NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị tinh hoa văn hóa xứ Nghệ thời gian qua
Tin đăng ngày: 7/12/2020 - Xem: 234
 

Hồ Thủy - Nguyễn Thủy

  1. Công tác bảo tồn

Về văn hóa vật thể:

     Trong hệ thống di sản văn hóa vật thể thì hệ thống di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật là quan trọng nhất, vì nó chứa đựng trong đó không chỉ giá trị văn hóa hữu thể (vật có hình khối) như đền, chùa, đình, miếu, và nhiều hiện vật, cổ vật trong di tích… Mà trong các di tích lịch sử văn hóa vật thể vẫn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa phi vật thể, đó là phong tục tập quán, là không gian và các trình thức lễ hội …

Trước hết, ở công tác nhận diện và phân cấp quản lý các di tích lịch sử văn hóa: Nhận thức rõ vai trò vị trí quan trọng của việc bảo tồn hệ thống di tích, di sản văn hóa của tỉnh nhà, những năm qua ngành văn hóa đã tiến hành tổng kiểm kê khoa học trên địa bàn toàn tỉnh, từ kết quả kiểm kê, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã tham mưu cho UBND tỉnh ra Quyết định số: 1017/QĐ-UBND-VX ngày 01 tháng 4 năm2011 “Về việc phân cấp quản lý các di tích, danh thắng trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.

Tổng số 1395 di tích, danh thắng, số lượng được phân cấp quản lý như sau: Cấp tỉnh trực tiếp quản lý: 17 di tích; Cấp huyện, thành phố, thị xã trực tiếp quản lý: 239 di tích; Cấp xã, phường, thị trấn trực tiếp quản lý: 1139 di tích;

Qua đây ta có nhận xét số di tích danh thắng phân cấp cho cấp xã, phường, thị trấn quản lý là chủ yếu, điều đó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Việc phân cấp, cấp quản lý trực tiếp di tích có ý nghĩa thiết thực trong công tác quản lý, tránh tình trạng khi có sự cố xẩy ra tại di tích có hiện tượng đùn đẩy né tránh.

Những năm qua cũng là những năm sôi động triển khai công tác lập hồ sơ khoa học, làm cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích đã được nhà nước công nhận xếp hạng: cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt.

Tính đến thời điểm tháng 8 năm 2015 số lượng di tích (bao gồm các loại hình: Khảo cổ, danh thắng, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử) được các cấp nhà nước ra quyết định công nhận xếp hạng là 332, trong đó:

- Di tích cấp quốc gia đặc biệt: 2

- Di tích quốc gia:  134

- Di tích cấp tỉnh:   196

Đối với các di tích đã có quyết định công nhận xếp hạng của tỉnh, của trung ương, công tác bảo tồn đã được quan tâm. Các di tích đều có ban quản lý chịu sự quản lý trực tiếp của UBND xã, phường, thị trấn, hoặc UBND huyện, thành phố, thị xã… theo sự phân cấp quản lý mà Quyết định 1017 quy định. Các hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích dù bằng nguồn ngân sách nhà nước hay ngân sách xã hội hóa đều chịu sự chi phối của luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa: Hàng năm trung ương và tỉnh đều giành một phần ngân sách cho việc bảo tồn, chống xuống cấp thường xuyên cho di tích (Ngân sách trung ương: 1,5 tỷ đồng, ngân sách tỉnh: 1 tỷ đồng).

Bên cạnh việc cấp ngân sách thường xuyên, có một số di tích được triển khai lập dự án tôn tạo nâng cấp như: Dự án trùng tu tôn tạo di tích đền Cuông xã Diễn An, huyện Diễn Châu: 25 tỷ đồng; Dự án trùng tu tôn tạo di tích đình Võ Liệt, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương: 12 tỷ đồng; Dự án trùng tu tôn tạo di tích đền Cờn xã Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai: 26 tỷ đồng; Dự án trùng tu tôn tạo Phủ thờ Trần Đăng Dinh xã Phúc Thành, huyện Yên Thành: 15,5 tỷ đồng; Dự án trùng tu tôn tạo đền thờ Hồ Tông Thốc, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành: 28,5 tỷ đồng; Dự án trùng tu tôn tạo di tích đền Trìa, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh: 6 tỷ đồng…

Ngoài một số dự án hạng trung nêu trên, trong thời gian qua tỉnh ta đã và đang triển khai một số dự án trùng tu tôn tạo và nâng cấp một số di tích trọng điểm với nguồn đầu tư kinh phí lớn như: Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu Di tích lịch sử văn hóa Kim Liên gắn với phát triển du lịch: 350 tỷ đồng; Dự án bảo tồn, tôn tạo Khu Lưu niệm Tổng Bí Thư Lê Hồng Phong: 250 tỷ đồng; Dự án bảo tồn tôn tạo Di tích Nghĩa trang Thái Lão và Quảng trường XVNT ở Hưng Nguyên: 326 tỷ đồng v.v…

Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử và nhiều nguyên nhân gồm chủ quan và khách quan, trong thời gian qua hệ thống di tích ở Nghệ An đã xuống cấp trầm trọng. Nhiều di tích xưa vốn nổi tiếng, nhưng nay đã trở thành phế tích như chùa Diệc, chùa Đại Tuệ, Văn miếu Nghệ An… Hàng trăm ngôi đền, hàng trăm ngôi chùa, hàng trăm ngôi đình… xưa nay chỉ còn trong ký ức.Hệ thống di tích ở Nghệ An còn lại đến nay chủ yếu là những công trình kiến trúc bằng gỗ, trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nắng lắm, mưa nhiều, lại trải qua hàng trăm năm với nhiều biến động của lịch sử, vì vậy nhiều di tích đến nay đều trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Từ thực tiễn cho thấy, nếu chỉ bằng nguồn vốn của trung ương, của địa phương thì công tác bảo tồn, tôn tạo di tích khó hoàn thành ở một tỉnh còn nghèo như ở Nghệ An.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, ngày 24 tháng 1 năm 2011, UBND tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định 195/QĐ-UBND-VX “Về việc ban hành quy định tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn công đức ở các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Nghệ An”. Bằng Quyết định 195/QĐ/UBND, Nghệ An trở thành một trong những địa phương đi đầu trong việc quản lý và huy động nguồn ngân sách từ công tác xã hội hóa vào việc tu bổ tôn tạo di tích.

Chỉ trong một thời gian ngắn (từ năm 2011- 2014) nhiều di tích nhanh chóng được phục hồi, tôn tạo, tiêu biểu là những di tích sau:Di tích đền Thượng Diên, huyện Nghi Lộc: 2,5 tỷ đồng; Di tích đền Xuân Hòa, huyện Hưng Nguyên: 3,5 tỷ đồng; Di tích đền thờ Lý Nhật Quang, huyện Anh Sơn: 3,5 tỷ đồng; Di tích đền Yên Lương, thị xã Cửa Lò: 3,5 tỷ đồng; Di tích đình Thanh Đàm, huyện Nam Đàn: 2 tỷ đồng; Di tích đền thờ Nguyễn Xí, huyện Nghi Lộc: 1,5 tỷ đồng…

Đặc biệt có một số di tích nhận được nguồn tài trợ hảo tâm của những chủ doanh nghiệp với nguồn kinh phí lớn hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng: Di tích đền Diên Cờ, huyện Nghi Lộc: 23 tỷ đồng; Di tích chùa Đại Tuệ: hằng trăm tỷ đồng; Di tích - danh thắng đền chùa Gám, huyện Yên Thành: tổng dự toán: 1000 tỷ đồng; Di tích lịch sử Truông Bồn, huyện Đô Lương: tổng dự toán: 365 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh đầu tư của tỉnh: 50 tỷ đồng, số còn lại chủ yếu huy động từ nguồn xã hội hóa, riêng cán bộ ngành giao thông cả nước đóng góp: 60 tỷ đồng v.v…

Công tác sưu tầm bảo quản các hiện vật, tư liệu lịch sử -văn hóa: Trong thời gian qua ngành văn hóa tỉnh nhà luôn quan tâm đến công tác bảo tồn văn hóa, bằng việc tăng cường công tác sưu tầm các tư liệu hiện vật có giá trị đưa về bảo quản ở Bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống các huyện, các ngành, các cấp trong tỉnh. Chỉ tính riêng Bảo tàng Nghệ An và Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, số hiện vật và tư liệu trong kho đến hơn 39.100 đơn vị. Ngoài sở hữu nhà nước, các cá nhân trong hội cổ vật Sông Lam-Nghệ An cũng lưu giữ hàng ngàn hiện vât, cổ vật góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa vật thể trên đất Nghệ An.

Về văn hóa phi vật thể

Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ trên lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa vật thể, những năm qua ngành văn hóa đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng cường công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể trên địa bàn Nghệ An.

Công tác kiểm kê, nhận diện di sản văn hóa phi vật thể: Nhằm giúp mọi người có khả năng nhận diện các loại di sản văn hóa phi vật thể, để từ đó có ý thức và giải pháp bảo tồn, từ năm 2011 đến 2014 ngành văn hóa đã triển khai đợt tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh.

Đối tượng cụ thể là: Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc ở Nghệ An; Ngữ văn dân gian, bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, tryện ngụ ngôn, hát ru và hát biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác; Tập quán xã hội bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian, bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác...

Trong các loại di sản trên, ưu tiên kiểm kê các loại di sản văn hóa phi vật thể đang bị mai một cần bảo vệ khẩn cấp.

Kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể như sau:

Từ năm 2011 đến năm 2015, đã triển khai kiểm kê 1.432 di sản, trong đó: Tiếng nói chữ viết: 49 di sản; Tập quán xã hội: 349 di sản; Tri thức dân gian: 387 di sản; Ngữ văn dân gian: 115 di sản; Nghệ thuật trình diễn dân gian: 178 di sản; Lễ hội truyền thống: 140 di sản; Nghề thủ công truyền thống: 200 di sản.

Cùng với phiếu kiểm kê, các huyện thành thị đã xây dựng 168 đĩa hình, 916 ảnh chụp đặc tả các di sản tiêu biểu, 12 bản đồ cấp huyện, 50 bản đồ cấp xã về phân bố di sản trên địa bàn.

Để có điều kiện bảo tồn và phát huy đặc sản văn hóa tinh thần nổi trội của xứ Nghệ là dân ca Ví, Giặm, ngay từ năm 2010 hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã khởi động việc xây dựng hồ sơ đề cử dân ca xứ Nghệ là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Với sự nỗ lực của 2 tỉnh, cuối năm 2012, Ví, Giặm được Bộ VH-TT-DL ghi vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 28/2/2013 hồ sơ Ví, Giặm đã được trình lên UNESCO. Ngày 27/12/2014, tại Pari nước Pháp, Ủy ban liên chính phủ về văn hóa phi vật thể của UNESCO chính thức vinh danh dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Từ đây dân ca Ví, Giặm không chỉ được lưu giữ, bảo tồn ở tầm địa phương 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh mà được nâng lên tầm di sản văn hóa tinh thần đại diện cho nhân loại.

Phục hồi một số lễ hội truyền thống trong thời gian qua:

Kể từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng, nhiều lễ hội truyền thống ở tỉnh ta được khôi phục nhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo nhân dân, đáng kể là những lễ hội sau: (Xếp theo thời gian âm lịch).

- Lễ hội Pẩn Pang - Na Ny, xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp, diễn ra trong 2 ngày, từ ngày 05/01 đến ngày 06/01;

- Lễ hội đền vua Mai, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 13/01 đến ngày 15/01;

- Lễ hội đền Vạn Lộc, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, diễn ra từ ngày 14/01 đến ngày 16/01;

- Lễ hội đền Cờn, xã Quỳnh Phương, Thị xã Hoàng Mai, diễn ra từ ngày 19/01 đến ngày 21/01;

- Lễ hội đền Quả Sơn, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, diễn ra từ ngày 19/01 đến ngày 20/01;

- Lễ hội đền Vạn - Cửa Rào, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, diễn ra từ ngày 20/01 đến ngày 22/01;

- Lễ hội Hang Bua, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, diễn ra từ ngày 20/01 đến 22/01;

- Lễ hội Pu Nhạ Thầu, xã Hữu Kiệm, huyện Kỳ Sơn, diễn ra từ ngày 24/01 đến ngày 25/01;

- Lễ hội đền Nguyễn Xý, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, diễn ra từ ngày 29/01 đến ngày 01/02;

- Lễ hội đền Đức Hoàng, xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, diễn ra từ ngày 29/01 đến ngày 02/02;

- Lễ hội đền Thanh Liệt, xã Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên, diễn ra ngày 06/02;

- Lễ hội đền Bạch Mã, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, diễn ra từ ngày 09/02 đến ngày 10/02;

- Lễ hội Làng Vạc, xã Nghĩa Hòa, thị xã Thái Hòa, diễn ra từ ngày 07/02 đến ngày 09/02;

- Lễ hội đền Chín Gian, xã Châu Kim, huyện Quế Phong, diễn ra từ ngày 14/02 đến ngày 16/02;

- Lễ hội đền Cuông, xã Diễn An, huyện Diễn Châu, diễn ra từ ngày 13/02 đến ngày 15/02;

- Lễ hội Nguyễn Cảnh Hoan, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, diễn ra từ ngày 14/04 đến ngày 15/04;

- Lễ hội đền Ông Hoàng Mười, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, diễn ra từ ngày 09/10 đến ngày 10/10…

Các lễ hội truyền thống sau khi phục hồi đã góp phần xây dựng được sự cố kết cộng đồng trên từng địa bàn gắn với di tích và lễ hội. Các hoạt động trong lễ hội từng bước được trả lại cho cộng đồng dân cư, các bản sắc trong phần lễ ở các lễ hội luôn được quan tâm bảo tồn và phát huy, các trò chơi dân gian luôn là trung tâm của nhiều lễ hội ở Nghệ An.

Công tác sưu tầm, biên soạn các ấn phẩm văn hóa xứ Nghệ: Cũng từ sau thời kỳ đổi mới, với sự đam mê, quý trọng các giá trị văn hóa mà biết bao thế hệ con người xứ Nghệ đã đầu tư công sức, trí tuệ, vật chất của bản thân và tập thể cho việc sưu tầm, nghiên cứu, tập hợp, biên soạn hàng trăm ấn phẩm văn hóa góp phần lưu giữ, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên quê hương xứ Nghệ. 

Một số công trình, tác phẩm tiêu biểu.

- Nguyễn Đổng Chi, Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An,  năm 1995;

- Phan Đại Doãn, Nghệ An một sắc thái độc đáo, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 năm 1994;

- Nguyễn Đình Lộc, Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, NXB Nghệ An, 1993;

- Nguyễn Xuân Đức, Bảo tồn,phát triển, phát huy văn hóa các dân tộc- Một chiến lược văn hóa vì sự phát triển bền vững của đất nước, trong đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước năm 2012;

- Lê Bá Hán (chủ biên), Xây dựng con người Nghệ An trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề tài KH KX-010NA, 196-198;

- Chu Trọng Huyến, Tính cách người Nghệ, NXB Nghệ An;

- Ninh Viết Giao, Về văn hóa xứ Nghệ, NXB Nghệ An. 2003;

- Ninh Viết Giao, Kho tàng ca dao xứ Nghệ;

- Ninh Viết Giao, Tục thờ thần và thần tích Nghệ An;

- Nghệ An di tích - danh thắng - du lịch, Sở VHTT Nghệ  An 1995, v.v…

Đặc biệt trong 10 năm lại đây, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa xứ Nghệ đã được tổ chức thực hiện. Nổi bật có dự án nghiên cứu Lịch sử Nghệ An từ cổ đại đến hiện đại, xuất bản năm 2012; Dự án nghiên cứu, biên soạn trọn bộ địa chí Nghệ An gọi là Nghệ An toàn chí, với dự kiến trên 20 tập. Một số đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề văn hóa của các dân tộc ít người, như nghiên cứu tri thức dân gian, nghiên cứu ngôn ngữ của người Ơ đu, ngôn ngữ người Đan Lai cũng được tiến hành trong thời gian qua.

Sự du nhập văn hóa ngoại lai trong thời kỳ hội nhập, mở cửa

Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập không chỉ về kinh tế, hàng hóa, mà hội nhập cả văn hóa. Hơn nữa trong kinh tế như hàng tiêu dùng, mỹ phẩm… cũng hàm chứa văn hóa.

Sự du nhập văn hóa ngoại thể hiện bằng nhiều con đường, nhiều kênh khác nhau từ người xuất ngoại về nước, đến khách du lịch nước ngoài… mà ảnh hưởng nhiều nhất là bằng con đường điện ảnh. Người Việt mình đã từng thao thức với những bộ phim hàng chục tập đến hàng trăm tập của nhiều hãng phim nổi tiếng của nước ngoài. Qua việc quảng bá phim, người ta cùng một lúc quảng bá lối sống, phong tục, tập quán… mà tuổi trẻ thường hay bắt chước từ quần, áo đến cả màu son tô môi…

Hiện tượng du nhập văn hóa ngoại trong thời gian qua được dư luận quan tâm là việc các linh vật ngoại lai như hình tượng các sư tử đá hiên ngang án ngữ ở các chốn linh thiêng đình, đền, chùa Việt, hơn thế nữa nó còn hiện diện ở các cơ quan công sở chính quyền từ cấp xã, đến cấp tỉnh. Tỉnh Nghệ An cũng có hiện tượng trên. Hiện nay đã có chủ trương giải phóng những linh vật ngoại lai, song công việc liên quan đến thế giới tâm linh không phải một sớm, một chiều mà giải quyết được.

Thực tế cuộc sống trong thời kỳ giao lưu, hội nhập đang đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách và quản lý về văn hóa nhiều vấn đề cần giải quyết là làm sao vừa đáp ứng yêu cầu giao lưu, hội nhập song vẫn giữ vững bản sắc và truyền thống tốt đẹp của quê hương đất nước? Bởi vì một đất nước, một dân tộc khi đã đánh mất bản sắc, đánh mất những gì mà dân tộc đó có được qua hàng ngàn năm bồi đắp thì dân tộc đó đã bị xâm lăng về văn hóa, dân tộc đó không còn tồn tại trên thực tế.

Giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa luôn luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Làm tốt công tác bảo tồn bao nhiêu là tạo điều kiện cho việc phát huy giá trị văn hóa bấy nhiêu và ngược lại. Nhận thức rõ mối tương tác nêu trên, trong thời gian qua tỉnh Nghệ An luôn luôn chú trọng đến cả 2 lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa xứ Nghệ và đã giành được nhiều thành tựu đáng tự hào, tạo tiền đề cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa xứ Nghệ trong thời gian tới.

Ban hành nhiều văn bản pháp quy và thành lập một số đơn vị mới tạo điều kiện cho công tác phát huy các giá trị văn hóa xứ Nghệ ở Nghệ An trong thời gian qua.

- Một số văn bản pháp quy thiết thực góp phần phát huy các giá trị văn hóa xứ Nghệ trong thời gian vừa qua: Để hoàn thành nhiệm vụ trên đây, ngoài các cơ quan làm nhiệm vụ quản lý và tác nghiệp về văn hóa đã có từ trước đến nay, những năm qua ngành văn hóa tỉnh đã trực tiếp tham mưu cho UBND tỉnh ra một số quyết định có ý nghĩa sau: Quyết định số: 24/2003/QĐ/UB ngày 29 tháng 1 năm 2003 của UBND tỉnh Nghệ An về việc ban hành quy chế quản lý, bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 01/2007/QĐ-UB ngày 05 tháng 01 năm 2007 của UBND tỉnh Nghệ An về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

- Thành lập một số đơn vị mới tác nghiệp mang tính chuyên ngành đáp ứng với yêu cầu thực tiễn như: Ban quản lý Di tích - Danh thắng Nghệ An, thành lập ngày 05/04/2002; Ban quản lý Quảng trường HCM và tượng đài Bác Hồ, thành lập ngày 10/04/2003; Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, ra đời năm 2009 từ Nhà hát dân ca Nghệ An; Ban quản lý khu di tích lịch sử Truông Bồn, thành lập ngày 16/4/2014;

  1. Công tác phát huy

Công tác phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa có bước khởi sắc:

Từ năm 1988 đến nay, Nghệ An đã có hàng trăm di tích lịch sử - văn hóa được trùng tu, tôn tạo hay phục hồi từ nhiều nguồn khác nhau: nhà nước, doanh nghiệp, doanh nhân và bằng nguồn công đức của đông đảo nhân dân tham gia đóng góp. Các di tích sau khi được bảo tồn, tôn tạo càng có điều kiện phát huy tác dụng trong việc phục vụ lễ hội, quảng bá du lịch, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước. Nhiều di tích đã trở thành địa chỉ đỏ, nơi học sinh các trường tiến hành ngoại khóa, học về lịch sử địa phương như di tích lịch sử Truông Bồn - Đô Lương, di tích lịch sử đền Cuông - Diễn Châu, di tích lịch sử đền Bạch Mã - Thanh Chương. Tiêu biểu là khu di tích Kim Liên, huyện Nam Đàn hàng năm đón tiếp từ 1,5 triệu đến 2 triệu lượt khách tham quan, học tập.

Thời kỳ đầu để khôi phục các lễ hội truyền thống đã bị mai một do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài (từ năm 1945 - 1976 ), từ năm 1985 ngành văn hóa tỉnh nhà đã chủ động đề xuất và trích một phần ngân sách cho việc phục hồi một số lễ hội như: Lễ hội đền Cuông, Diễn An, Diễn Châu; Lễ hội Vua Mai, thị trấn Nam Đàn, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn;Lễ hội đền Cờn, xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu.v.v…

Chỉ trong một thời gian ngắn, các lễ hội ở tỉnh ta được trả về cho từng huyện, từng xã nơi có di tích, triệt để xã hội hóa công tác lễ hội.

Trong gần 30 lễ hội diễn ra hàng năm trên địa bàn Nghệ An, ngoài những lễ hội truyền thống vẫn có những lễ hội mới được hình thành xuất phát từ nhu cầu tình cảm, sự biết ơn của hậu thế đối với các bậc tiền nhân, anh hùng, liệt sĩ như:

- Lễ hội Làng Sen, diễn ra tại Nam Đàn và thành phố Vinh, nhằm tôn vinh và tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới;

- Lễ hội Uống nước nhớ nguồn, diễn ra tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc tế Việt-Lào, huyện Anh Sơn, nơi an nghỉ của hơn 10.000 liệt sĩ;

- Lễ hội Môn Sơn, diễn ra tại xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, kỷ niệm ngày thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở miền Tây Nghệ An (14/4/1931);

Cũng có lễ hội ra đời làm nhiệm vụ quảng bá du lịch như: Lễ hội sông nước Cửa Lò mở đầu cho mùa du lịch biển hàng năm tại thị xã biển vào ngày 30/4 đến 1/5 hàng năm.

Nhìn chung các lễ hội ở Nghệ An trong thời gian qua đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn, xây dựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống xứ Nghệ vào cuộc sống đương đại.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở Nghệ An trong thời gian qua đã thu được nhiều kết quả khả quan:

Một trong những phong trào có tính quyết định góp phần không chỉ bảo tồn mà còn phát huy tốt giá trị văn hóa xứ Nghệ trong thời gian qua ở Nghệ An là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Nhờ chủ động trong công tác triển khai thực hiện, thời gian qua phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa (TDĐKXDĐSVH) trong toàn tỉnh Nghệ An ngày càng đi vào chiều sâu. Tính hiệu quả và sức lan tỏa của các chương trình trong phong trào đã góp phần bảo tồn và đưa văn hóa xứ Nghệ từng bước phát huy giá trị trong hoàn cảnh và điều kiện mới. Những năm qua hoạt động ở các lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực, các vi phạm trong thực hiện nếp sống văn minh ở các lễ hội dần bị hạn chế đi đến loại bỏ. Công tác xã hội hóa lễ hội ngày càng được các huyện, thành, thị, cơ sở quan tâm. Điều đó còn được thể hiện trong việc đăng ký xây dựng danh hiệu gia đình văn hóa, dòng họ, làng, bản, khối phố văn hóa. Cùng nhau tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH. Năm 2015 có 633.620/761.037 gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa, đạt 83,3%; 1.317/5.897 khu dân cư đăng ký xây dựng khu dân cư văn hóa; có 12 xã, thị trấn đã được UBND huyện công nhận “xã đạt văn hóa chuẩn nông thôn”; 65 xã đăng ký xây dựng “xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”…

Bên cạnh còn có phong trào xây dựng “Quỹ vì người nghèo”, làm nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, tổ chức “Tết vì người nghèo”với gần 400 tổ chức, doanh nghiệp tham gia, ủng hộ, hỗ trợ cho gần 70.000 hộ nghèo đón tết Ất Mùi 2015. Các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục được triển khai thực hiện theo hướng xã hội hóa. Toàn tỉnh đã hỗ trợ xây dựng mới 70 ngôi nhà với kinh phí 3,7 tỷ đồng, sửa chữa nâng cấp 86 ngôi nhà với kinh phí 1,72 tỷ đồng cho đối tượng có công với cách mạng. Về xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới với 435/435 xã, đến nay có 36 xã được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới.

Việc thực hiện các chương trình công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội ở các địa bàn dân cư cơ sở tiếp tục được triển khai thực hiện. Phong trào TDĐKXDĐSVH còn thể hiện trên các mặt như: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội…

Tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học và học giỏi của của con người xứ Nghệ  trong giai đoạn hiện nay:

Xứ Nghệ là vùng đất nổi tiếng về truyền thống hiếu học và học giỏi, ngày nay truyền thống đó càng có điều kiện phát huy. Phong trào thi đua dạy và học luôn đưa đến kết quả tốt đẹp. Trong các kỳ thi quốc tế, quốc gia, thi đại học và cao đẳng học sinh Nghệ An luôn nằm ở tốp đầu. Chỉ tính thành tích học tập năm học 2014, tỉnh Nghệ An có 3 em đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2013-2014, Nghệ An tiếp tục giữ vững là địa phương nằm trong tốp đầu của cả nước khi có 4 em đạt giải Nhất, 33 giải Nhì, 33 giải Ba và 14 giải khuyến khích. Kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2014, Nghệ An có 12 thủ khoa điểm cao. Ngoài ra còn có 61 học sinh dự thi khối A, khối B đạt điểm cao từ 27 điểm trở lên. Trong số các em đỗ thủ khoa và đạt điểm cao không chỉ là học sinh ở trường chuyên, lớp chọn ở địa bàn thành phố, mà có nhiều em là học sinh ở vùng nông thôn, miền núi, dân tộc điều kiện kinh tế còn khó khăn.

Để tuyên dương các em có thành tích trong học tập, đồng thời cổ vũ tuổi trẻ quê hương tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học và học giỏi, UBND tỉnh đã trao tặng số tiền thưởng 1,1 tỷ đồng cho 84 em HS giỏi quốc gia và 1,2 tỷ đồng cho 131 em đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2014. Tại lễ vinh danh, ban tổ chức còn tiếp nhận 2,5 tỷ đồng của các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp và các tấm lòng hảo tâm ủng hộ, giúp đỡ mua sách, vở, đồ dùng học tập, xây dựng nhà bán trú cho các học sinh vùng cao trong tỉnh. Như vậy truyền thống hiếu học và học giỏi xứ Nghệ ngày nay càng được phát huy cao độ, đồng thời mang tính cộng đồng, tính nhân văn sâu sắc.

Việc bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống theo hướng bền vững đã giành được nhiều thành tựu đáng tự hào:

Thời gian qua cũng là thời gian Nghệ An phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững. Toàn tỉnh hiện có 500 làng nghề, trong đó có 119 làng được UBND tỉnh công nhận, 225 làng có nghề được UBND các huyện công nhận. Hoạt động làng nghề khá phong phú, với nhiều lĩnh vực. Nhiều làng, xã đã giàu lên nhờ phát triển kinh tế làng nghề. Các làng nghề đã giải quyết việc làm ổn định tại chỗ cho trên 40.000 lao động, với mức thu nhập từ 8-30 triệu đồng/năm, góp phần phát triển kinh tế địa phương, nâng cao đời sống nhân dân đồng thời lưu giữ và phát triển được nét đẹp truyền thống văn hóa ở các làng quê có ngành nghề truyền thống. Chỉ riêng nghề mây tre đan đã có đến 40 làng nghề, tạo việc làm cho hơn 17.000 lao động, doanh thu trên 70 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 3 triệu USD/ năm.

Nghệ An phấn đấu đến hết năm 2015 phát triển 318 làng nghề, bình quân mỗi xã đồng bằng ven biển có từ 2-3 làng nghề, mỗi xã vùng núi thấp có 1 làng nghề, mỗi huyện miền núi có từ 20-30 làng nghề. Trong đó chú trọng duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, du nhập một số nghề mới, phát triển ngành nghề theo thế mạnh về lao động, tài nguyên từng địa bàn, với mục tiêu mỗi năm đưa giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 3.500 tỷ đồng, trong đó đóng góp từ làng nghề 2.500 tỷ đồng. Như vậy với việc phát triển làng nghề, Nghệ An không chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững.

Di sản dân ca xứ Nghệ luôn được bảo tồn và phát huy có hiệu quả: Đề cập đến việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa xứ Nghệ, mà đặc biệt là Ví, Giặm, giờ đây, nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta càng tự hào vì thấy rằng đặc sản văn hóa dân ca Ví, Giặm ngày càng được bảo tồn và phát huy giá trị mang tính bền vững lâu dài. Dù xã hội thay đổi, các tổ chức sinh hoạt cộng đồng thay đổi, không gian diễn xướng không còn như xưa, nhưng Ví, Giặm không mất đi mà còn phát triển cao hơn trong nghệ thuật thực hành. Từ những câu Ví, Giặm cổ đơn độc nó đã được kết lại thành những hoạt cảnh, ca cảnh. Dân ca Nghệ Tĩnh biểu đạt nhiều sắc thái tình cảm của con người trong cộng đồng mới với nhiều cung bậc, tiết tấu khác nhau. Còn nhớ năm 1969, trong hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn miền Bắc, Đoàn Văn công Nghệ An trình làng với vở diễn “Không phải tôi” của Nguyễn Trung Giáp, đoàn đã nhận được giải huy chương vàng và bằng khen đặc biệt của ban tổ chức giành cho phần âm nhạc. Đây là vở kịch hát dân ca xứ Nghệ đầu tiên trên sân khấu chuyên nghiệp.

          Nếu đem Ví, Giặm so chiếu với nhiều ca khúc mới, ta cũng thấy rõ có một dòng ca khúc mang âm hưởng Ví, Giặm rất được công chúng ưa thích, thậm chí chiếm lĩnh một phần lớn thị hiếu công chúng đương thời. Vậy là Ví, Giặm đã đi vào âm nhạc bác học như một chất liệu độc đáo riêng. Và không chỉ với ca khúc mới, Ví, Giặm còn là chất liệu của những vở kịch hát dài hơi có hơi hướng opera trên sân khấu chuyên nghiệp như vở “Mai Thúc Loan” của Phan Lương Hảo đã từng đoạt huy chương vàng trong hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc vào năm 1885. Kể từ đây Kịch hát (Dân ca) Nghệ Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một kịch chủng mới, làm phong phú đa dạng thêm nền sân khấu kịch hát dân tộc Việt Nam.

          Ngày nay chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ truyền thông, lạm phát về nghệ thuật, nhưng người Nghệ vẫn yêu những câu hát Ví, Giặm quê mình, và vì thế mà phong trào hát dân ca Nghệ Tĩnh cứ luôn lan tỏa. Con số gần 100 câu lạc bộ đàn và hát dân ca Ví, Giặm với hàng ngàn thành viên ở 2 tỉnh Nghệ -Tĩnh, trong đó có hàng chục người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian đã minh chứng cho tình yêu đó. Nhưng đâu chỉ tại xứ Nghệ mới có các câu lạc bộ đàn và hát dân ca Ví , Giặm, mà ngay giữa lòng Hà Nội kinh kỳ, Sài Gòn hoa lệ và nhiều tỉnh thành khác, thậm chí cả ở tận trời Tây vẫn có những câu lạc bộ đàn và hát dân ca Nghệ Tĩnh.

          Việc Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng có các đoàn nghệ thuật dân ca Nghệ Tĩnh, và hiện nay Nghệ An có Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, là thể hiện một tầm nhìn có tính chiến lược nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa của quê hương xứ sở. Đó là tầm nhìn xuyên suốt quá khứ tới tương lai, để Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ngày càng có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng người Nghệ nói riêng và nhân loại nói chung.

Tóm lại việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa xứ Nghệ đã nhận được sự quan tâm của các ngành, các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, đó là nguyên nhân mà Nghệ An nói riêng, xứ Nghệ nói chung đạt được nhiều thành tựu trên lĩnh vực văn hóa trong thời gian qua. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng rằng, cho dù trong thời gian tới, văn hóa nhân loại sẽ có sự hội nhập sâu rộng, nhưng con người xứ Nghệ và bản sắc văn hóa Nghệ luôn được bảo tồn và phát huy tốt đẹp trong hoàn cảnh, điều kiện mới.

 

 

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Nhà ở truyền thống của người Thổ ở Nghệ An (5/2/2021)
Thu thập các lời kể dân gian về y phục cưới thời xưa (5/2/2021)
Năm con trâu, bàn thêm về cách dịch thôn ngưu trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão (5/2/2021)
Nguồn gốc tục lệ cúng ông Táo và ý nghĩa ngày ông Công ông Táo (29/1/2021)
Mấy bài học về phương pháp từ nhà văn hóa lớn Nguyễn Đổng Chi (1915 - 1984) (12/1/2021)
Sứ mệnh của khoa học xã hội và nhân văn trong thời đại mới (12/1/2021)
Văn hóa Việt Nam và những giá trị văn hóa Việt Nam (8/12/2020)
Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị tinh hoa văn hóa xứ Nghệ thời gian qua (7/12/2020)
Có thể bạn chưa biết: Luật danh cho giám khảo xưa (3/12/2020)
Văn hóa và những giá trị văn hóa Việt Nam (16/11/2020)
Quốc học Vinh - Mô hình giáo dục Pháp - Việt tiêu biểu, một trung tâm tri thức lớn ở Trung kỳ (11/11/2020)
Hội nhập quốc tế lĩnh vực khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An trong giai đoạn phát triển mới (11/11/2020)
Văn hóa và chức năng của văn hóa (11/11/2020)
Tìm hiểu nguồn lợi thủy sản tại Nghệ An và một số đề xuất kiến nghị (22/10/2020)
Đặc sắc in vẽ trên vải Ấn Độ (22/10/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách:
Giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Giới thiệu sách: Giải pháp nâng cao hiệu quả và nhân rộng mô hình Hợp tác xã kiểu mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 344 | Tất cả: 2,824,534
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp