ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Xứ Nghệ - một vùng địa văn hóa, lịch sử
Tin đăng ngày: 11/11/2020 - Xem: 41
 

Nguyễn Thủy - Hồ Thủy

Nói về địa - văn hóa là bàn đến những điểm đại đồng và tiểu dị được/bị chi phối bởi những yếu tố địa lý, làm nên tính nhất quán và phong phú của văn hóa. Phủ định tính vùng miền trong văn hóa là phủ định tính phong phú, miệt thị tính vùng miền là gây chia rẽ... Trong so sánh về tính vùng miền, nên dùng phép so sánh hơn đầy tinh tế, chứ không phải phép so sánh nhất  mang tính cực đoan. Những tính cách chung của cả nhân loại, hay của một dân tộc, sẽ trội lên hay chìm xuống tùy theo hoàn cảnh địa lý. Một tính cách có ở vùng miền này, hay ở dân tộc này, chắc chắn sẽ có ở vùng miền khác, hay ở dân tộc khác, chỉ là trội hay chìm mà thôi.

Trong các nghiên cứu về vùng văn hóa ở Việt Nam, xứ Nghệ (Nghệ An-Hà Tĩnh) thường được coi là một tiểu vùng nằm trong vùng văn hóa Trung bộ (Ngô Đức Thịnh, 1993; Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận, 1995 và các tác giả khác). Xét về mặt địa lý, sự phân bố địa hình thành 3 phần (rừng núi phía Tây, đồng bằng ở giữa và duyên hải phía Đông) chưa thể hiện đặc trưng gì thật khác biệt so với các vùng khác ở dải đất miền Trung Việt Nam. Sự khắc nghiệt về khí hậu mà Đặng Thai Mai và các nhà nghiên cứu thường nói tới đúng là một bất lợi thế rất lớn của xứ này. Có nhiều người đã lấy đó để chỉ ra ảnh hưởng của nó tới tính cách, khí chất con người Nghệ Tĩnh, nhưng thực ra, sự khắc nghiệt về khí hậu này có thể đúng với Quảng Trị, Quảng Bình và phần nào với Thanh Hóa. Vậy thì đặc điểm nào về mặt tự nhiên làm nên nét đặc sắc của tiểu vùng văn hóa này?

Trong công trình của mình, Ngô Đức Thịnh đã chỉ ra những yếu tố cấu thành văn hóa vùng gồm: Hoàn cảnh tự nhiên, nguồn gốc dân cư, điều kiện lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hóa (Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa). Như vậy, không gian đặc định của tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ có lẽ phải tính đến những cơ duyên lịch sử đã tác động đến vùng đất này để tạo nên một cái nôi văn hóa mà từ đó, con người và văn hóa xứ Nghệ được hình thành và phát triển trong thời gian.

Theo GS Trần Quốc Vượng, môi trường tự nhiên xứ Nghệ chia thành ba phần: Đồi núi trùng điệp phía Tây; biển mênh mông ở phía Đông và trung tâm là đồng bằng. Tuy nhiên, nhiều nơi rừng núi, biển cả và đồng bằng xen cài, gối kết vào nhau, tạo nên cảnh sắc thiên nhiền vừa đa dạng, vừa kỳ thú:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì ...vô!

Con đường thiên lý cổ từ Bắc vào Trung - Nam xưa không “thẳng như chì kẻ”. Cái điệp khúc “một đèo, một đèo, lại một đèo” cứ láy đi láy lại từ đèo Ba Dội, đèo Hoàng Mai và khe Nước Lạnh (địa đầu Bắc xứ Nghệ), đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông, đèo Cả (Đại lãnh)... và hình dung 4 hằng số địa lý miền Trung là: Núi - Biển và Sông - Đèo[1].

Xứ Nghệ là vùng đất nằm ở Bắc Trung Bộ nước ta với diện tích rộng 22.502 km2. Nghệ Tĩnh có đường biên giới dài 564 km ở phía Tây với nước  Lào, có đường biên phía Đông dài 230km. Theo chiều ngang, chỗ hẹp nhất trên đất liền là 80 km (Hà Tĩnh), chỗ rộng nhất 200km (Nghệ An). Phía Bắc giáp với Thanh Hóa, còn phía Nam ngăn cách với Quảng Bình bởi dãy Hoành Sơn, trải từ Bắc xuống Nam gần 300 km. Như vậy so với xứ Thanh, xứ Huế, xứ Quảng ở miền Trung, tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ có diện tích rộng nhất, trải trên 20 huyện, thị (Nghệ An) và 13 huyện, thị Hà Tĩnh. Trong một vùng lãnh thổ như vậy, thiên nhiên xứ Nghệ rất đa dạng, phong phú và khắc nghiệt. Đặc điểm thiên nhiên này đã để lại những dấu ấn trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của cư dân xứ Nghệ.

Rừng núi và trung du là địa hình quan trọng chiếm phần lớn đất đai xứ Nghệ. Rừng núi phía Tây xứ Nghệ chủ yếu tạo nên do hai hệ thống núi, núi Pù Hoạt ở phía Bắc thuộc thượng nguồn sông Cả và dãy Bắc Trường Sơn nối tiếp ở phía Nam. Các hệ thống núi non trên có những đỉnh núi khá cao, như đỉnh Pù Hoạt cao 2453m, Puxailaileng cao 2711m, đỉnh cao nhất ở dãy núi Bắc Trường Sơn mà dân gian gọi là dãy Giăng Màn, tạo thành biên giới tự nhiên giữa Nghệ Tĩnh  với nước Lào.

Chuyển tiếp giữa vùng núi cao và đồng bằng là các dãy đồi thấp, mang tính chất như vùng trung du, trải rộng từ Nghĩa Đàn, Qùy Hợp, Tân Kỳ, Anh Sơn ở phía Bắc đến Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh ở phía Nam. Đồng bằng Nghệ Tĩnh ước tính khoảng 3400km2, chiếm 15% diện tích toàn vùng, tạo thành các đồng bằng nhỏ như Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn… các vùng đồng bằng thường nhỏ hẹp vì không có đồng bằng châu thổ và bị các nhánh núi đâm ra biển xé lẻ, độ dinh dưỡng trong đất nghèo, có vùng giáp biển lại hay bị nhiễm mặn. Tuy nhiên, từ rất lâu đời, các vùng đồng bằng nhỏ hẹp và kém phì nhiêu này là địa bàn trồng trọt lúa và hoa màu, nuôi sống hằng triệu con người xứ Nghệ, bồi đắp tâm hồn, cốt cách người dân nơi đây.

Xứ Nghệ có đường bờ biển dài 230km, chiếm khoảng 7% chiều dài đường bờ biển nước ta. Điều đó cũng cho thấy môi trường biển có vị trí quan trọng như thế nào trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân vùng này. Biển ở đây thường là biển nông, có nhiều nhánh núi nhô ra biển tạo thành các mũi, như: Mũi Đầu Rồng, Lạch Quèn, Cửa Lò, Cương Gián, Mũi Sót, Cửa Nhượng… Hệ thống sông ngòi đổ ra biển khá nhiều: Cửa Hội, Cửa Tráp, Cửa Vạn, Cửa Sót… Hệ thống mũi và cửa kể trên tạo cho đường bờ biển ở đây có nhiều vịnh, vũng, đầm thuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, cũng như hệ thống đảo lớn nhỏ như đảo Nghi Sơn, Hòn Ngư, Hòn Mắt, Hòn Én, đảo Con Chim… làm tăng lên vẻ đẹp đáng kể của thiên nhiên cũng như tính chất “biển” trong đời sống con người xứ Nghệ.

Trên vùng đất xứ Nghệ, sự xuất hiện sớm của con người và các nền văn hóa đã được biết tới từ thời kỳ đá cũ với di chỉ Thẩm Ồm (Quỳ Châu), các di chỉ thời văn hóa Hòa Bình (Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương, Tân Kỳ, Quỳ Châu), và đặc biệt là các cồn sò, cồn điệp làm nên nền văn hóa Quỳnh Văn thời đá mới, di chỉ Làng Vạc với các di vật đồ đồng của thời đại Đông Sơn. Sự đứt đoạn về thư tịch không cho phép hình dung được một dòng mạch liên tục của lịch sử trên vùng đất này tuy nhiên, thư tịch và truyền thuyết dân gian thời Bắc thuộc đã tái hiện phần nào sự phát triển liên tục của lịch sử qua sự xuất hiện của các nữ tướng Hai Bà Trưng, người anh hùng Mai Thúc Loan với cuộc khởi nghĩa 10 năm (713-722) mà các dấu tích về thành quách vẫn lưu giữ trên vùng đất Nam Đàn và quy mô của cuộc khởi nghĩa có tầm lan tỏa tới vùng châu thổ sông Hồng. Trong thời kỳ Đại Việt, xứ Nghệ một thời gian dài (trước năm 1069) là vùng đất phên dậu mà ranh giới cuối cùng của nó hiện còn lưu ở tên gọi của núi Hoành Sơn (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) được coi là nơi phân định lãnh thổ của người Việt và người Chăm. Điều này đã được chép trong một số thư tịch. Đại Nam nhất thống chí dẫn sách Việt sử ngoại kỷ chép rằng: “Hồi Giao Châu thuộc nhà Hán chúa Lâm Ấp là Phạm Văn xin với thái thú quận Nhật Nam là Chu Phồn lấy Hoành Sơn làm giới hạn". Trong thời gian tồn tại của nước Lâm Ấp, người Chăm đã nhiều lần Bắc tiến vượt qua dãy Hoành Sơn, và như vậy là, ảnh hưởng qua lại của người Việt và người Chăm trên mảnh đất xứ Nghệ (dù lúc đó chưa có tên gọi này) là điều hoàn toàn đã xảy ra. Danh xưng Nghệ An được nhà Lý đặt lần đầu tiên vào năm 1030 với tên gọi là “châu Nghệ An"; trước đó gọi là trại. Vùng biên viễn xứ Nghệ cũng đã từng là nơi lưu đầy các tù nhân trong lịch sử.

   Đến đây, có thể nói, tính chất phên dậu, biên viễn, trại và những mối quan hệ qua lại khá phức tạp giữa ngoại vi với trung tâm, giữa người Việt và các dân tộc thiểu số thời đó với người Chăm chính là những nhân tố tác động mạnh để hình thành nên những đặc điểm về tính cách của con người và đặc trưng văn hóa của vùng đất này.

 

Chú thích

[1]Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 396.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Đình Hoành Sơn - Một Di tích quốc gia đặc biệt (20/11/2020)
Xứ Nghệ xưa và nay (16/11/2020)
Cá thu nướng - đặc sản Cửa Lò (16/11/2020)
Xứ Nghệ - một vùng địa văn hóa, lịch sử (11/11/2020)
Xã Phúc Sơn (Anh Sơn) - miền đất của truyền thống cách mạng anh hùng (10/11/2020)
Nơi giữ hồn ví giặm dưới chân lèn Hai Vai (9/11/2020)
Nhà giáo Ngô Văn Phú - Một đời tâm huyết với sự nghiệp trồng người (9/11/2020)
Nguyễn Nghĩa Nguyên - Một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nghệ An (9/11/2020)
CEO Nghiêm Tiễn Viễn - chàng trai đam mê công nghệ với Giải Đặc biệt Sáng tạo KH&CN Nghệ An 2020 (27/9/2020)
Đồng chí Trịnh Thuyết - chiến sỹ cộng sản Xô Viết kiên cường, người con ưu tú của quê hương Thanh Chương (11/9/2020)
Lễ hội đón tiếng sấm của dân tộc Ơ Đu (24/8/2020)
Tục làm vía - Tín ngưỡng đặc sắc người Thái (5/8/2020)
Kỷ niệm 90 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh: Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (31/7/2020)
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ (29/7/2020)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Tấm gương người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (29/7/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 557 | Tất cả: 2,593,273
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp