NGHIÊN CỨU KHXH&NV
NGHIÊN CỨU NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN CÁC ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN TÂY NGHỆ AN ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Tin đăng ngày: 19/5/2016 - Xem: 4166
 
  1. Đặt vấn đề

Miền Tây Nghệ An có dân số 1.197.628 người, chiếm 41% dân số toàn tỉnh. Trong đó có 5 cộng đồng dân tộc thiểu số gồm Khơ Mú, Mông, Ơ Đu, Thái, Thổ có dân số 442.787 người, chiếm 15,2% dân số của khu vực(1). Mỗi dân tộc có những quy ước, phong tục, tập quán riêng khá phong phú và đặc sắc về văn hoá. Tuy nhiên, kinh tế chủ yếu là thuần nông, sản xuất nhỏ, manh mún và nặng tự cung tự cấp. Chưa có một hệ thống và mạng lưới thương mại đủ mạnh để cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho sản xuất. Về nguyên nhân thì có nhiều, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ các thói quen, tập quán sản xuất cũ; những quan niệm lệch lạc về hôn nhân gia đình, sinh sản, học hành, vệ sinh môi trường; cưới xin, ma chay,… Các tập quán lạc hậu này không nhiều song lại có tác động, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự xã hội và làm kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền Tây Nghệ An.

  1. Kết quả nghiên cứu

Thực trạng về sản xuất

Cũng giống như ở miền xuôi, đồng bào các dân tộc thiểu số trồng nhiều loại cây khác nhau để duy trì cuộc sống và tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Trong số đó, cây lúa được xem là cây lương thực chủ lực chiếm 89,5%. Mặc dù canh tác nương rẫy chiếm tỷ lệ khá cao, phụ thuộc nhiều vào thời tiết nhưng hiện tượng mất trắng mùa màng rất ít khi xảy ra. Do đó, mục tiêu lớn nhất về lương thực vẫn đảm bảo. Qua đó cho thấy canh tác nương rẫy ở khu vực miền Tây Nghệ An đang được duy trì như một hệ nông nghiệp chủ yếu và ít có khả năng thay thế, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn cung lương thực cho người dân, giảm gánh nặng trợ cấp thiếu ăn cho người dân trên địa bàn.

Cây trồng chính là ngô, khoai, sắn, đậu, cải, bí... chiếm 63,8% nhưng mật độ trồng thường không lớn, chủ yếu trồng xen, mỗi loại một ít. Đặc thù về địa hình kết hợp với các tri thức bản địa đã tạo nên các sản phẩm đặc sản và có ý nghĩa kinh tế nhất định của địa phương như bí xanh, khoai sọ, dưa rẫy, cải ngồng, cà chua,… với giá thành bán ra trên thị trường cao gấp 1,5 - 2 lần so với các sản phẩm thông thường.

Chăn nuôi chiếm 89,3%, hầu như gia đình nào cũng tham gia chăn nuôi, trong đó, chăn thả rông chiếm tỷ lệ cao 31,9% nhưng cũng chính từ phương thức chăn nuôi này người dân đã thuần chủng, chọn lọc và phát triển tốt các vật nuôi như bò Mông, gà ác, vịt bầu, lợn đen, trâu Na Hỷ,… có khả năng chống chịu thời tiết, bệnh tật. Các sản phẩm này được rất nhiều người ưa chuộng, là những đặc sản phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn...

Nghề thủ công và những ngành nghề khác chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp. Bước đầu, đã khôi phục và phát triển nghề, làng nghề truyền thống nhằm phát huy nội lực khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, trong đó phải kể đến những làng nghề như: làng nghề dệt thổ cẩm - xã Hoa Tiến, hương trầm (Quỳ Châu); mây tre đan xuất khẩu có thương hiệu không chỉ trên địa bàn tỉnh Nghệ An mà còn được nhiều tỉnh khác biết đến.

Các hoạt động sản xuất như hái lượm, săn bắn, khai thác gỗ… vẫn còn tồn tại song không mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân như trước đây.

Ngoài ra, người dân còn bảo tồn được nhiều giống cây và bài thuốc dân gian có giá trị như sâm Puxailaleng, Đẳng sâm, Bảy lá một hoa, Lan Kim tuyến, Sa nhân, Hà thủ ô trắng, Nấm Linh chi đỏ, Giảo cổ lam,… Cùng với đó là các bài thuốc về tăng cường sinh lực, sức khỏe, chữa bệnh về phong, khớp, đại tràng được lưu truyền trong dân gian nhưng phổ biến nhất vẫn là các bài thuốc đơn giản như chữa ghẻ, ngứa, mụn, nhọt, cảm cúm, đau bụng... Điều đó cho thấy, người dân vẫn lưu giữ, bảo tồn và phát huy bài thuốc gia truyền được chế biến từ các cây thảo dược, được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được mang tính tích cực trên thì vẫn còn một số tồn tại như:

- Các hoạt động chi tiêu không hợp lý và thiếu kế hoạch. Thiếu tích lũy về kinh tế nên dẫn đến thụ động, một bộ phận người dân có tâm lý trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước.

- Sự di dịch chuyển lao động ra ngoài khu vực nông thôn rất hạn chế: hầu hết lao động có trình độ thấp, chưa qua đào tạo nghề, vì vậy không tự tin thoát ra khỏi môi trường nông thôn để tự lập làm ăn sinh sống ở những địa bàn khác thuận lợi và cho thu nhập cao hơn.

- Khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật hạn chế: thói quen dựa vào thiên nhiên là chính làm cho họ không có ý thức về việc học tập, áp dụng kỹ thuật nông lâm nghiệp vào trồng trọt, chăn nuôi góp phần cải thiện bữa ăn, cuộc sống hằng ngày; trình độ học vấn thấp dẫn đến khả năng tiếp thu hạn chế.

- Sinh kế thiếu bền vững: sản xuất nông nghiệp và khai thác các nguồn lợi khác từ rừng là hoạt động sinh kế quan trọng nhất của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang ngày càng thu hẹp.

Do đặc điểm của các hình thái kinh tế như trên, nên nền kinh tế của các dân tộc thiểu số chủ yếu dựa vào tự nhiên và mang tính tự cấp tự túc. Hệ quả trực tiếp dẫn đến là trình độ sản xuất không được nâng cao, một bộ phận lớn người dân thu nhập bấp bênh và thiếu ổn định, thiếu vốn, khả năng tái đầu tư không có. Theo số liệu điều tra của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Nghệ An, tổng số hộ gia đình khu vực miền Tây là 286,426, trong đó có đến 47,379 hộ nghèo, chiếm 16.54%. Một số huyện như Kỳ Sơn 45.3%, Tương Dương 39.4%, Quế Phong 33.8%, Quỳ Châu 35.1%. 

Thực trạng về đời sống

Mỗi dân tộc, mặc dù có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội nhưng đều có văn hoá truyền thống riêng, tạo nên bản sắc văn hoá của từng dân tộc, góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá của dân tộc. Sức lan tỏa của đời sống văn hóa mới: do được tiếp cận với khoa học tân tiến, các luồng văn hóa tiến bộ của thế giới; chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng về phát triển đời sống văn hóa, xã hội đậm đà bản sắc dân tộc, cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới len lỏi đến tận vùng sâu, vùng xa và thu được nhiều kết quả. Hầu hết các nghi lễ rườm rà, phức tạp, tốn kém và ẩn chứa nhiều yếu tố thần bí đã được hạn chế thay vào đó là nếp sống văn hóa mới từ tổ chức cưới hỏi, ma chay, sinh hoạt cộng đồng, lễ hội…

Sự cố kết cộng đồng cao: nông thôn với đặc trưng nghề nghiệp là sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên đã khiến con người phải liên kết, dựa vào nhau mà sống. Hơn nữa dân cư trong cộng đồng này mang tính thuần nhất cao về các đặc điểm chủng tộc và tâm lý cũng là một yếu tố làm cho tính cố kết cộng đồng cao hơn so với ở đô thị.

Bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, như:

- Về tín ngưỡng: một bộ phận lớn đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn bị chi phối khá nhiều bởi các thế lực siêu nhiên, thể hiện ở việc họ thờ cúng nhiều thần, ma. Điều đó cho thấy tính lệ thuộc vào thiên nhiên khá rõ, sự tác động của khoa học - kỹ thuật chưa đủ mạnh để tạo sự chuyển biến về tâm lý.

- Về cưới hỏi, tang ma: Trong tang ma còn tồn tại các nghi lễ mang tính huyền bí với những thủ tục rườm rà, dài ngày gây tốn kém tiền của của nhân dân, hệ lụy là có 9/15 hộ gia đình có người qua đời rơi vào nợ nần, chiếm 60%, trong cưới hỏi có đến 5/11 hộ rơi vào nợ nần, chiếm trên 45%.

- Một số thói quen có ảnh hưởng đến sức khỏe: Thói quen ăn uống khô khan, đơn giản, ít chú trọng hình thức, chất lượng, chủ yếu là các món ăn được chế biến từ việc săn bắt, hái lượm; thói quen sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh chiếm 23%; thói quen uống rượu, hút thuốc, lâu dần trở thành nghiện, có người nghiện rượu, nghiện thuốc… đã tạo ra những áp lực về tinh thần, kinh tế đối với các thành viên trong gia đình mà sức khỏe của họ cũng theo đó bị giảm sút…

- Việc phòng, chữa bệnh: vẫn còn một bộ phận rất nhỏ người dân để tự khỏi bệnh, chiếm 9.3% hoặc tự tìm đến các thầy lang, thầy cúng để chữa trị, chiếm 4.1%; làm vía chiếm 10.3%. Đã có không ít trường hợp tiền mất, tật mang bằng phương pháp chữa trị huyền bí này.

- Về giáo dục: một bộ phận lớn người dân cho con cái đi học là do nhà nước vận động, chiếm 33.2%. Nguyên nhân xuất phát từ tập quán canh tác nương rẫy nên những người chủ gia đình phải ở lại nương rẫy dẫn đến việc quan tâm chăm sóc con cái không chu đáo; tính chất lao động của người dân tộc thiểu số vẫn sản xuất theo kiểu thủ công nên cần nhiều nhân công trong gia đình, vì vậy nhiều em nhỏ phải bỏ học giữa chừng.

  1. Nguyên nhân

- Hầu hết khu vực đồng bào DTTS cư trú là miền núi. Diện tích tự nhiên tuy lớn nhưng diện tích đất nông nghiệp ít, chủ yếu là đất có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, nhiều núi đá, thiên tai,.. Việc sản xuất và canh tác phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên theo đó, phương thức sản xuất, tập quán canh tác còn lạc hậu.

- Về mặt nhận thức, người dân thường thụ động, trông chờ, ỷ lại vào tự nhiên, có sao hưởng vậy mà ít có khát vọng và nỗ lực làm giàu.

- Tư duy sản xuất chỉ đủ tiêu dùng. Chính điều này đã hạn chế rất lớn đến phát triển sản xuất hàng hóa, lưu thông tiêu dùng trên địa bàn.

- Tư tưởng không muốn thoát nghèo: Người nghèo được hưởng rất nhiều chính sách của Nhà nước từ trợ cấp gạo, muối; giáo dục; y tế;... Do vậy nhiều người không muốn thoát nghèo, đấu tranh để được xét hộ nghèo. Tâm lý này đã ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo của nhà nước.

  1. Giải pháp khai thác có hiệu quả các phong tục, tập quán phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho cộng đồng các dân tộc thiểu số các huyện miền Tây Nghệ An

4.1. Tăng cường đặt hàng các viện nghiên cứu các vấn đề đang đặt ra ở địa phương (cụ thể là các huyện miền Tây Nghệ An)

- Đề xuất xây dựng các trung tâm, viện nghiên cứu ngay trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An: Nhà nước ưu tiên đầu tư cho các chương trình nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng các trung tâm nghiên cứu triển khai khoa học - công nghệ cấp vùng tại vùng dân tộc và miền núi nhằm giải quyết các vấn đề của thực tiễn đang đặt ra.

- Đặt hàng nghiên cứu khắc phục hiện tượng thoái hóa đất nông, lâm nghiệp.

- Xem xét chuyển đổi một phần đất canh tác nương rẫy sang hình thức sản xuất khác có hiệu quả hơn.

- Nghiên cứu phân loại đất phù hợp với từng loại cây trồng cho từng vùng, từng khu vực nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất/ đơn vị diện tích.

4.2. Quy hoạch lại đất rừng, từng bước chuyển đổi sang hình thức sản xuất khác có hiệu quả hơn

Việc phân loại rừng và cách thức giao đất, giao rừng hiện nay đang tạo ra sự manh mún trong sở hữu. Điều đó có thể có ích nhất định cho phát triển kinh tế hộ gia đình, nhưng khó có thể tạo nên sự đồng thuận xã hội cho một mục đích lâu dài. Vì vậy, cần hướng tới phát huy tối đa lợi thế về đất rừng để trồng cây nguyên liệu tập trung, quy hoạch lại đất rừng theo mô hình.

- Mô hình nông dân góp đất.

- Mô hình kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh nguyên liệu giấy.

- Mô hình trồng rừng kết hợp với bảo vệ môi trường, quốc phòng - an ninh khu vực biên giới.

- Mô hình trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ.

4.3. Tạo lập thị trường giao lưu buôn bán các mặt hàng của đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến kích thích sản xuất, tiêu dùng

- Thành lập chợ đầu mối ở khu vực miền Tây Nghệ An nhằm kích thích trao đổi hàng hóa giữa miền ngược và miền xuôi:

- Khoanh vùng chăn nuôi đại gia súc theo quy mô tập trung. Với mô hình này, một mặt phù hợp với tập quán chăn thả lâu nay của người dân, mặt khác, thu hút được lượng lớn lao động, người dân có điều kiện cùng nhau phát triển, học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, giảm chi phí trong nuôi, tăng khả năng cạnh tranh.

- Chú trọng xây dựng phong trào phát triển kinh tế hộ gia đình, kính thích người dân sản xuất, tiêu dùng và cũng để cải thiện chế độ dinh dưỡng trong các bữa ăn hàng ngày thông qua các mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, trồng cây màu, cây ăn quả quy mô hộ gia đình.

4.4. Đổi mới hình thức chuyển giao khoa học kỹ thuật

Lâu nay, chính sách hỗ trợ sản xuất, các mô hình có sự đầu tư của Nhà nước không ít. Tuy nhiên, qua tìm hiểu các mô hình triển khai trên địa bàn các huyện miền Tây Nghệ An cho thấy hiệu quả nhân rộng các mô hình chưa cao. Vì vậy, trong những năm tới cần quan tâm hơn nữa việc phổ biến nhân rộng các mô hình để tất cả người dân đều có cơ hội được hưởng lợi. Các chương trình, dự án phát triển kinh tế được triển khai nhất thiết phải được thực hiện theo một quy trình từ sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Để làm được điều đó, cần ưu tiên:

- Ưu tiên nơi nào khó làm trước.

- Lựa chọn các đơn vị tư vấn có năng lực để triển khai các chương trình, dự án đảm bảo đạt được kết quả cao.

- Tiếp tục vận động, hướng dẫn bà con cách làm ăn tiên tiến, khoa học, để họ tiếp cận cái mới, tận mắt thấy kết quả rồi tin và làm theo.

- Có chính sách hỗ trợ đối với những hộ gia đình tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện mô hình mẫu và những mô hình được nhân rộng.

4.5. Khai thác các yếu tố đặc sắc của phong tục, tập quán để thu hút khách du lịch đến với miền Tây Nghệ An

Khu vực miền Tây Nghệ An là mảnh đất cư trú nhiều đời của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, là khu vực hội tụ đầy đủ các điều kiện để phát triển một số mô hình du lịch đặc trưng đó là du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng các tộc người; du lịch làng nghề hoặc phối hợp tất cả các loại hình trên. Từ các nguồn tài nguyên đặc hữu này, du lịch miền Tây Nghệ An nên tập trung xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, lấy du lịch cộng đồng tộc người, mà cốt lõi là dân tộc Thái (còn lưu giữ nhiều bản sắc văn hóa đặc sắc của dân tộc) và du lịch sinh thái làm căn bản, kết hợp với các loại hình du lịch khác. Vấn đề này cũng đã được nghiên cứu và triển khai, tuy nhiên mức độ đầu tư còn khiêm tốn, đang dừng lại ở dạng mô hình.

4.6. Khắc phục tính trông chờ ỷ lại, được chăng hay chớ

Hỗ trợ các hộ nghèo là rất cần thiết, chính sách hỗ trợ chỉ là chất xúc tác để hộ nghèo thoát nghèo nhanh và không tái nghèo. Để làm được điều đó, cần phải tiếp tục hoàn thiện bộ tiêu chí bình xét hộ nghèo để việc hỗ trợ phải đúng lúc, đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh,… Việc nêu gương vượt khó, thoát nghèo thì cũng cần nhưng phải kiên quyết phê bình, kiểm điểm một cách nghiêm túc những hộ không chí thú làm ăn, không muốn thoát nghèo, đặc biệt là các hộ gia đình trẻ, trong độ tuổi lao động.

4.7. Điều chỉnh chính sách đào tạo nghề theo hướng phát huy tối đa nguồn lực tại chỗ

Hầu hết người dân ở địa bàn nông thôn và miền núi còn rất nghèo, không có điều kiện học hành, dân trí thấp, cùng với đó là yếu tố phong tục tập quán… nên ảnh hưởng tới việc tiếp thu các tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Nguồn nhân lực lao động lớn, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các doanh nghiệp. Việc bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật mới cho người dân thường tốn rất nhiều thời gian, công sức nhưng vẫn khó đáp ứng yêu cầu, vì vậy trước mắt cần tập trung đào tạo những ngành, nghề vốn là sở trường của họ như chạm trổ, rèn dao, dệt, đan lát, làm các dụng cụ khèn, sáo…; những ngành nghề gắn với sinh kế của người dân (nông, lâm, ngư nghiệp, sơ chế bảo quản chế biến sau thu hoạch để thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, tiếp cận với tập quán sản xuất mới, phát triển sản xuất theo định hướng thị trường). Để làm được điều đó cần có cơ chế, chính sách khuyến khích cán bộ khoa học trẻ, tình nguyện về “nằm vùng, cắm bản” để hướng dẫn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; có chính sách đãi ngộ, trả công xứng đáng với những đóng góp của các nghệ nhân; đa dạng, phong phú của các loại sản phẩm. Nhà nước có chính sách đặt hàng để kích thích người dân tham gia lao động, tiến tới đăng ký chất lượng sản phẩm đến khi thị trường đi vào ổn định thì cũng là lúc vai trò của nhà nước kết thúc. Có như vậy, các nghề truyền thống mới có chỗ đứng và tạo ra nguồn thu nhập cho người dân.

4.8. Giải pháp về tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về một số vấn đề

Tăng cường sự hiểu biết và chủ động tiếp cận hệ thống dịch vụ công như giáo dục, y tế, bảo hiểm, tín dụng để phát triển sản xuất… Đặc biệt là vấn đề giáo dục để tất cả trẻ em có cơ hội đến trường, có cơ hội phát triển toàn diện hơn. Để làm công tác tuyên truyền có hiệu quả thì cần phát huy vai trò của già làng, trưởng bản; các tổ chức Hội nông dân, phụ nữ; vai trò của đoàn thanh niên, xung kích trong các phong trào.

 

Chú thích

(1). Kỷ yếu Đại hội Đại biểu dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An lần thứ 2, trang 54, năm 2014.

Phan Hồng Hải

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Phát triển kinh tế tư nhân - Cần một hành lang pháp lý thông suốt cho một xu thế tất yếu trong thời kỳ mới! (18/4/2018)
Một góc nhìn về các doanh nghiệp khởi nghiệp từ thế mạnh địa phương (13/4/2018)
Sản Vật Nghệ An được bảo hộ (1/3/2018)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (24/1/2018)
Đòn bẩy Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và thực trạng phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp vừa và nhỏ tại Nghệ An (31/10/2017)
Bức tranh kinh tế Nghệ An sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (2013 - 2017) (31/10/2017)
Tìm hiểu về biến đổi vai trò của người phụ nữ ven biển Cửa Lò (3/7/2017)
Kết quả thực hiện thỏa thuận hợp tác nghiên cứu KHXH&NV giữa Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và UBND tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 2017 và những nội dung đặt ra trong giai đoạn tới (3/7/2017)
“CỤC MÁU ĐÔNG” NỢ XẤU VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC (27/3/2017)
Nghiên cứu tâm lý nghề nghiệp và định hướng đào tạo nghề cho học sinh phổ thông các huyện miền Tây Nghệ An - Thực trạng và giải pháp (29/12/2016)
Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An (29/11/2016)
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA NGƯỜI ĐAN LAI Ở NGHỆ AN (29/8/2016)
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THU HÚT SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2013 – 2020, CÓ TÍNH ĐẾN 2025 (26/7/2016)
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN (29/6/2016)
SẢN PHẨM ĐẠT GIẢI SÁNG TẠO KH&CN THANH NIÊN 2016: MÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN NHÀ THÔNG MINH (20/5/2016)
CHUYÊN SAN KHXH & NV
Chuyên san KHXH&NV số 11/2017
Chuyên san KHXH&NV số 11/2017
SÁCH MỚI
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
VIDEO CLIPS
Loading the player...
Tạp chí Truyền hình KH-Cn số tháng 4/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 3/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 2/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 1/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 12/2017
TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH KH&CN SỐ 11/2017
Tạp chí truyền hình KH-CN số 10/2017
Tạp chí truyền hình tháng 9/2017
Chuyên đề truyền hình số 8/2017
Chuyên đề truyền hình số 7/2017
Tạp chí truyền hình KH&CN số 1/2007
Tạp chí truyền hình KH&CN số 12/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 11/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 10/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 9/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 8/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 7/2016
TẠP CHÍ TRUYỀN HÌNH SỐ 6/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 5/2016
Tạp chí truyền hình KH&CN số 4/2016
ALBUM ẢNH
Hôm nay: 279 | Tất cả: 1,184,485
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ
Nghiên cứu KH
Sách
Chuyên san
Tài liệu
LIÊN KẾT WEBSITE
THÔNG TIN CẦN BIẾT
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0913.076.389 - 0982.097.091
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn