghệ An) (5/5/2021)
Một cách nhìn về Nguyễn Huy Thiệp (5/5/2021)
Khoa học tái hiện tái hiện “Lầu son gác tía” tại Hoàng thành Thăng Long sau 1.000 năm (3/5/2021)
Đường tàu khát vọng “đi suốt bốn mùa Xuân” (30/4/2021)
Bảo tồn các giá trị văn hóa bản sắc nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (28/4/2021)
Văn hóa vật thể và các hình thức văn hóa vật thể tiêu biểu (28/4/2021)
Vì sao người Việt chắp tay và niệm “Nam mô a di đà Phật” khi cúng bái? (9/4/2021)
Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo (9/4/2021)
Chuyển đổi kỹ năng trong giáo dục gia đình: Nuôi và dạy con trẻ ở nông thôn hiện nay (8/4/2021)
Đặc điểm giáo dục, khoa cử Nho học thời Nguyễn (8/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,738 | Tất cả: 3,198,019
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp