ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Thượng thư Liêm quận công Trần Đăng Dinh
Tin đăng ngày: 25/12/2020 - Xem: 197
 

                                               Nguyễn Tâm Cẩn

                                            Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An  

Trần Đăng Dinh tự là Cương Nghị, sinh ngày 20 tháng 7 năm Canh Thân (1620) cách ngày nay 400 năm. Ông sinh ra trong một gia đình quan lại ở thôn Phúc Thọ tổng Quan Hóa, huyện Đông Thành nay thuộc xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông là cháu sáu đời của tướng quân Trần Nguyên Hãn. Cha ông là cụ Trần Tuấn Kiệt,một người có sức khỏe phi thường, đã có công giúp Lê diệt Mạc, lãnh chức Thượng tướng phụ quốc, chỉ huy quân Cấm vệ, được phong là Đông Lĩnh hầu, mẹ là bà Phan Thị Thiên xinh đẹp đảm đang nhưng mất sớm, được bà đích mậu là  Nguyễn Thị Đào dưỡng dục.

Thuở nhỏ Trần Đăng Dinh là người thông minh , hiếu động, nghịch ngợm. Được cha  cho đi học chữ Hán với các thầy nổi tiếng trong vùng trong đó nhiều năm là học trò của thầy Ngũ Phương tiên sinh. Lớn lên được cha dạy võ và học các binh pháp cổ, nhờ tiếp thu nhanh ông đã sớm thể hiện là người “thiên tư đĩnh ngộ khác thường”, văn võ toàn tài.    Lúc ở nhà, ngoài giờ học, ông vẫn thường theo các bạn chăn trâu bò ra đồng đánh vật, kéo co và tổ chức đánh trận giả. Có lúc còn mổ trâu bò, lấy thịt nướng khao thưởng các bạn và nhiều đêm còn bày ra những cuộc truy bắt làm náo loạn cả xóm làng... Bởi vậy ông cũng thường va chạm với nhiều người kể cả các vị hào lý địa phương, có lần họ còn định bắt trói ông nạp lên quan trên.

Vốn có tính năng động năm 1644 đã 24 tuổi vẫn chưa thành danh, ông cảm thấy vùng đất Giai Lạc quê ông hình như quá chật hẹp, không thể vùng vẫy thỏa chí nam nhi trở thành người giúp dân cứu nước được, bèn quyết định rời quê nhà ra kinh đô  Thăng Long  tìm cơ hội học tập, thi thồ tài năng .  Giai thoại dân gian kể rằng: Khi cưỡi ngựa đi qua đền làng Thừa Sủng, ông không xuống ngựa, ngựa không chịu đi, ông thúc ngựa mấy lần vẫn không đi được. Ông bèn xuống ngựa vào đền  thắp hương khấn vái...  sau đó ngựa mới đi qua được đền. Sau này khi làm quan ở triều đình  ông đem việc ấy  tâu vua Lê Thần Tôn và ngôi đền ấy được gia phong : Hiển ứng. Về sau ở ngôi đền này có biển treo: "Mã tích hiển linh" nghĩa là có dấu tích ngựa mà được hiển linh.

Đến kinh thành Thăng Long Trần Đăng Dinh đã sớm tìm được nơi học đồng thời thường lui tới các Học quán là nơi gặp gỡ của các sĩ tử từ mọi miền về cùng trao đổi văn chương thế sự. Trong một lần đàm đạo về văn chương, thế sự, binh pháp... ông đã được gặp Thế tử Trịnh Căn.cháu đích tôn chúa Trịnh Tráng, người đang nắm giữ quyền bính trong triều. Thấy ông thông hiểu thiên văn, địa lý, kinh sách,.. ứng đáp trôi chảy, Trịnh Căn biết là “người phi thường” bèn mời về sống trong Phủ chúa và dùng làm gia thần. Ở đây ông vẫn giữ lối sống giản dị, cần cù chịu khó, theo cốt cách của một nho sinh Xứ Nghệ. Ban đêm thức khuya đọc sách, sớm dậy theo các bạn ra võ đường, miệt mài cưỡi ngựa, bắn cung, phóng lao, đấu kiếm… Gia nhân trong Phủ chúa và bạn bè ai cũng mến phục ông.

Giữa lúc công việc học tập đang tiến triển tốt thì Trịnh Căn phạm lỗi bị chúa Trịnh bắt  giam, các gia thần đều bỏ về cả nhưng Trần Đăng Dinh vẫn ở lại hàng ngày đưa cơm nước, thuốc thang cho Thế tử. Một hôm chúa Trịnh Vương ra chơi, gặp lúc ông đưa cơm cho Thế tử đi ngang qua và phạm lỗi. Bị quan quân bắt giải đến trước mặt chúa, ông đem hết sự thực trình bày lại, được chúa lắng nghe và động lòng  liền ra lệnh tha cho Thế tử và cả bản thân ông.

Cũng có sách nói rằng ông đã viết tờ sớ kêu oan với lời lẽ thống thiết và mạnh dạn chặn đường dâng sớ lên chúa Trịnh. Cũng may cho ông là nhà Chúa đã vui vẻ xem sớ và quyết định cho Thế tử trở về triều. Từ đó Trịnh Căn coi ông như là anh em thân cận,thường xưng là nghĩa đế, chứ không xưng tên, nhiều công việc của Thế tử ông đều được hỏi ý kiến hoặc tham gia bàn bạc, đi đâu Thế tử cũng thường đem Trần Đăng Dinh đi theo.

Tháng 4 năm 1657 chúa Trịnh Tráng qua đời, Trịnh Tạc chính thức lên ngôi liền phong cho Trịnh Căn làm Phú Quận công và sai đem quân vào Nghệ An vừa tăng viện giúp Ninh Quận công Trịnh Toàn chống quân Nguyễn vừa đề phòng Trịnh Toàn làm phản, Trần Đăng Dinh được cử làm tướng đi cùng Trịnh Căn.

Tháng 6 năm 1657 Trịnh Căn chia quân và phân công các tướng vượt sông Lam đánh quân Nguyễn nhưng do có người tiết lộ, quân Nguyễn kịp đề phòng nên quân Trịnh bị thất bại và phải rút về bờ bắc. Trước tình thế quân nhà đang nhụt chí Trần Đăng Dinh đã khuyên Thế tử nên cầm cự, chưa nên đánh lớn chờ thời cơ vì thực lực của quân Nguyễn không đủ mạnh quân ít lại đi đánh xa lâu ngày đã mệt mỏi và lương thực cũng đã sắp hết không thể cầm cự lâu được lâu. Ông cũng   khuyên Trịnh Căn thực hiện kỷ luật nghiêm minh, yêu cầu các tướng thường xuyên kiểm tra các đồn trại, tranh thủ thời gian ngừng chiến củng cố tinh thần tướng sĩ. Mặt khác giao cho các đơn vị quân đội giúp dân trở về  làng xây dựng nhà cửa, ổn định sản xuất, củng cố bộ máy hành chính , tiến tới tuyển thêm quân và cử các thám tử đi sâu trinh sát nội tình kẻ thù để chọn đúng thời cơ tấn công . Rồi quả đúng như dự đoán của ông tháng 12 năm 1657 quân Trịnh đã đánh thắng quân Nguyễn ở nhiều nơi.  Sau chiến thắng Trần Đăng Dinh được phong Liêm Dũng nam.

      Đến tháng 9 năm 1660 sau khi có hơn một vạn quân tăng viện, quân Trịnh vượt sông Lam tiếp tục tấn công quân Nguyễn .Thế trận giằng co mãi đến tháng 11 năm 1660 quân Nguyễn do các danh tướng khét tiếng bách chiến bách thắng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy từng làm khiếp đảm quân Trịnh mới bị đánh bại hoàn toàn và toàn bộ đất đai bị mất đã được thu hồi.

       Tháng 2 năm 1961 sau khi cứ người làm trấn thủ Nghệ An kiêm giữ công việc châu bắc Bố Chính và sai các tướng trấn thủ những nơi hiểm yếu, Trịnh Căn cùng Trần Đăng Dinh kéo quân về kinh thành Thăng Long . Ông được phong chức Thượng Bảo tự khanh.

và được triệu về kinh làm việc trong Phủ chúa. Năm sau vùng Nam Hà, Hải Dương, quê hương của nhà Mạc, gặp bão lụt to mất mùa đói kém. dân tình khốn khổ. Lợi dụng sự bất bình của người dân, nhà Mạc đã kích động dân chúng nổi dậy chống lại triều đình, Trần Đăng Dinh đã được lệnh hộ giá Chúa mang quân đi dẹp loạn. Sau nhiều lần điều tra, thị sát, thấy nhân dân đói khổ, lại bị quan lại ức hiếp bắt bớ nên nổi dậy chống đối …ông đã tâu với chúa Trịnh: một mặt phát hịch kể tội nhà Mạc, mặt khác, tha cho những người chống đối để họ trở về quê làm ăn, ra tay trừng trị bọn quan lại, hào lý tham nhũng... Sau những việc làm đó cả vùng Nam Hà đã trở nên yên bình.

Năm 1667 Trịnh Tạc đem quân đánh Mạc Kinh Vũ ở Cao Bằng Trịnh Căn và Trần Đăng Dinh cũng được đi theo. Nhưng mới đánh được một trận, Mạc Kinh Vũ biết không thể chống nổi đã bỏ chạy sang ẩn náu bên Trung Quốc. Ổn định tình hình xong nhà Chúa lại rút quân về.

Năm 1668 Trần Đăng Dinh được sung chức Tri Thủy sư huấn luyện đạo Thủy quân. Ông đã dâng sớ xin nhà Chúa đóng thêm thuyền chiến và trang bị vũ khí đầy đủ rồi cùng các tướng ngày đêm luyện tập. Sau hơn ba năm bộ mặt đạo Thủy quân đã thay đổi hẳn. Năm 1672 Trịnh Căn được cha sai lĩnh đạo Thủy binh cùng tướng Lê Thì Hiến lĩnh đạo Bộ binh vào Quảng Bình đánh quân Nguyễn đang vượt sông Gianh lấn ra. Quân Thủy do Trịnh Căn chỉ huy, được sự phò tá của Trần Đăng Dinh đánh đâu được đó, góp phần to lớn trong thắng lợi chung.Là người thấu hiểu mọi nỗi khổ của nhân dân do chiến tranh gây nên ông cũng khuyên chúa Trịnh giảng hòa chấp nhận lấy sông Gianh làm giới tuyến để chám dứt chiến tranh.  

Năm 1677 ông lại theo chúa Trịnh Căn cùng các tướng lên Cao Bằng bắt Mạc Kính Vũ. Trần Đăng Dinh đã thể hiện tài thao lược của mình, vừa cùng quân lính xông pha đánh giặc, vừa bày mưu giúp Chúa dùng kế ly gián kẻ thù, thu phục được nhiều tù trưởng quay về với Triều đình… làm cho quân của Mạc Kính Vũ thua trận, bỏ đất Cao Bằng chạy sang Tàu. Quân Trịnh bắt được nhiều thuộc hạ của nhà Mạc  Sau khi trận mạc yên ổn, đứng trước cảnh chiến tranh liên miên, làng xóm tiêu điều, ông đã bàn với nhà Chúa dành thời gian ở lại sắp xếp bộ máy quan lại ở các địa phương, ổn định đời sống nhân dân và cũng từ đó biên giới phía bắc được yên ổn.

Vốn là người học rộng tài cao và có quan hệ sâu đậm với vua Lê- chúa Trịnh ,Trần Đăng Dinh không chỉ giỏi làm tướng cầm quân đánh giặc mà còn là người biết nhìn xa trông rộng, am hiểu lòng dân. Ông đã nhiều lần khuyên vua Lê, chúa Trịnh chấn chỉnh lại việc học ở đàng Ngoài, định lại lễ thi Hội, kén chọn những người tài giúp nước. Những lần khi có dịp tiếp xúc với Chúa, ông vẫn thường khuyên Chúa phò Lê để hợp lòng dân. Đối với binh sĩ ông cũng rất thương yêu họ và đã nhiều lần căn dặn binh sĩ phải biết nghĩ đến dân, đến việc phò Vua kính Chúa.

Khi đã 67 tuổi có dịp về quê làm lễ Phần hàng (tức lễ ăn mừng). ông đã cho tổ chức hát xướng kéo dài và sai dọn hàng trăm cỗ bàn để thết đãi dân làng và khách bốn phương. Những người trước đây có va chạm, mâu thuẫn với ông sợ bị trả thù đều bỏ trốn cả. Ông đã cho người đi triệu về, có lời cảm ơn, an ủi họ và ban thưởng tiền bạc. Ông còn nói đại ý là nhờ những lời phê phán, chỉ trích của họ mà ông mới quyết chi ra đi, tu chí bản thân và có ngày hôm nay. Ông còn ban cho dân làng cỗ yến và vải lụa tùy theo thứ bậc...  Những việc làm của ông đã làm cho dân trong vùng hết lòng cảm phục .

Ở trong phủ Trần Đăng Dinh đã giúp Chúa Trịnh Tạc và sau là Trịnh Căn giải quyết nhiều công việc đối nội, đối ngoại. Ông đã nhiều lần được lệnh hộ giá Chúa mang quân di dẹp loạn, có năm được cử đi sứ Tàu….ông đều hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1686, nhà Vua thấy ông làm việc trong phủ đã lâu và có tiếng là liêm khiết liền phong tước Liêm Quận công . Năm Tân Vị (1691),  lúc 71 tuổi, được phong Công bộ Thượng thư, cũng trong năm này ông bị bệnh và mất ngày  27/3, khi đang tại nhiệm. Vua Lê thương tiếc ban cho 1.500 quan tiền, sai Thủy binh đệ quan tài về quê, chôn cất ở Đồng Vàng, sau cải táng ở xứ Hoa Sen. Nhà Vua còn truy phong là: Bộ hộ Thượng thư, thiếu phó Liêm Quân công, ban tên thụy Trung Túc và lệnh cho dân sở tại lập đền, thờ làm Phúc thần.

Ở thời đại ông tình hình đất nước hết sức rối ren, chiến tranh xẩy ra liên miên . Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài gần hai trăm năm càng làm cho đất nước điêu đứng. Các tỉnh miền trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nhiều nơi trở thành những bãi chiến trường kéo dài,  nhân dân phiêu tán khắp nơi, đồng ruộng bỏ hoang không người cày cấy.  Là vị quan trải qua 4 triều vua Lê, là người yêu nước thương dân, những lần chiến sự tạm yên có dịp lưu lại Nghệ An về thăm quê, ông lại bỏ tiền và lúa gạo ra cho quân lính đi vận động nhân dân sơ tán khai hoang lập ấp hình thành nên các thôn làng mới. Những tên làng  như Yên Sơn, Thọ Sơn, Hương Tô, Thuần Vị, Vũ Kỳ , Phú Cam  được hình thành nên và sau này trở thành trù phú đều ra đời trong những chiến dịch như vậy. Ngoài ra ông còn hiến ruộng làm đình cho hai làng Diệu Ốc và Đức Lan và tổ chức cưới chợ Mõ để nhân dân có nơi giao lưu buôn bán...   Bởi vậy khi ông qua đời được nhân dân nhiều làng lập đền thờ nhưng đền thờ chính được xây dựng từ cuối thế kỷ 17 tại làng Nam Sơn xã Phúc Thành ngày nay gọi là Phủ thờ Trần Đăng Dinh, là một di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia với quy mô rộng lớn và có giá trị nghệ thuật kiến trúc cao. Ở Phủ thờ có nhiều câu đối và các bức hoành phi ca ngợi công đức ông, câu sau đây là một ví dụ:

                         Sinh phù quốc trụ danh tồn sử;

                         Kiến tập dân cư thế hữu từ.

Dịch là:   Sống làm cột trụ nước nhà, danh ghi sử sách;

                Công lao chiêu dân lập ấp, đời lập miếu thờ.

Kể từ khi có Phủ thờ hàng năm đến ngày giỗ ông 27/3 âm lịch, nhân dân các làng Yên Sơn, Thọ Sơn, Hương Tô, Thuần Vị, Vũ Kỳ , Phú Cam và con cháu hậu duệ của Liêm Quận công Trân Đăng Dinh khắp hai tỉnh Nghệ An , Hà Tĩnh gồm 27 địa phương đã cùng nhân dân nhiều làng xã khác kéo về Phủ thờ dự lễ hội tri ân công đức ông, một danh tướng mưu lược tài ba, một ông quan thanh liêm đức độ, yêu nước thương dân đã có công đánh giặc an dân, chiêu dân lập làng mở chợ. Cũng trong những lần lễ hội ấy những bài học rút ra từ cuộc đời ông như tinh thần hiếu học, ý chí nghị lực vươn lên, đức tính khiêm tốn giản dị, lòng nhân ái bao dung, hết lòng vì nước vì dân …luôn được nhiều người nhắc đến.

 

 

 

 

 

 

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Một số nhân vật lịch sử trong Khởi nghĩa Lam Sơn được nhân dân lập đền thờ tại một số ngôi đền miền Tây xứ Nghệ (5/2/2021)
Địa tiên Tả Ao người mang mùa xuân về cho nhiều làng quê Việt (5/2/2021)
Câu đối Xuân của các trí thức Nghệ An (29/1/2021)
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn - Một nhà khoa học, một con người dân dã (27/1/2021)
Đại tá, nhà báo Đậu Kỷ Luật trọn đời nặng lòng cùng nghiệp báo (12/1/2021)
Trù phú của những phường phố làng xã biển thị xã Hoàng Mai (25/12/2020)
Thượng thư Liêm quận công Trần Đăng Dinh (25/12/2020)
Một số dân tộc tiêu biểu ở Nghệ An (14/12/2020)
Tiềm năng du lịch sinh thái cộng đồng kết hợp với mô hình bảo tồn và phát triển con cá Mát tại xã Tam Hợp, Tương Dương (8/12/2020)
Văn hóa ẩm thực và những món đặc sản của xứ Nghệ (7/12/2020)
Đình Hoành Sơn - Một Di tích quốc gia đặc biệt (20/11/2020)
Xứ Nghệ xưa và nay (16/11/2020)
Cá thu nướng - đặc sản Cửa Lò (16/11/2020)
Xứ Nghệ - một vùng địa văn hóa, lịch sử (11/11/2020)
Xã Phúc Sơn (Anh Sơn) - miền đất của truyền thống cách mạng anh hùng (10/11/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách:
Giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Giới thiệu sách: Giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,720 | Tất cả: 2,814,257
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp