NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Về bức thư ngoại giao Việt - Nhật cổ nhất
Tin đăng ngày: 8/4/2021 - Xem: 261
 

HASUDA, Takashi (蓮田隆志)

ĐH Ritsumeikan Châu Á - Thái Bình Dương (APU)

 Mở đầu

Cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII là thời kỳ mà hơn hàng ngàn người Nhật Bản sang giao thương tại Việt Nam và chính phủ hai bên trao đổi quốc thư cho nhau. Trong bối cảnh đó, xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay) và người xứ Nghệ đóng vai trò quan trọng bởi thương thuyền Nhật Bản (Châu Ấn thuyền) sang xứ Nghệ để buôn bán. Những tài liệu gốc về giao lưu Nhật – Việt thời kỳ này được để lại ở Nhật Bản khả phong phú, dù tài liệu gốc ở Việt Nam không có nhiều và chưa được khai thác đầy đủ.

Một bức thư được phát hiện vào tháng 4 năm 2013. Bức thư này là thư ngoại giao cổ nhất giữa Nhật Bản và Việt Nam, chúng tôi gọi đây là “Bức thư tín của An Nam quốc Phó đô đường Phúc Nghĩa hầu Nguyễn” (安南国副都堂福義侯阮書簡), có niên đại năm 1591. Hiện tại, viện Bảo tàng Quốc gia Kyushu lưu giữ bức thư này và nó đã được nhà nước Nhật Bản công nhận là bảo vật di sản quan trọng[1]. Qua khoảng bảy năm từ việc phát hiện ra bức thư này, các nhà sử học, gồm bản thân tôi đã tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu lại chưa có sự đồng nhất. Anh Trần Mạnh Cường của thư viện tỉnh Nghệ An (bút danh Tử Quang) công bố một bài về bức thư này cuối năm 2014, đưa ra nhận định người gửi bức thư là Nguyễn Cảnh Đoan, một thành viên của dòng họ Nguyễn Cảnh xứ Nghệ[2]. Tôi cũng nhận định rằng người gửi thư là Nguyễn Cảnh Đoan tại hai lần hội thảo quốc tế[3] nhưng lại bị kéo dài công bố đó bằng bài viết trên tạp chí khoa học[4]. Tuy nhiên, nghiên cứu của hai người chúng tôi được tiến hành độc lập nhau, và nhận xét về người gửi thư lại có sự đồng nhất. Còn nhà nghiên cứu khác đưa ra nhận xét khác, đó là người gửi bức thư này có thể thuộc về chính quyền Đàng Trong[5], thế nên nhận xét về vấn đề này lại chưa được thống nhất. Thế vậy thì nhận dịp hội thảo lần này, tôi xin được giới thiệu một số nhận xét của tôi về vấn đề này và thêm giới thiệu sơ giản về tài liệu Nhật Bản. Ngõ hầu giúp cho mọi người thấy được đóng góp to lớn của người Nghệ trong mối quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản thời kỳ trung đại.

Upload

 

Di cảo bức thư có tựa đề “An nam phó đô đường phúc nghĩa hầu nguyễn” (Nguồn: Bảo tàng Kyushu)

 1. Ngày tháng và niên hiệu

Ngày tháng của thư này là ngày hai mươi mốt tháng ba nhuận, niên hiệu Quang Hưng năm thứ Tư. Theo nghien cứu của GS Lê Thành Lan, ngày này là ngày 13 tháng 5 năm 1591 lịch Gregory[6]. Chúng ta thấy được “tháng ba nhuận” trong năm ấy ở Bản kỷ quyển 17 của Đại Việt Sử ký Toàn thư, đây cùng với lịch Trung Quốc (lịch Đại Thống) còn lịch Senmyō mà người Nhật Bản sử dụng thời đó, năm này có tháng Giêng nhuận cho nên lịch trong bức thư này hoàn toàn phù hợp với lịch Việt Nam.

Thời kỳ đó, hai triều đình là nhà Mạc ở Thăng Long và nhà Lê ở Thanh Hoa phân tranh Bắc – Nam. Rõ ràng là tác giả của bức thư này thuộc về triều đình nhà Lê vì Quang Hưng là niên hiệu của vua Thế Tông nhà Lê từ năm 1578 đến 1599 chứ không phải niên hiệu của triều Mạc. Tuy nhiên một vấn đề nữa cần phải xem xét bởi lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng đã thiết lập căn cứ địa của mình ở xứ Thuận – Quảng, từng bước trở thành một chính quyền độc lập, cho nên chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn người gửi thư thuộc về triều đình Thanh Nghệ ở xứ Đàng Ngoài hoặc chính quyền Nguyễn Hoàng ở xứ Đàng Trong.

 2. Đô đường

Để tìm hiểu về người gửi thư thì tên gọi và tước chức trên bức thư được xem là quan trọng nhất. Ở dòng đầu có tên gọi và tước chức của người gửi là: “An Nam quốc Phó Đô đường Phúc Nghĩa hầu Nguyễn túc thư 安南国副都堂福義侯阮粛書”. Viện Bảo tàng Quốc gia Kyushu (Nhật Bản) đặt tên “Bức thư của An Nam quốc Phó đô đường Phúc Nghĩa hầu Nguyễn Túc 安南国副都堂福義侯阮粛書簡”. Một số nhà nghiên cứu ở Bảo tàng Kyushu đã đưa ra nhận định rằng chữ Túc là tên riêng của Phúc Nghĩa hầu. Tôi không đồng ý với nhận xét đó, bởi chữ Túc ở đây kết hợp với chữ Thư phía sau, sẽ có nghĩa là “trân trọng gửi thư”, chứ không phải tên riêng của một người nào đó. Câu này có nghĩa là một người họ Nguyễn, tước vị là Phúc Nghĩa hầu, giữ chức quan Phó đô đường ở nước An Nam trân trọng gửi thư (tới vua Nhật Bản).

Chức danh “Phó đô đường 副都堂” hay “đô đường” rất hiếm trong các sử liệu bên Viêt Nam kể cả các biên niên sử như Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Lê triều Trung hưng Công nghiệp Thực lựcĐại Việt Thông sử lẫn tài liệu quan chế thời nhà Lê trung hưng như Lịch triều Hiến chương Loại chí và Lê triều Quan chế Điện lệ, tôi tìm thấy được chỉ một thí dụ trong Cương mục:

 Tháng 7 (Bảo Thái năm thứ 3 (1722)), mùa thu. Định phép bảo cử các quan văn, quan võ.

Các quan: từ tam phẩm trở lên do lệnh chỉ đặc biệt bỏ dụng; từ tứ phẩm trở xuống nếu có khuyết ngạch, thì mỗi năm một kỳ giao cho các quan trong đô đường bảo cử, rồi xin lệnh chỉ xét định. Quan võ từ nhất phẩm đến tùng ngũ phẩm 91 người, quan văn từ nhất phẩm đến tùng ngũ phẩm 52 người, từ lục phẩm trở xuống, số viên chức không bó buộc theo hạn định[7].

 Bản dịch của Viện Hán Nôm dịch câu “phó đô đường bảo cứ付都堂保擧” là “giao cho các quan trong đô đường bảo cử”, tức là dịch giả nghĩ rằng từ “đô đường” ở đây nghĩa một cơ quan hoặc một nơi mà những quan lại làm việc nói chung hơn một quan chức cụ thể.

Ở Trung quốc, đô đường chỉ văn phòng tể tướng thời nhà Đường đến nhà Tống, còn gọi là ngự sử trong các nha môn giám sát, Tổng đốc và Tuần phủ thời nhà Minh vì Tổng đốc và Tuần phủ thường xuyên kiêm nhiệm chức quan ngự sử của Đô sát viện[8].

Còn chúng ta tìm thấy được bảy thí dụ trong những tài liệu được để lại ở Nhật Bản (xin xem phân tài liệu). Từ Đô đường xuất hiện trên tài liệu Đàng Trong (a và b) lẫn Đàng Ngoài (từ c đến g). Các thí dụ “Thuận Hóa Đại đô đường quan” (a và b), “bản xứ (Nghệ An xứ) Đô đường quan” (e) và “Bố chính đô đường” (g) cho rằng chức quan đô đường có liên quan đến thừa tuyên hoặc xứ, đơn vị hành chính địa phương cao nhất đương thời.

Hai “Đại đô đường” trong tài liệu c và d kết hợp với Nguyễn Cảnh Kiên, tức đây là danh chức của cá nhân. Tài liệu b gồm “Tân nhiệm đô đường”, “Thuận Hóa Đại đô đường quan”, và “Đô đường quan”, cái trước chỉ cá nhân còn hai cái sau nhóm quan lại làm việc cho cơ quan Đại đô đường hoặc Đô đường. Tài liệu e và f đều được Liêm Quận công Trần Tịnh cấp cho, cách nhau chỉ trong thời gian ba thán. “Đô đương quan” trong tài liệu e chỉ đều ba người (Nguyễn Cảnh Kiên, Trần Tịnh, và Nguyễn Cảnh Hà), từ cú này nghĩa là ba người đều thuộc về một cơ quan (đô đường), có thể giống nghĩa “bản xứ quan” trong tài liệu c. Còn “Đô đương quan” trong tài liệu f chỉ Trần Tịnh thôi nhưng từ này nghĩa “một trong những quan lại làm việc cho đô đường”.

Tóm lại, “đô đường” chỉ cơ quan cai quản một xứ, “(đại) đô đường quan” là tên gọi chung của các quan lại làm việc cho đô đường, và “Đại đô đường” là quan chức riêng của người đứng đầu đô đường. Chính vì vậy, “Phó đô đường” là một chức danh của người đứng thứ hai ở một xứ. Đô đường trường hợp Cương Mục cũng phù hợp với quan điểm này.

Như nói trên, cơ quan đô đường chưa được thấy ra trong các sử liệu chế độ quan lại Việt Nam thế kỷ XVI và XVII. Tôi nghĩ rằng tên gọi đô đường là tên cao nhất của Trấn thủ. Dưới chế độ Hồng Đức nửa cuối thế kỷ XV, đơn vị hành chính địa phương cao nhất được gọi Thừa tuyên; nhưng Đạo, Xứ, hoặc Trấn cũng được sử dụng[9]. Trong thừa tuyên có ba ty: Tán trị Thừa chính sứ ty, Thanh hình Hiến sát sứ ty và Đô chỉ huy sứ ty. Ba ty phân công dân sự, giám sát và quân sự. Nhưng từ thời Lê sơ, cơ cấu hành chính địa phương cao cấp luôn luôn khó đóng vai trò vì quy mô quan liêu chưa đầy đủ, cho nên võ quan cao cấp luôn kiêm nhiệm văn quan cao cấp để cai quản quân sự lẫn dân sự và cai quản vùng biên giới được thuận lợi hơn. võ quan ấy mang danh chức “Trấn thủ”[10]. Sau khi nội loạn xảy ra từ đầu thể ký XVI, vai trò của Trấn thủ trở nên lớn hơn, mà bằng chứng rõ ràng nhất là những võ quan hoặc đại thần được bổ nhiệm chức trấn thủ ở nội trấn như Mạc Đăng Dung. Các đô đường và Đại đô đường ở các tài liệu có lẽ giống nhau. Xưng gọi đô đường có thể được lấy tên gọi cao nhất của tuần phủ ở nhà Minh vì tuần phủ cai quản dân sự lẫn quân sự trong một địa phương như trấn thủ ở Việt Nam. Tôi xin giới thiệu một sự lệ “Thanh Hoa Chính phó Trấn thủ 清華正副鎮守” trong một bản Toàn Thư[11]. “Phó đô đường” trên bức thư năm 1591 chắc là tương đương “Phó Trấn thủ”. Vì vậy, tôi xin được nhận định rằng người gửi thư năm 1591 là một võ quan đang làm việc cho nha môn trấn thủ với tư cách là người đứng thứ hai, dù chưa biết thừa tuyên nào.

 3. Tước vị và họ

Thời Lê trung hưng, đặc biệt là nửa đầu thể ký XVII, tước vị quan trọng nhất để biểu hiện vị trí cao thấp của các quan văn võ, như Phan Huy Chú cho rằng “thời đầu Trung hưng, tước cấp quan trọng nhất 中興初、爵級最重”[12]. Xem qua các sử liệu trước khi triều đình nhà Lê hồi phục Thăng Long, chúng ta thấy được rất nhiều quận công và hầu, đại đa số là võ quan vì thời kỳ đó là một thời kỳ chiến tranh[13]. Thế vậy, vị trí của Phúc Nghĩa hầu chưa phải là tước vị cao nhất trong triều đình, ông có thể là một trong nhiều tướng quân cao cấp.

Theo nghiên cứu của riêng tôi, tôi đã tìm thấy được một người mang tước Phúc Nghĩa hầu. Trong các gia phả của họ Nguyễn Cảnh ở Thanh Chương – Nghệ An như Hoan châu ký có một người mang tước Phúc Nghĩa hầu, ông tên là Nguyễn Cảnh Đoan 阮景端, con thứ tám của danh tướng Nguyễn Cảnh Hoan[14]. Mặc dù không có chức danh Phó đô đường hoặc Phó trấn thủ trong các gia phả, nhưng “Tham đốc” và “Thần Vũ tứ vệ quân vụ sự” là chức quan của võ quan lại phù hợp với chức danh trên bức thư.

Họ Nguyễn Cảnh đóng đóng vai trò quan trọng trong quân đội nhà Lê ở Thanh – Nghệ dưới sự lãnh đạo của Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng. Các tài liệu được để lại ở Nhật Bản cho rằng những thành viên của họ Nguyễn Cảnh như Nguyễn Cảnh Kiên và Nguyễn Cảnh Hà làm việc ở xứ Nghệ đầu thế kỷ XVII và giúp nhiều thương nhân người Nhật ở vụ chìm thuyền ở cửa biển Đan Nhai năm 1609 (cùng với Văn Lý hầu Trần Tịnh). Vợ của Nguyễn Cảnh Hà là con gái chúa Trịnh Tùng, tên là Ngọc Thanh cũng là người nuôi sống những nạn nhân trong vụ chìm thuyền nói trên và cấp bằng cho họ[15]. Hoạt động của cha và anh của Nguyễn Cảnh Đoan có thể là bằng chứng thêm về Nguyễn Cảnh Đoan cũng hoạt động ở xứ Nghệ. Còn một cái bằng chứng thêm là bức thư tín của Văn Lý hầu Trần Tịnh (tài liệu e)[16]. Bức thư này được phát hiện với bức thư của Phúc Nghĩa hầu, việc này cho thấy hai bức thư được để lại cùng một nơi, mặc dù lai lịch của hai bức thư này trước khi Bảo tàng Kyushu mua không được công bố. Văn Lý hầu hoạt động ở xứ Nghệ thì bức thư của Phúc Nghĩa hầu cũng có thể có liên quan đến xứ Nghệ. Rất tiếc chúng ta chưa tìm thấy được bằng chứng vững chắc, chỉ có những bằng chứng bổ sung cho việc nghiên cứu. Nhưng bản thân tôi xin được suy đoán Phúc Nghĩa hầu trên bức thư năm 1591 là Nguyễn Cảnh Đoan.

 4. Ngoại giao hay giao thiệp cá nhân?

Nếu suy đoán của tôi đúng, thì bức thư tín của Phúc Nghĩa hầu là bức thư một tướng quân địa phương cao cấp gửi tới vua. Vì vậy, chúng ta cần phải thừa nhận rằng hình thức văn chương của bức thư này không được trang trọng và phù hợp đối với chính quyền nước Nhật Bản lúc bấy giờ. Tất nhiên, phó đô đường và quốc vương không cùng vị thế, nhưng hình thức bức thư này là “thư 書”. Hình thức này được sử dụng giữa những người bình đẳng trong khu vực Đông Á rất phổ biến thời trung đại, như giữa tướng quân[17] Nhật Bản và vua Triều Tiên[18]. Thực tế, Nguyễn Cảnh Đoan đã cho thấy sự kính trọng của mình bằng cách thêm dấu tròn trước từ Quốc vương. Tuy nhiên cách sử dụng thêm dấu tròn này phổ biến ở Việt Nam thời kỳ trung đại, nhưng lại không phổ biến tại Nhật Bản nên không một người Nhật Bản nào hiểu rõ về biết cách thức này.

Nguồn gốc hình thức Thư là Thư Khiết 書契. Hình thức này vốn được sử dụng ở thư tín giữa cá nhân như bạn bè, bằng hữu, sau đó được ứng dụng trong ngoại giao để biểu hiện sự bình đẳng. Có khả năng, Nguyễn Cảnh Đoan nhằm kết nối mối quan hệ riêng với vua Nhật Bản nhưng chưa rõ tại sao ông sử dụng hình thức Thư thay thế cho hình thức khác như Thận hoặc Khải.

Upload

 

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và cựu Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo

 5. Thay lời kết luận

Một số tài liệu địa phương về lịch sử TP Nagasaki cho rằng năm đầu thời Văn Lục (1593-96), Toyotomi Hideyoshi, người nắm quyền bính tối cao ở Nhật Bản thời đó, cấp giấy tờ với châu ấn cho những thương gia lớn ở Nagasaki, Kyoto, và Sakai để gửi thương thuyền tới các nước Đông Nam Á gồm Đông Kinh (Đàng Ngoài) và Quảng Nam (Đàng Trong). Giáo sư Iwao Seiichi nghĩ rằng các tài liệu này là các cứ của sự thiết lập chế độ Châu Ấn thuyền[19]. Nhưng theo giáo sư Nakada Yasunao, những ghi chép này không tin cậy được vì những tài liệu đó được biên soạn hơn trăm năm sau[20] thì chưa thể đi đến kết luận nhất định.

Nếu ý kiến của giáo sư Iwao đúng thì việc gửi thương thuyền có thể được coi sự hưởng ứng với thư tín của Nguyễn Cảnh Đoan, mặc dù không có thông tin về bức thư này trong các tài liệu bên Nhật Bản đương thời. Tôi nghĩ rằng thư của Nguyễn Cảnh Đoan không được dâng lên tới Toyotomi Hideyoshi, bởi vì văn chương bức thư trên không được trang trọng như tôi đã nói ở trên. Hơn nữa, Toyotomi Hideyoshi bấy có uy tín rất lớn, ông gửi sứ đến Tổng đốc Philippines tại Manila yêu cầu đầu hàng năm 1591, tức cùng năm Nguyễn Cảnh Đoan gửi thư, và cũng là thời điểm bắt đầu xâm lược Triều Tiên vào năm sau. Vì vậy, nếu Hideyoshi đọc thư của Nguyễn Cảnh Đoan thì ông chắc chắn sẽ không hài lòng và tỏ ra tức giận. Mối quan hệ giữa hai nước được tiến hành trong dân gian, khoảng mười năm sau đó mới thiết lập ngoại giao chính thức giữa Mạc phủ Tokugawa mà chính quyền kế thừa Toyotomi Hideyoshi và Đàng Trong.

 

[Phần tài liệu]

*Tên gọi của các tài liệu theo tạp tài liệu của ông Fujita Reio [Fujita 2014] (xem phần phụ lục). No. cũng nghĩa số trong tạp tài liệu ấy.

 【a】安南國天下統兵都元帥阮潢致書写:弘定2年(1601)5月5日付[藤田2014:No.2]

致使順化大都堂官與顯貴商客事、皆已誤。

Bức thư của Thụy quốc công (Nguyễn Hoàng) tới Toyotomi Hideyoshi. Ngày mòng 5 tháng 5 Hoằng Định năm thứ 2 (1601) (bản sao trong Ikoku Raikan Shitatame 異国来翰認) [Fujita 2014, No.2]

... bất Thuận Hóa Đại đô đường quan và các thương khách tàu của [Shirahama] Kenki đều làm sai [xử lý sự kiện].

 【b】安南國天下統兵都元帥阮潢書簡写:弘定2年(1601)5月5日付[藤田2014:No.3]

又蒙文翰、乃前任都堂往復。今我新任都統元帥…順化大都堂官、不識顯貴良商與船衆爭氣、不意都堂官事誤身故。

Bức thư của Thụy quốc công (Nguyễn Hoàng) tới Terasawa Masanari. Ngày mòng 5 tháng 5 Hoằng Định năm thứ 2 (1601) (bản sao trong Gaiban Syokan 外蕃書翰) [Fujita 2014, No.3]

Còn được nhận thư [của Terasawa] thì Đô đường tiền nhiệm (Nguyễn Phúc Nguyên) gửi thư nhau rồi. Bây giờ, tôi vừa mới trở thành Đô thống Nguyên soái .... Vì Thuận Hóa Đô đường quan không biết [Shirahama] Kenki vỗn là thương nhân lành thì cãi nhau với thủy thủ [tàu của Kenki], bất ngờ Đô đường quan bị chết.

 【c】安南國文理侯達書写:弘定11年(1610)2月9日付[藤田2014:No.22]

其本處官大都堂右府舒郡公・文理侯・駙馬廣富侯…

Bức thư của Văn Lý hầu (Trần Tịnh) tới những người Nhật bị gặp đắm tàu. Ngày mòng 9 tháng 2 Hoằng Định năm thư 11 (1610) (bản sao trong Ikoku Nikki 異国日記 quyển hạ) [Fujita 2014, No.22]

Này, các quan bản xứ (xứ Nghệ) Đại đô đường Hữu phủ Thư quận công (Nguyễn Cảnh Kiên), Văn lý hầu, và Phò mã Quảng Phú hầu (Nguyễn Cảnh Hà)....

 【d】安南國廣富侯書簡写:弘定11年(1610)2月20日付[藤田2014:No.23]

其臺下(廣富侯)嚴侍 ○ 大都堂右府舒郡公憐養三十九人…

Bức thư của Quảng Phú hầu (Nguyễn Cảnh Hà) tới vua Nhật Bản. Ngày 20 tháng 2 Hoằng Định năm 11 (1610) (bản sao trong Ikoku Nikki 異国日記 quyển thượng) [Fujita 2014, No.23]

Này, bố của đài hạ (Nguyễn Cảnh Hà), tức là Đại đô đường Hữu phủ Thư quận công (Nguyễn Cảnh Kiên) thương xót [nó] thì chăm sóc ba mươi chín người [Nhật bị đắm tàu]...

 【e】安南國文理侯書簡:弘定11年(1610)2月25日付[藤田2014:No.24]

其本處都堂官右府舒郡公・掌監文理侯・駙馬廣富侯…

Bức thư của Văn Lý hầu (Trần Tịnh) cho lái Nhật Bản Thị Lương và Bích Sơn bá v.v. Ngày 25 tháng 2 Hoằng Định năm thư 11 (1610) (hiện bật ở Bảo tàng Quốc gia Kyushu) [Fujita 2014, No.24]

Này, các quan bản xứ Đô đường Hữu phủ Thư quận công (Nguyễn Cảnh Kiên), Thưởng giám Văn lý hầu, và Phò mã Quảng Phú hầu (Nguyễn Cảnh Hà)....

 【f】安南國文理侯書簡:弘定11年(1610)5月13日付[藤田2014:No.27]

安南國都堂官文理侯、奉差徃乂安處興元縣華園社、知日本艚。

Bức thư của Văn Lý hầu (Trần Tịnh) cho lái người Nhật Bản. Ngày 13 tháng 5 Hoằng Định năm thứ 11 (Suminokura Monjo 角倉文書) [Fujita 2014, No.27]

An Nam quốc Đô đường quan Văn Lý hầu, kính nhận mệnh ý đến xã Hòa Viên, huyện Hưng Nguyên, xứ Nghệ An cai trị tàu Nhật Bản.

 【g】安南國華郡公書簡写:弘定20年(1619)4月17日付[藤田2014:No.36]

安南國布政都堂右府華郡公、拜書大邦日本國奉行大人麾下。

Bức thư của Hoa quận công tới ngại Bugyō[21] (bản sao trong Gaiban Syokan 外蕃書翰) [Fujita 2014, No.36]

An Nam quốc [châu] Bố Chính Đô đường Hữu phủ Hòa quận công, kính gửi bức thư tới ngại Bugyō của nước mạnh lớn Nhật Bản.

 [Phân phụ lục: Giải thích sơ giản về các tài liệu Nhật Bản trong bài này]

Sự giới thiệu về tài liệu mối quan hệ Nhật – Việt được đẻ lại ở Nhật Bản khá sơm, ông Lê Dư, bút danh Sở Cuồng viết hai bài trong tạp chí Nam Phong năm 1921 và 21. Ông ấy thu tập và giới thiệu 35 bức thư trong các tài liệu Ikoku Nikki, Koji Ruien, Dainippon Shiryo, Nagasakishi, và Nanpo Bunshu nhưng chưa hết[22].

Nhận dịp kỷ niệm 40 năm thành lập quan hệ ngoại giao Nhật – Viêt, viện Bảo tàng Quốc gia Kyushu kế hoạch tổ chức một triển lãm quy mơ lớn về lịch sử quan hệ Việt – Nhật. Quá trình chuẩn bị đó, Nghiên cứu viên ông Fujita Reio (bây giờ chuyển đến vụ Văn hóa của bộ Giáo dục) bắt đầu điều tra tài liệu về mối quan hệ Nhật – Việt được để lại ở Nhật Bản, bức thư của Phúc Nghĩa hầu được phát hiện ra. Năm 2014-15, ông ấy công bố 2 bài tạp tài liệu về đề tài này với hiệu đính rất công phu[23]. Ông ấy cũng công bố phần tích văn bản đó từ gốc độ văn bản học, đó rất hữu ích nhưng tiếc lắm là nó không được công bố trên mạng[24]. Ở tập tài liệu ông Fujita thu tập 62 bức thư và hiệu đính giữa các văn bản, trong đó mười bức là hiện vật. Con lại hơn 50 bức thư là bản sao nên hình thức và chất lượng khác nhau. Dựa vào nghiên cứu của ông Fujita, tôi xin được thêm giải thích sơ giản về các tài liệu tôi chích dẫn bài này dưới đây để tiện lợi nghiên cứu của các bạn Việt Nam.

 1. Ikoku Raikan Shitatame 異国来翰認

Saisyo Syotai西笑承兌 (cùng gọi Seisyo Jotai, 1548-1608) soạn, hai tập thượng và hạ. Tập văn bản ngoại giao giữa Nhật Bản với nước ngoại, Việt Nam, Minh, Triều Tiên, Campuchia. Sách này là tập bản sao văn bản ngoại giao trên bình phong ở Shinkain. Shinkain là một tỏa nhà nhỏ trong chùa Syokokuji, một chùaThiền tông lớn và nổi tiếng nằm ở Kyoto, Saisyo Syotai là nhà sư cư trú ở chùa này và làm việc cho các lãnh đạo Nhật Bản như Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu tư cách với cố vấn ngoại giao. Vì thầy ấy đảm nhiệm ngoại giao các tư liệu hiện vật được tập trung ở Syokokuji. Để bảo tồng những bức thư, nhà sư dám nó trên bình phong rồi nhưng mà không may mắn bình phong đó bị chảy năm 1788. Dù cuốn sách này được gìn giữ ở chùa Syokokuji nhưng không cho phép xem, Trung tâm Biên soạn Sử liệu trường ĐH Tokyo có bản sao chép, ký hiệu: 2051.9-120.

 2. Gaiban Syokan 外蕃書翰

Kondo Seisai[25] (1771-1829) soạn Tập bức tranh của văn bản ngoại giao. Kondo là một võ sỹ làm việc cho Mạc phủ Tokugawa, nổi tiếng về cuộc thám hiểm những hòn đạo biên giới phía bắc Nhật Bản. Ông ây cũng có nổi danh về văn bản học. Trong khi ông cai quản văn kho của Mạc phủ (Syomotsu Bugyo) biên soạn nhiều công trình nghiên cứu. Trong đó, Gaiban Tsusyo 外蕃通書 là tập văn bản ngoại thương, Annan Kirakuko 安南紀略藁 là sách nghiên cứu về Việt Nam đầu tiên ở Nhật Bản. Gaiban Syokan có thể được biên soạn cùng với Gaiban Tsusyo, sao chép không chỉ văn chương mà còn dấu ấn, hoa văn, và phong cách chữ viết có màu thì giá trị rất cao. Viện Lưu trữ Quốc gia có ba bản (ký hiệu: 184-0376, 184-0377, và 271-0526). Bản 271-0526 là bản sao thời Minh Trị. Bản 184-0376 là bản gốc được công bố trên mạng của viện (https://www.digital .archives.go.jp/).

 3. Ikoku Nikki 異国日記

Sách về ngoại giao từ năm 1608 đến 1629 gồm những sự kiện yết kiến cuả người nước ngoại, sổ thảo và bản chép lại của văn bản ngoại giao. Tác giả chưa được xác định, có thể là các nhà sư Thiền tông tham gia ngoại giao như Saisyo Syotai, Kanshitsu Genkitsu 閑室元佶 (1548-1612), và Ishin Suden 以心崇伝 (1569-1633). Sách này được để lại ở Konchiin của chùa Nanzenji, Kyoto, sau đó viện Bảo tang Quốc gia Kyoto bảo quản hiện nay và được công nhận bảo vật văn hóa quan trọng rồi. Tuy nhiên sách hình ảnh toàn văn đã được xuất bản dưới tên Hội xuất bản Ikoku Nikki năm 1989 rồi[26], chắc khó xem ở Việt Nam, hơn nữa nhiều bộ phần được viết bằng chữ thảo thì khó đọc. Giáo sư Tsuji Zen’nosuke phát biểu bản hiệu đính toàn văn trên tạp chí Shien của ĐH Rikkyo tất cả 22 lần

Bản hiệu đính của giáo sư Tsuji Zen’nosuke trên tạp chí Shien tất cả 22 lần được công bố trên mạng, chúng ta tải xuống được từ dữ liệu của ĐH Rikkyo hoặc CiNii[27].

 4. Suminokura Monjo 角倉文書

Tên gọi chung của những văn bản được để lại họ Suminokura. Họ Suminokura là một thương giả lớn ở Kyoto thời trung đại và tham gia mậu dịch Châu Ấn thuyền với Viêt Nam đầu thế kỷ XVII. Trung tâm Biên soạn Sử liệu ĐH Tokyo và Bảo tàng ĐH Kyoto có bản sao và bản hình ảnh, tôi chưa biết hiện trặng của nguyên bản.

 

Chú thích

[1] Ký hiệu P14982 (https://collection.kyuhaku.jp/advanced/11014.html).

[2] Tử Quang, “Bức thư ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Nhật Bản bức quốc thư của một người Nghệ”. Khoa học Công nghệ Nghệ An. số 2014-11, 2014.

[3] Hasuda Takashi, “Shinhakken no Nihonkokuo ate Syokan nimiru Reimeiki no Nichietsu Koryu to Ajia Kaiiki Sekai (Giao lưu Nhật – Việt thời mở đầu và thế giới vùng biển châu Á nhìn qua bức thư vừa mới phát hiện)”, Hội thảo quốc tế kỷ niệm thành lập 30 năm của Viện Nghiên cứu Hòn đạo, ĐH Mokpo và 20 năm của Hội Nghiên cứu Lịch sử vùng biển châu Á. TP Mokpo: Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Văn hóa Hải dương, Ngày mong 2 tháng 12 năm 2013. (蓮田隆志「新発見の日本国王宛書翰にみる黎明期の日越交渉とアジア海域世界」木浦大學校島嶼文化硏究院30周年・海域アジア史研究会20周年記念 共同学術会議「島と海から見た歴史」、2013年12月2日、國立海洋文化財硏究所(韓国・モッポ)), Hasuda Takashi, “The Opening Phase of Japan - Vietnam Diplomacy in the Maritime Asian World: Through Introducing a Newly-Discovered Letter from Vietnam to ‘King of Japan’” AAWH 3rd Congress, 30th May 2015, Singapore: Nanyang Technological University.

[4] Hasuda Takashi và Yonetani Hitoshi, “Kinsei Nichietsu Kankei no Reimei (Mở đầu giao lưu Nhật – Việt thời cận thế)”, Tonan Ajia Kenkyu, 56(2), 2019 (蓮田隆志&米谷均「近世日越通交の黎明」『東南アジア研究』56(2)、2019年)

[5] Nguyễn Quang Trung Tiến, “Những tồn nghi quanh Nỗ lực Bang giao giữa Nguyễn Hoàng với Nhật Bản cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII”, Kỷ yếu hội thảo “Lịch sử và Triển vọng mối Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nhìn từ miền Trung Việt Nam”. Đà Nẵng, 2013.

[6] Lê Thành Lân. Năm trăm năm Lịch Việt Nam (1544-2043). Hà Nội: Nxb Hà Nội, 2010.

[7] 秋七月、定文武保擧法。

三品以上出自特旨、四品以下有缺、遞年一期付都堂保擧、請旨取裁。武自一品至從五品九十一員、文自一品至從五品五十二員、六品以下、不拘員數。(『欽定越史通鑑綱目』巻36、壬寅保泰3年(1722)秋七月条). Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Khâm Việt sử Thông giám Cương mục A.1/1-9, Đại Việt Sử ký Toàn thư A.3/1-4. n.d., CD-ROM.

[8] Giáo sư Đặng Phương Nghi cho rằng chức nhiệm của đô đường tương đương với ngự sử. Xem Dang Phuong-Nghi, Les institutions publiques du Viêt-Nam au XVIIIème siècle. Paris: EFEO, 1969.

[9] Hasuda Takashi, “Bento Thiện no Tsutaeru Kinsei Betonamu no Chiho Gyosei Tan’i (Đơn vị hành chính địa phương trong tài liệu của ông Bento Thiện)” Kan Higashi Ajia Kenkyu, số 9, 2015, tr. 45-46 chú thích 10. (蓮田隆志「ベント・ティエンの伝える近世ベトナムの地方行政単位」『環東アジア研究』9、2015年)

[10] Yao Takao, Reisyo Betonamu no Seiji to Syakai (Chính trị và xã hội thời Lê sơ). Higashi Hiroshima: Hiroshima Daigaku Syuppankai, 2009. (八尾隆生『黎初ヴェトナムの政治と社会』東広島:広島大学出版会、2009年)

“Bản xứ quan 本處官” trong tài liệu c và “Bản xứ đô đường quan本處都堂官” trong tài liệu e cho rằng Văn Lý hầu Trấn Tịnh được gồm đô đường quan. Có lẽ đây y nghĩa là trấn thủ cũng cai quản những sự việc của hoạn quan vì Trấn Tịnh là một hoạn quan có uy tín và đảm nhiệm ngoại thương với người Nhật đầu thể ký XVII. Xem Hasuda Takashi, “Văn Lý hầu Trần Tịnh: Một nhân vật lịch sử trong lịch sử ngoại thương Việt-Nhật thế kỷ ⅩⅦ”. ĐHQG Hà Nội, Trường ĐHKHXH & NV, Khoa Đông Phương hoc (biên soạn). Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Những vấn đề lịch sử và hiện đại. Hà Nội: Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004. Hasuda Takashi, “Bunriko Chinko Hoko (Nghiên cứu bổ khuyết về Văn Lý hầu Trần)” Higashi Ajia: Rekishi to Bunka, 23, 2014. (蓮田隆志「文理侯陳公補考」『東アジア:歴史と文化』23、2014年)

[11] Đại Việt Sử ký Tục biên (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A4/2), quyển 19, điều tháng 6 đến thangs8, Quang Hưng năm 22 (1599),

[12] Lịch triều Hiến chương Loại chí, quyển 17, Quan chức chí, Tước ấm sỹ đồ chi biệt, Tước cấp.

[13] Sau khi nhà Lê lược định đồng bàng sông Hồng thì quan văn mang tước bá hoặc nam trở nên nhiều hơn trong sử sách.

[14] “Bát nam Cảnh Đoan. Phong Tham đốc Thần Vũ tứ vệ quân vụ sự, Phúc Nghĩa hầu. 八男景端。封参督神武四衛軍務事・福義侯”. Ngoại một cuốn gia phả của họ Nguyễn Cảnh được Bảo tang tỉnh Nghệ An gìn giữ ghi chép “Lộc Nghĩa hầu 禄義侯” (Hoan châu Nguyễn Cảnh tộc Gia phả, ký hiệu: 5064/GY3), tất cả gia phả khác tôi xem được ở thư viện mà còn ở nhà các hậu duệ họ Nguyễn Cảnh đều ghi Phúc Nghĩa hầu.

[15] “An Nam quốc tướng giám Văn Lý hầu uyên Thư hàn phong diện bính (An Nam quốc) Quảng Phú hầu quận chú bằng 安南国将監文理侯宛書翰封面並(安南国)広富侯郡主憑”. Hình ảnh ở Trung tâm biên soạn sử liệu, ĐH Tokyo. Ký hiệu: 台紙付写真-145-4508. Bản sao được ở Thư viện ĐH Waseda được công bố trên mạng: https://www.wul.waseda.ac.jp/kotenseki/html/i04/i04_03153_c037/index.html

[16] https://collection.kyuhaku.jp/advanced/10294.html ký hiệu: P14983. Bức thư này cũng được công nhận bảo vật di sản quan trọng.

[17] Quan chức Tướng quân (Syogun) ở Nhật Bản, goi chính tức Chính di Đại tướng quân, là một quan chức đặc biệt hoàn toàn khác nhau với tướng quân của các nước Đông Á khác. Quan chức này là quan chức tối cao của võ sỹ Nhật Bản, giống như Chúa ở Việt Nam đương thời.

[18] Takahashi Kimiaki, “Gaiko Monjo ‘Syo’ ‘Shi’ ni tưuite (Về văn bản ngoại giao ‘Thư’ và ‘Tư’)”. Nenpo Chuseishi Kenkyu, 7, 1982. (高橋公明「外交文書「書」「咨」について」『年報中世史研究』7、1982年)。Fujita Reio, “Annan Nichietsu Gaiko Monjo no Yoshiki to Denrai (Hình thức và ly lịch truyền của văn bản ngoại giao Nhật – Việt)”, Kojima Michihiro, Tanaka Hiroki, và Araki Kazunori (biên soạn), Komonjo no Yoshiki to Kokusai Hikaku (Hình thức và so sánh quốc tế về cổ văn thư). Tokyo: Bensei Syuppan. (藤田励夫「安南日越外交文書の様式と伝来」小島道裕・田中大喜・荒木和憲(編)『古文書の様式と国際比較』東京:勉誠出版)

[19] Iwao Seiichi, Shinpan Syuinsen Bouekishi no Kenkyu (Nghiên cứu về lịch sử mậu dịch Châu ấn thuyền, bản mới). Tokyo: Yoshikawa Kobunkan, 1985. (岩生成一『新版 朱印船貿易史の研究』東京:吉川弘文館、1985年)

[20] Nakada Yasunao, Kinsei Taigaikankeishi no Kenkyu (Nghiên cứu về lịch sử quan hệ đối ngoại thời cận thế). Tokyo: Yoshikawa Kobunkan, 1984.(中田易直『近世対外関係史の研究』東京:吉川弘文館、1984年)

[21] Một chức danh của chính phủ Nhật Bản. Chỗ này chỉ Nagasaki Bugyō tức Thống đốc thành phó Nagasaki.

[22] Huỳnh Trọng Hiền, “Syuinsen jidai zengo no Nichietsu Kankei (Mối quan hệ Nhật – Việt trước sau thời kỳ Châu Ấn thuyền)”, Shigaku Kenkyu, 279, 2013. (フイン・トロン・ヒエン「朱印船時代前後の日越関係」『史学研究』279、2013年)

[23] Fujita Reio, “Annan Nichietsu Gaiko Monjo Syusei (Tạp văn bản ngoại giao Nhật – Việt)”, Tofu Seisei, 9, 2014, “Zoku Annan Nichietsu Gaiko Monjo Syusei (Tạp văn bản ngoại giao Nhật – Việt, tục biên)”, Tofu Seisei, 10, 2015. (藤田励夫「安南日越外交文書集成」『東風西声』9、2014年、同「続安南日越外交文書集成」『東風西声』10、2015年)

[24] Một bài của ông ấy trong sách Lịch sử Giao lưu Việt Nam – Nhật Bản (Pham Thị Thu Giang biên soạn, Hà Nội: Nxb Thế giới, 2014) thì có thể xem được ở Việt Nam. Những công trình nghiên cứu khác của ông ấy thì xin xem https://researchmap.jp/read0099620?lang=ja

[25] Seisai là hiệu, tên thật là Morishige, còn tên thường dụng là Juzo.

[26] Ikoku Nikki Kankokai biên soạn, Eiinbon Ikoku Nikki: Konchiin Suden Gaiko Monjo Syusei (Bản sách hình ảnh Ikoku Nikki: Toàn tập văn bản ngoại giao của thầy Konchiin Suden). Tokyo: Tokyo Bijutsu, 1989. (異国日記刊行会(編)『影印本 異国日記:金地院崇伝外交文書集成』東京:東京美術、1989年)

[27] Dữ liệu của ĐH Rikkyo là https://rikkyo.repo.nii.ac.jp/ , CiNii thì https://ci.nii.ac.jp/

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
DỰ THẢO Văn bia nghĩa trang liệt sĩ huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) (1/7/2021)
Nói quá - Một lối nói thể hiện đặc trưng văn hóa của người Nghệ - Tĩnh (Trên tư liệu hát giặm Nghệ Tĩnh) (30/6/2021)
Phân tích vai trò vốn văn hóa gia đình trong phát triển du lịch cộng đồng (27/6/2021)
Bữa cơm gia đình trong văn hóa truyền thống Việt Nam (26/6/2021)
Một lát cắt trong lịch sử về giống: Dưa hấu có nguồn gốc từ đông bắc châu Phi (3/6/2021)
Tìm hiểu khía cạnh kinh tế của di sản (liên hệ thực tế tại Nghệ An) (5/5/2021)
Một cách nhìn về Nguyễn Huy Thiệp (5/5/2021)
Khoa học tái hiện tái hiện “Lầu son gác tía” tại Hoàng thành Thăng Long sau 1.000 năm (3/5/2021)
Đường tàu khát vọng “đi suốt bốn mùa Xuân” (30/4/2021)
Bảo tồn các giá trị văn hóa bản sắc nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (28/4/2021)
Văn hóa vật thể và các hình thức văn hóa vật thể tiêu biểu (28/4/2021)
Vì sao người Việt chắp tay và niệm “Nam mô a di đà Phật” khi cúng bái? (9/4/2021)
Khái niệm, đặc điểm và các loại sản phẩm du lịch biển đảo (9/4/2021)
Chuyển đổi kỹ năng trong giáo dục gia đình: Nuôi và dạy con trẻ ở nông thôn hiện nay (8/4/2021)
Đặc điểm giáo dục, khoa cử Nho học thời Nguyễn (8/4/2021)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
Giới thiệu sách: Lịch sử địa danh và tiểu sử danh nhân các trường học ở Hưng Nguyên được mang tên
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 2,021 | Tất cả: 3,198,302
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp