NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tìm hiểu nguồn lợi thủy sản tại Nghệ An và một số đề xuất kiến nghị
Tin đăng ngày: 22/10/2020 - Xem: 92
 

Trịnh Thị Hằng - Đại học Vinh

ĐẶT VẤN ĐỀ

 “Nguồn lợi thuỷ sản là nguồn tài nguyên sinh vật sống trong các vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học nhằm phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản” (Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Thuỷ sản Việt Nam 2003). Không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của con người khi là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng trong các bữa ăn gia đình, những nguyên liệu quý để bào chế dược phẩm hay đơn giản được dùng làm đồ mỹ nghệ trong trang trí, thiết kế, tài nguyên thuỷ sản còn là một ngành kinh tế mũi nhọn trong kế hoạch phát triển của đất nước.

Nghệ An là một trong những tỉnh được thiên nhiên ưu đãi với bờ biển kéo dài 82 km cùng hệ thống sông ngòi phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi để những hộ dân ven biển làm kinh tế bao gồm phát triển du lịch, làm muối, khai thác thuỷ sản cùng với đó là các hoạt động sản xuất, kinh doanh kéo theo khác như đóng tàu, làm đá, chế biến thuỷ sản, giao thương đường biển… nhờ vậy tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương.

Mặc dù vậy, khi kinh tế biển chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng của nó thì những hoạt động của con người đã kịp gây ô nhiễm và tổn hại nghiêm trọng tới nguồn lợi thuỷ sản, ảnh hưởng tới đời sống của người dân cũng như sự phát triển kinh tế tỉnh. Bởi lẽ đó, cần có sự nghiên cứu về nguồn lợi thuỷ sản của Nghệ An, thực trạng khai thác nguồn lợi thuỷ sản và đưa ra các giải pháp hạn chế sự suy giảm của nguồn tài nguyên quý giá này.

Upload

Nghệ An có nhiều lợi thế để đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (Ảnh: Nguồn Báo Nghệ An)

NỘI DUNG

  1. Tổng quan về các vùng nước tự nhiên của Nghệ An

Nghệ An thuộc Bắc Trung Bộ, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau).

Tổng chiều dài sông suối trên địa bạn tỉnh vào khoảng 9828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2. Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) với lưu vực chiếm 80% diện tích tự nhiên, bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km).

Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40 m trở vào đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40 m trở ra có nhiều đá ngầm và cồn cát.

Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có 6 cửa lạch (Lạch cờn, Lạch Vạn, lạch Thời, Lạch Quèn, Cửa Lò, Cửa Hội). Trong đó Cửa Lò và Cửa Hội có khả năng thuận lợi cho xây dựng cảng biển.

Ven biển có trên 3.000 ha diện tích mặt nước mặn lợ, có khả năng nuôi tôm cua, nhuyễn thể… và có trên 1.000 ha diện tích phát triển đồng muối.

Vùng biển có đảo Ngư, đảo Lan Châu và đảo Mắt. Riêng đảo Ngư cách bờ biển 4 km có diện tích trên 100 ha, quanh đảo có độ sâu 8-12 m, có điều kiện xây dựng thành cảng nước sâu trong tương lại, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá giữa nước và các nước trong khu vực. (1)

Như vậy, so với mặt bằng chung của các tỉnh khác trong cả nước thì Nghệ An là một trong những tỉnh được thiên nhiêu ưu đãi với rất nhiều lợi thế về sông ngòi nhờ vậy, không chỉ là địa điểm thu hút khách du lịch, phát triển cảng biển mà còn rất thuận lợi để phát triển nghề khai thác thuỷ sản.

Upload

 

Nguồn lợi về hải sản của Nghệ An rất dồi dào

  1. Các đặc điểm của nguồn lợi thuỷ sản Nghệ An

2.1. Nguồn lợi thuỷ sản Nghệ An có tiềm năng lớn, trữ lượng dồi dào, đóng vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của người dân địa phương

Với bờ biển kéo dài, ngư trường rộng lớn, tài nguyên biển Nghệ An được đánh giá là phong phú, dồi dào, có trữ lượng hải sản rất lớn trên 550 nghìn tấn, khả năng khai thác khoảng 300.000 tấn/năm. Theo các tài liệu nghiên cứu, chỉ tính riêng cá, Nghệ An có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó khoảng 62 loài có giá trị tế cao, nhiều loài quý hiếm. Số loài theo phân bố tự nhiên được chia thành hai nhóm: Nhóm gần bờ là 121 loài, nhóm xa bờ gồm 146 loài. Tôm có trữ lượng khoảng 680 tấn với 20 loài, phân bổ tại các bãi tôm chính như bãi tôm từ cửa Lạch Bạng đến Lạch Quèn, huyện Quỳnh Lưu khoảng 250 - 300 tấn; bãi tôm huyện Diễn Châu từ 360 - 380 tấn; các vùng rạn đá ven các đảo và các vùng có đá ngầm có tôm hùm, trữ lượng từ 20 - 25 tấn. (2) Với tiềm năng dồi dào đó, biển đã giúp cho đời sống của người dân ngày càng sung túc hơn và biển cũng trở thành thế mạnh trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An.

Người dân gắn bó với biển có tính cách cha truyền con nối, phát triển du lịch, dịch vụ lẫn khai thác hải sản. Đời sống nhân dân, xóm làng ven biển các huyện Quỳnh Lưu Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò phát triển không ngừng. Hiện nay cả tỉnh có khoảng 25 nghìn người lao động trực tiếp trên biển với thu nhập bình quân 60 - 70 triệu đồng/người/năm. Các cảng cá, cửa lạch luôn có sự mua bán sầm uất, sôi động dù vụ Bắc hay vụ Nam.

Kinh tế của tỉnh cũng phát triển không ngừng nhờ nguồn lợi thuỷ sản. Toàn tỉnh hiện nay có 22.500 ha nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có 20.000 ha nuôi cá nướ ngọt và 2.500 ha nuôi mặn lợ. Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2015 đạt 145.000 tấn, tăng gấp hai lần so với năm 2006. Tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản giai đoạn 2011 - 2015 đạt bình quân 10 - 11%/năm. Kéo theo sự phát triển của sản lượng sản xuất là sự phát triển của công nghiệp chế biến. Các nhà máy chế biến xuất khẩu đã được đầu tư xây dựng mới, nâng cấp với thiệt bị ngày càng hiện đại. Toàn tỉnh có 14 khu chế biến thuỷ sản tập trung, hàng năm cung cấp gần 25 triệu lít nước mắm các loại, trên 15.000 tấn bột cá, 5.000 tấn mắm các loại. Sản phẩm chế biến thuỷ sản xuất khẩu năm 2015 đạt 35.000 tấn, đạt 25 triệu USD. (3)

Như vậy có thể thấy, với tiềm năng lớn, trữ lượng dồi dào, nguồn lợi thuỷ sản giữ một vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho hàng nghìn người, nâng cao đời sống của của các gia đình và còn mang lại giá trị kinh tế to lớn, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà.

Upload

 

Các loại thủy sản được người dân chú trọng nuôi trồng

2.2. Nguồn lợi thuỷ sản Nghệ An hiện nay có nguy cơ bị cạn kiệt, một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao có nguy cơ bị tuyệt chủng

Đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân cũng như sự phát triển của toàn tỉnh, tuy nhiên, người lợi thuỷ sản Nghệ An đang đứng trước nguy cơ bị cạn kiệt, thậm chí, một số loài có giá trị kinh tế cao có khả năng bị tuyệt chủng.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do sự thiếu ý thức của con người, các hành vi khai thác bữa bãi, sử dụng các hình thức đánh bắt trái quy đinh của pháp luật gây tổn hại đến sự phát triển bền vững của các loài thuỷ sản cũng như môi trường sống của chúng. Bên cạnh đó là rác thải từ các khu dân cư, sự xả thải của các nhà máy xí nghiệp. Tất cả những hoạt động trên của con người đã làm ô nhiễm biển, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự tồn tại và phát triển của các loài hải sản dẫn tới nguy cơ bị cạn kiệt và thậm chí là tuyệt chủng đối với một số loài.

Nghệ An là tỉnh ven biển có nghề cá phát triển nhanh nhất khu vực Bắc Trung bộ, nhu cầu và khai thác thuỷ sản của người dân rất lớn nhưng trình độ khai thác của ngư dân còn hạn chế. Các phương pháp khai thác xâm hại đến nguồn lợi thuỷ sản được ngư dân sử dụng như ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ hơn cho phép; sử dụng chất nổ, xung điện, hoá chất… Đặc biệt nghề lưới Kéo kích thước mắt lưới nhỏ khai thác gần bờ rất nhiều, các loài hải sản chưa đến độ tuổi khai thác chiếm tỷ lệ cao trong một mẻ lưới; các nghề lưới Vó, Xăm, Vây… và đặc biệt là nghề Te Xúc. Chất nổ và xung điện được dùng để khai thác thường xuyên trên các vùng biển. Với thực trạng như vậy thì nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi và suy thoái môi trường là điều tất yếu xảy ra.

Tại phường Nghi Thuỷ - Thị xã Cửa Lò, sự tồn tại và phát triển của nghề lưới “cào bay” đang phá huỷ nghiêm trọng nguồn lợi thuỷ sản ven bờ và gần bờ. Với sức huỷ diệt lớn, nghề lưới cào bay có thể khai thác tất cả các nhóm nguồn lợi hải sản trong vùng nước có độ sâu dưới 40 m (từ đáy lên tầng mặt), dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi.

Tại xã Diễn Ngọc - Huyện Diễn Châu, ngư dân sử dụng tràn lan loại “rọ lồng” là lưới đánh bắt hải sản có xuất xứ từ Trung Quốc trong nhiều năm gần đây để khai thác nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là thuỷ sản kích cỡ nhỏ. Đây là loại lưới đánh bắt có tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản đang bị nghiêm cấm sử dụng tuy nhiên tại Diễn Ngọc, mỗi ngư dân có hàng trăm rọ lồng nối với nhau thành hệ thống giăng khắp bờ biển. Sau khi giăng bẫy, ngư dân còn dùng bè mảng chạy ven bờ khuấy đảo nước lên để cá tôm, cua nhỏ hoảng loạn chui vào lồng.

Không chỉ là các ngư cụ có mắt lưới nhỏ, ngư dân còn sử dụng các hình thức kích điện, nổ mìn để đánh bắt hải sản dẫn tới tận diệt các loài thuỷ sản và huỷ hoại cả môi trường sống của chúng. Tại phường Nghi Hải - Cửa Hội, tình trạng dùng mìn để đánh bắt hải sản diễn ra thường xuyên trên biển. Mỗi chiếc thuyền công suất nhỏ từ 10 - 15 CV dùng để đánh bắt hải sản đều mang theo mìn, được chia thành 3 - 4 lần nổ, mỗi quả mìn nặng 0,2 kg. (4)

Rác thải làm ô nhiễm môi trường biển cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của các loài thuỷ sản. Rác và nước thải được xả khắp nơi trên biển khiến nhiều bãi biển vắng khách do bẩn và bốc mùi hôi thối ví dụ như bãi biển Diễn Thành của huyện Diễn Châu. Nguồn nước còn bị ô nhiễm khiến các loài thuỷ sản không thể sinh sống được, nhiều loài bỏ đi tìm môi trường sống mới, nhiều loài chết trôi dạt vào bờ, bởi vậy, những hậu quả nghiêm trọng khác liên quan tới đời sông của người dân cũng như suy giảm kinh tế đối với tỉnh nhà là điều tất yếu xảy ra.

Thực tế cho thấy, nguồn lợi thuỷ sản khu vực gần bờ trên vùng biển của tỉnh đang giảm dần, cả về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt được. Tỷ lệ cá tạp trong một mẻ lưới tăng tới 65%, hải sản có giá trị cao trở nên khan hiếm. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần thiết phải có các biện pháp tăng cường nhằm hạn chế các hành vi gây hại đối với sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên quý giá này.

  1. Tình hình khai thác thuỷ sản Nghệ An

Trong những năm gần đây, tổng sản lượng thuỷ sản của Nghệ An không ngừng tăng, chủ yếu nhờ sự tăng lên của sản lượng thuỷ sản khai thác đặc biệt là các năm 2012, 2013 và 2014, tăng lần lượt 19%, 40% và 52% so với sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2010. Tổng số tàu cá và số công suất của các tàu từ 90 CV trở lên cũng tăng lên nhanh chóng qua các năm. Năm 2012 tổng số công suất của tàu từ 90 CV trở lên tăng 89% so với năm 2010. Tương tự năm 2013 tăng 151% và năm 2014 tăng 230% so với tổng số công suất của tàu cá từ 90 CV trở lên của năm 2010.

Sản lượng thuỷ sản cũng như số lượng tàu cá của tỉnh tăng mạnh là dấu hiệu tốt cho thấy nhu cầu của người dân và khả năng khai thác thuỷ sản rất cao của địa phương. Hoạt động khai thác thuỷ sản xa bờ ngày càng mở rộng do số lượng tàu có công suất từ 90 CV trở lên được đầu tư ngày càng nhiều. Tuy nhiên, những số liệu trên cũng cho thấy một tình trạng đáng báo động của nguồn lợi thuỷ sản đang bị suy giảm nhanh trong những năm qua. Khi so sánh sự chênh lệch về sự tăng lên của sản lượng thuỷ sản khai thác và sự tăng lên của tổng số công suất các tàu có công suất từ 90 CV trở lên trong cùng các năm có thể thấy mức tăng số công suất của các tàu cá rất cao (năm 2014 tăng 230% tổng số công suất tàu cá so với năm 2010) tuy nhiên sản lượng thuỷ sản khai thác được lại có mức tăng thấp hơn nhiều so với tiềm lực đầu tư công suất tàu cá (năm 2014 tăng 52% so với sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2010).  Đặc biệt tổng số công suất của tàu cá từ 90 CV trở lên của năm 2015 tăng 26% so với năm 2014 tuy nhiên sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2015 chỉ tăng 0,8% so với năm 2014. Chính sự chênh lệch trên đã cho thấy nguồn lợi thuỷ sản đang ngày càng cạn kiệt và cần thiết phải có các hành động kịp thời để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản phát triển một cách bền vững, đáp ứng không chỉ nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu của các thế hệ tương lai.

BẢNG THỐNG KÊ TỔNG SẢN LƯỢNG THUỶ SẢN NGHỆ AN

TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

TẤN/NĂM

2010

2011

2012

2013

2014

2015

TỔNG SẢN LƯỢNG

THUỶ SẢN KHAI THÁC

64.268

66.533

76.262

90.069

97.608

98.367

TỔNG SẢN LƯỢNG

THUỶ SẢN NUÔI TRỒNG

34.053

39.281

40.257

40.719

45.067

44.674

TỔNG SẢN LƯỢNG THUỶ SẢN

98.321

105.814

116.519

130.788

142.674

143.041

 

CHIẾC/ NGHÌN CV

2010

2012

2013

2014

2015

TỔNG SỐ TÀU KHAI THÁC

795

932

1097

1260

1287

TỔNG SỐ CÔNG SUẤT TÀU KHAI THÁC

103,4

196,2

260,3

342

431,3

 BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG VÀ TỔNG CÔNG SUẤT CỦA TÀU KHAI THÁC THUỶ SẢN CÓ CÔNG SUẤT TỪ 90CV TRỞ LÊN

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

  1. Bổ sung lực lượng thanh tra, kiểm tra trên biển nhằm ngăn ngừa và xử phạt nghiêm các hoạt động khai thác thuỷ sản trái quy định của pháp luật như khai thác trái phép, sai nội dung trong giấy phép đăng ký, sử dụng ngư cụ mang tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản như kích điện, mìn, ngư cụ có mắt lưới nhỏ hơn kích thước cho phép, các tàu thuyền khai thác trái luồng, tuyến, mùa vụ theo quy định.
  2. Hỗ trợ ngư dân sửa chữa, đóng mới tàu thuyền có công suất cao (từ 90 CV) trở lên để tham gia khai thác thuỷ sản xa bờ. Đồng thời, hỗ trợ các gia đình chuyển đổi sinh kế giảm thiểu áp lực kinh tế để hạn chế các hoạt động đánh bắt hải sản ven bờ bằng các phương pháp có tính huỷ diệt các loài thuỷ sản và môi trường sống của chúng.
  3. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tới mọi người dân. Quy hoạch và bảo vệ các vùng cư trú của các loài thuỷ sản đặc biệt là các bãi sinh sản, vùng đa dạng sinh học, vùng cấm khai thác cũng như bổ sung nguồn giống một số loài có giá trị kinh tế khoa học vào một số thuỷ vực tự nhiên. Đồng thời tiến hành các hoạt động điều tra, khảo sát để đưa ra được quy hoạch phát triển cho tài nguyên sinh vật trong các vùng nước của Nghệ An.
  4. Đầu tư áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ để quản lý hoạt động khai thác của các tàu cá trên biển bằng vệ tinh cũng như khuyến khích phát triển mô hình đồng quản lý nghề cá với sự tham gia của cộng đồng để nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tốt hơn nơi tất cả mọi người dân.

Chú thích:

(1) Nguyễn Đức Sĩ (Chủ biên), Giáo trình địa lý kinh tế nghề cá, Nxb. ĐH Nha Trang, 2014, Tr. 101 - 102.

(2) Dữ liệu cơ bản về môi trường đầu tư tỉnh Nghệ An, niêm giám thống kê 2014

(3) Trần Hữu Tiến, Phát triển bền vững kinh tế thuỷ sản, http://www.baomoi.com/phat-trien-ben-vung-kinh-te-thuy-san/c/19022270.epi, truy cập ngày 1/8/2017

(4) Vương Trần, Nghệ An: Báo động tình trạng sử dụng xung điện mìn đánh bắt thuỷ hải sản, http://www.thuysanvietnam.com.vn/nghe-an-bao-dong-tinh-trang-su-dung-xung-dien-min-danh-bat-thuy-hai-san-article-8716.tsvn, truy cập ngày 25/7/2017

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Văn hóa và những giá trị văn hóa Việt Nam (16/11/2020)
Quốc học Vinh - Mô hình giáo dục Pháp - Việt tiêu biểu, một trung tâm tri thức lớn ở Trung kỳ (11/11/2020)
Hội nhập quốc tế lĩnh vực khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An trong giai đoạn phát triển mới (11/11/2020)
Văn hóa và chức năng của văn hóa (11/11/2020)
Tìm hiểu nguồn lợi thủy sản tại Nghệ An và một số đề xuất kiến nghị (22/10/2020)
Đặc sắc in vẽ trên vải Ấn Độ (22/10/2020)
Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT (14/10/2020)
“Khi chuyển được phẩm chất nổi trội của từng cá nhân thành cái tốt của cả hệ thống mới phát huy được tinh thần khai sáng và Nghệ An mới phát triển bứt phá được” (17/9/2020)
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030 (29/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch (6/7/2020)
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò (6/7/2020)
Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách (6/7/2020)
Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo (12/6/2020)
Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An (11/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 457 | Tất cả: 2,593,173
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp