NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT
Tin đăng ngày: 14/10/2020 - Xem: 39
 

Thanh Trần

Mở đầu

Dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề, thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các phương tiện truyền thông, và đặc biệt là dư luận xã hội. Dẫu thế nhưng môn Ngữ văn đã và đang mất dần vị thế vốn có của nó. Tình trạng học sinh không còn hứng thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến, chất lượng học tập giảm sút cũng đã không còn là vấn đề mới chỉ hôm qua. Trong khi đó, Ngữ văn là môn không chỉ quan trọng trong trường học, trong các kỳ thi tốt nghiệp, cao đẳng, đại học mà còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, đạo đức làm người. Và giáo viên đóng vai trò quan trọng, thổi lên ngọn lửa nuôi dưỡng lòng đam mê học tập, khát khao khám phá của học sinh. Muốn vậy, “Người thầy là ngọn nến, đốt cháy mình”.

Nhưng trên thực tế giảng dạy vì nhiều lý do, giáo viên chúng ta vẫn hay bỏ qua hoặc “làm cho có” việc tạo hứng thú học tập cho học sinh. Điều đó làm cho học sinh thấy học tập môn Ngữ văn là không còn hấp dẫn, lôi cuốn và giờ dạy học văn không đạt hiệu quả cao. Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực, phương pháp, kinh nghiệm và nhiệt huyết, chịu khó thay đổi.

  1. Nội dung

2.1. Cơ sở của việc tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Nghiên cứu về hứng thú, các nhà tâm lý học cho rằng, đây là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động. Nó được biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn bởi nội dung hoạt động. Mặt khác, hứng thú bao giờ cũng dẫn đến một đối tượng cụ thể hấp dẫn, nó gắn liền với tình cảm con người. Trong bất cứ một công việc gì, nếu có hứng thú làm việc, con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động có sáng tạo. Ngược lại, nếu hứng thú không được thỏa mãn sẽ dẫn đến cảm xúc tiêu cực.

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục, tạo hứng thú cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và của từng giáo viên nói riêng. Văn học dễ làm say mê người học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học. Người học văn cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, bố cục, vần điệu… khi có được sự hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc. Cái khó của người dạy văn là làm thế nào truyền được cảm xúc của tác giả đến với người học. Trong nhà trường phổ thông, đối tượng học sinh do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thích tìm hiểu và sáng tạo nhưng chưa có phương pháp đúng để cảm thụ văn học, chưa hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, chưa có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tác giả… Chính những thiếu sót trên, học sinh thường không thích học và đọc văn. Nhiệm vụ của giáo viên dạy văn là phải tạo sự hứng thú, phải khiến cho những từ ngữ khô khan biết nhảy múa, biết vẽ ra những khung cảnh lúc yên bình, lúc dữ dội; phải đưa vào tâm hồn các em những tình cảm yêu, ghét, nhớ nhung, mơ mộng; phải mở ra những cánh cửa từ lâu được khóa chặt bằng sinh hoạt đời thường.

Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng, việc lấy học sinh làm trung tâm, thúc đẩy tư duy học sinh, mở cho các em hướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc, những khó khăn trong việc tìm hiểu phân tích, thì người giáo viên không còn giảng giải một cách say sưa khi không có phản hồi từ học sinh, các em được làm quen với những câu hỏi gợi mở, những gợi ý cho một đề tài thảo luận, các em có quyền nêu những nhận xét, những cảm nhận cá nhân về đề tài, về nhân vật, về tác giả… Từ những cảm nhận đôi khi chưa chính xác, gây tranh cãi góp phần rất lớn trong việc điều chỉnh nhận thức, gây hứng thú cho các em và văn học không xa lạ, không “đóng khung trong tháp ngà” mà thật sự gần gũi biết bao…

2.2. Thực trạng của việc tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Qua thực tế giảng dạy Ngữ văn, chúng tôi thấy rằng: Một là, đa số học sinh chủ yếu học các môn học tự nhiên và được kiểm tra đánh giá dưới nhiều hình thức trắc nghiệm, tư duy số học, mà tư duy logic còn hạn chế, lập luận thiếu chặt chẽ, thậm chí thiếu vắng cảm xúc, thiếu kỹ năng tạo lập văn bản. Đặc biệt, học sinh đang mất dần hứng thú đối với môn học được xem là môn học giáo dục nhân cách con người, môn học làm người! Sẽ không quá khó để chúng ta có thể bắt gặp một hoặc vài em học sinh ngủ gật trong giờ văn; cũng không mấy ngạc nhiên khi nhìn thấy học sinh đem những môn khác ra học lén lút trong giờ văn; càng không khỏi xót xa khi cái cảnh thầy dạy thì cứ dạy, trò ghi ghi chép chép thì cứ ghi ghi chép chép mà tâm hồn thì cứ “treo ngược cành cây”, để tâm nơi những quán “Game Internet”, một tay ghi bài một tay lướt facebook… vẫn diễn ra trong tiết học không chỉ ngày một ngày hai… Hai là, việc học của học sinh chủ yếu là đối phó. Kiến thức thực tế về văn học của các em còn nghèo nàn, phương pháp học tập còn lúng túng. Do đó, kiến thức văn học các em không nhớ được; kiến thức tiếng Việt các em dùng từ ngữ trong giao tiếp thiếu chính xác. Ba là, đa số giáo viên vẫn còn làm việc quá nhiều, trong một tiết dạy đưa ra khá nhiều thông tin. Điều này dễ đưa các em vào thế bị động ghi nhớ, không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Từ đó dẫn đến sau này đứng trước nhiều vấn đề mới các em bỡ ngỡ, bị động, lúng túng và không có đủ khả năng, bản lĩnh để giải quyết. Một số tiết dạy vẫn còn rập khuôn, máy móc, nó biến giờ học thiếu sự phóng khoáng, trở nên nhạt nhẽo, làm tê liệt sự hào hứng của học sinh. Rồi giáo viên chỉ dùng một phương pháp dạy chủ yếu là thuyết trình, không có sự linh hoạt trong việc kết hợp các phương pháp. Bên cạnh đó là việc sử dụng các giáo án mẫu, thiết kế bài giảng một cách máy móc làm mất đi sự cảm thụ sáng tạo riêng của cá nhân. Bốn là, các cơ sở về chương trình và sách giáo khoa cũng như thực tế dạy và học của nhiều giáo viên - học sinh ở trường THPT nói chung, trên cơ sở tham khảo tài liệu và rút kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy của bản thân, trong 15 năm công tác, chúng tôi đã thực hiện và không ngừng học hỏi, nâng cao việc tạo hứng thú học tập cho học sinh để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Ngữ văn.

Nguyên nhân của thực trạng nói trên có thể có nhiều. Trong đó theo chúng tôi có mấy nguyên nhân chính sau đây:

Một, từ phía học sinh: Thói quen viết lách của học sinh không hoặc ít được trau dồi, rèn luyện. Học sinh không có hứng thú với môn văn, thậm chí xem môn học này là một môn dễ dàng “chém gió” (theo ngôn ngữ của học sinh), không cần học vẫn có thể làm bài được. Một số khác thậm chí còn cho rằng môn văn chẳng áp dụng được gì trong thực tế cả. Học sinh hiện nay có xu hướng thiên về học các môn tự nhiên, xem nhẹ các môn xã hội, trong đó có môn Ngữ văn. Do xu thế của thời đại và định hướng nghề nghiệp trong tương lai của học sinh. Vốn sống, vốn văn hóa của học sinh còn quá ít ỏi. Việc kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh được thực hiện chủ yếu dưới hình thức trắc nghiệm, tư duy số học; cho nên dần dần khả năng lập luận, kỹ năng tạo lập văn bản, cũng như tư duy logic ở học sinh cũng trở nên hạn chế.

Hai, từ phía giáo viên, việc chấm, trả bài cho học sinh chưa thực sự đạt hiệu quả và phát huy tác dụng. Giáo viên chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi giờ văn.

Dựa trên cơ sở tổng hợp các nguyên nhân được tìm hiểu từ phía học sinh, cũng như qua chia sẻ và trao đổi với đồng nghiệp, cùng với ý tưởng khi muốn thực hiện đề tài này, chúng tôi đề ra một số giải pháp khắc phục thực trạng trên thông qua việc dạy học môn Ngữ văn nói chung, qua việc tạo hứng thú học tập cho học sinh nói riêng, để từng bước nâng cao chất lượng bộ môn, đồng thời góp phần phát triển năng lực của học sinh.

2.3. Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Xác định rõ tư thế, tâm thế và bản lĩnh sư phạm của người giáo viên trước mỗi giờ lên lớp

Giáo viên là người thắp lên trong mình ngọn lửa của nhiệt huyết và đam mê với nghề. Vì vậy, giáo viên không có tư thế, tâm thế tốt trước và trong tiết dạy của mình, hay nói cách khác là không có hứng thú dạy học, thì làm sao có thể đòi hỏi ở học trò hứng thú học tập. Con người không ai có thể tránh được những cảm xúc vui, buồn, hờn giận, yêu thương, ghét bỏ, lại là giáo viên dạy văn (thường là những người giàu cảm xúc và suy tư), nhưng đã là người mang trên vai trách nhiệm giáo dục không chỉ một thế hệ thì mỗi giáo viên chúng ta cần phải biết tiết chế bản thân mình mỗi giờ lên lớp.

Ngoài tư thế và tâm thế tốt, người giáo viên cần một bản lĩnh sư phạm, bản lĩnh ấy được thể hiện qua trình độ chuyên môn, qua năng lực sư phạm, và khả năng thấu hiểu tâm lý học trò. Muốn có được điều này, bản thân giáo viên một mặt phải thường xuyên trau dồi và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về phương pháp sư phạm. Với mỗi bài học, với mỗi vấn đề, với mỗi đơn vị kiến thức, người giáo viên cần nắm chắc và làm chủ kiến thức của mình. Trước các vấn đề nào đó thuộc về chuyên môn trong tiết dạy của mình, nếu giáo viên có được bản lĩnh thì sẽ khơi gợi được hứng thú học tập nơi học sinh, kích thích được sức sáng tạo dồi dào của các em. Ngược lại, nếu giáo viên tỏ ra lúng túng thì rất dễ dẫn đến tâm lý hoặc là hoài nghi hoặc là chán nản từ phía học sinh, làm cho học sinh mất dần hứng thú với môn học. Bản thân giáo viên không có “lửa” thì làm sao truyền được “lửa” đến cho học sinh?

Mặt khác phải thể hiện được năng lực của giáo viên qua cách thiết kế giáo án; qua cách lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học, qua sự tinh tế và nhạy bén trước bất cứ một tình huống sư phạm nào có thể xảy ra trong quá trình dạy học; qua khả năng truyền cảm xúc, tạo hứng thú học tập nơi học sinh. Chuẩn bị một giáo án tốt, khoa học; sử dụng các phương pháp dạy học thích hợp với từng đối tượng học sinh, phát huy được tính chủ động sáng tạo nơi các em, truyền được cảm xúc đến các em, xử lý tốt các vấn đề nảy sinh trong tiết học… chắc chắn ít nhiều sẽ tạo được hứng thú học tập của các em. Ngược lại, nếu giáo viên chuẩn bị giáo án không tốt, thiết kế bài dạy không khoa học, thậm chí sử dụng giáo án của người khác, giáo án trên mạng mà chưa có sự thay đổi cho thích hợp với đối tượng học sinh của mình; áp dụng các phương pháp hoặc là không phù hợp hoặc là cũ kĩ không sáng tạo; lúng túng, thiếu tự tin, không thoát ly được giáo án… thì việc học sinh không có hứng thú với môn học cũng là điều dễ hiểu.

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải có khả năng thấu hiểu tâm lý học sinh: Muốn học sinh thích thú, có hứng thú không chỉ với môn học mà còn với cả người dạy môn học ấy, thì chúng ta phải biết các em thích cái gì, cần cái gì. Không quá khó để chúng ta tìm hiểu những sở thích của học sinh, những điều mà các em cần ở giáo viên của mình. Một giáo viên gần gũi, chân tình trong giảng dạy, trong cuộc sống, trong mối quan hệ với học sinh, sẽ khiến các em tin tưởng và hứng thú với những gì ta nói cho các em nghe (trong đó có môn học mình phụ trách). Ông bà ta đã nói: “Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”. Trong trận chiến đấu tranh với sự ù lì của học sinh (cho phép tôi được dùng cách nói này thay cho việc học sinh không có hứng thú học tập), giáo viên chúng ta sẽ không chiến thắng nếu chúng ta không thấu hiểu tâm lý ấy. Trong thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy học sinh có một sở thích đó là dùng từ, dùng câu theo một phong trào nào đó, như: “Chém gió”, “thả thính ”, “Vãi l”,  hay cách chúng viết tiếng Việt, kiểu như: “Chụy k thjk iêm sơn màu đó đâu, sơn màu hường ẹp hơn nhjù” (Chị không thích em sơn màu đó đâu, sơn màu hồng đẹp hơn nhiều) chúng tôi đã tìm hiểu vì sao học sinh sử dụng như thế và với mục đích gì, sau đó trong một số trường hợp cụ thể, chúng tôi cũng sử dụng trong giao tiếp với học sinh. Không ngờ học sinh có những phản ứng thích thú: hóa ra cô cũng biết những từ đó, những “trò” đó. Để rồi chính trong những trường hợp ấy, chúng tôi kết hợp với việc giáo dục học sinh: có nên hay không nên sử dụng như thế, sử dụng lúc nào, khi nào, vì “Lời nói là gương mặt thứ hai của con người” (Theo Ernst G. Bauer - một nhà vật lý người Mỹ gốc Đức).

Thay đổi các phương pháp dạy học

Để dần tạo được hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên cần lựa chọn những phương pháp thích hợp và chúng ta cần phải làm mới phương pháp cho mỗi hoạt động trong tiến trình dạy học.

Thứ nhất, giáo viên cần phải đa dạng trong cách thức ở hoạt động khởi động/ hoạt động trải nghiệm/ xác định từ khóa. Đây là hoạt động mở đầu và là một khâu nhỏ trong tiến trình dạy học nhưng giữ vai trò rất quan trọng trong việc huy động kiến thức, kĩ năng đã có, đặc biệt là tạo tâm thế, hứng thú... để tiếp nhận kiến thức, kĩ năng mới. Từ đó sẽ phát huy thực sự được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Vì vậy, trước khi dẫn vào bài mới, giáo viên có thể bắt đầu một tiết học văn bằng các cách sau:

Thể hiện “tài lẻ” của mình, thường là sự thay đổi về giọng nói vùng miền, thể hiện một ca khúc liên quan đến nội dung bài học, ngâm một đoạn thơ trong bài, hay đơn giản chỉ là thay đổi một chút về ngoại hình và trang phục lên lớp kết hợp với đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ trả lời hay yêu cầu học sinh chia sẻ tài năng của mình (lồng tiếng, kể chuyện, hát, ngâm thơ, vẽ tranh, làm MC,…).

Sử dụng các phương tiện dạy học và đặt câu hỏi, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ với cách thức, thời gian cụ thể. Các phương tiện dạy học (hình ảnh, âm nhạc, vi deo phim tài liệu, phim văn học,…) và câu hỏi cho học sinh trả lời cần phải hướng vào nội dung bài học.

Tổ chức trò chơi bổ ích: câu đố văn học, kể chuyện, giai thoại về nhà văn… Riêng, những tiết trả bài vốn được gọi là khô khan và khó nuốt đối với giáo viên, chúng tôi thường tạo ra một sân chơi, thi đua giữa các đội trong lớp học. Giáo viên đọc mở bài, kết bài viết hay hoặc dở và yêu cầu học sinh thi nhau đoán điểm bài thi, đồng thời phải giải thích vì sao đoán như vậy.

Thứ hai, Kiểm tra - đánh giá là hoạt động cuối cùng của các hoạt động dạy và học. Việc phân loại học sinh để từ đó có hướng bồi dưỡng cho từng đối tượng học sinh, là một việc làm vô cùng quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng phương pháp và hiệu quả của việc kiểm tra đánh giá. Một câu hỏi khó đến với một học sinh yếu - kém, một câu hỏi dễ đến với một học sinh khá - giỏi, sẽ tạo cho các em tâm lý chán nản, hoặc là xấu hổ, tự ti; hoặc là ỷ lại, tự mãn. Chính vì thế, khi ra đề thi để kiểm tra - đánh giá học sinh, chúng tôi thường để tâm đến việc đảm bảo cho học sinh có thể làm được bài ở từng mức độ khác nhau, từ dễ đến khó, từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng thấp, vận dụng cao.

Đặc biệt, trong việc chấm và trả bài kiểm tra cho học sinh, chúng tôi thực hiện theo đúng quy trình khoa học, nghiêm túc và khách quan. Trong hoạt động chấm bài cho học sinh, tôi rất chú trọng đến việc đánh giá bằng lời phê. Lời phê của giáo viên, nhất là ở môn Ngữ văn, có một vai trò hết sức quan trọng. Đối với riêng tôi, phê như thế nào là cả một nghệ thuật! Nội dung lời phê, và đặc biệt là cách phê của giáo viên có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của các em học sinh. Tác động ấy có khi chỉ là tức thời, nhưng cũng có khi sẽ là mãi mãi, thậm chí nó có thể đi theo và làm thay đổi một cuộc đời! Không cầu kì, không bóng gió, lời phê cần ngắn gọn nhưng có những nhận xét đầy đủ về nội dung, hình thức bài làm, cần có những chỉ dẫn cụ thể kèm theo. Lời phê cũng cần thể hiện sự chân thành, trân trọng những kết quả của các em, dù là nhỏ nhất, để động viên, khích lệ các em, gieo vào lòng các em một niềm tin về khả năng học văn của mình. Ví dụ như: “Em cần rèn luyện thêm về chữ viết và chính tả”, “Em cần chú ý hơn trong cách trình bày và sử dụng từ ngữ”, “Cô đã thấy được sự tiến bộ trong cách diễn đạt của em ở bài viết này”… Với những lời nhận xét ấy, các em nếu có buồn nhưng cũng không chán nản. Chúng tôi thiết nghĩ, đó cũng là một cách tạo hứng thú cho môn học, một cách giáo dục học sinh! Giáo viên cần đặc biệt tránh ghi những lời phê chung chung, những lời phê không giấu được những bức xúc của mình. Ví dụ như: “Tài liệu!”, “Tạm được”, “Cẩu thả”, “Có biết viết văn không?”, “Vớ vẩn”, “Quá lười, quá nhác”… Học sinh khi nhận được bài hoàn toàn mơ hồ về khả năng làm văn của mình, lâu dần sẽ hình thành tâm lý chấp nhận và tự bằng lòng với mình. Đó là một điều hết sức nguy hiểm! Bởi ý nghĩa giáo dục trước hết là ở lời phê chứ không phải ở điểm số.

Khi thực hiện hoạt động trả bài cho học sinh, điều chúng tôi quan tâm nhất là làm sao để tạo được hứng thú cho các em đối với môn học. Ngoài việc áp dụng một số ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy như phần mềm Power Point, những hiệu ứng động kèm theo âm thanh sau mỗi câu trả lời đúng hoặc sai của học sinh, chúng tôi còn giúp học sinh nhận ra và nắm được tình hình bài làm của mình, của các bạn trong lớp, của các bạn lớp khác. Những nhận xét, đánh giá của giáo viên về bài làm của học sinh chỉ thực sự có cơ sở và có sức thuyết phục khi chúng ta làm tốt điều này trong khâu trả bài. Chúng tôi đã sử dụng các bảng tổng hợp như: Bảng thống kê và so sánh điểm số cho các lớp trong cùng một bài viết; Bảng thống kê và so sánh điểm số của lớp qua các bài viết lên màn hình để học sinh quan sát và tự biết mình phải làm gì ở những bài viết tiếp theo.

Đặc biệt, để tạo hứng thú cho học sinh trong tiết trả bài, tôi còn trình chiếu trực tiếp bài làm của học sinh trên máy tính kèm những nhận xét khá hài hước, ví dụ như: học sinh viết sai chính tả vì không phân biệt được âm “l” và âm “n”, chúng tôi trình chiếu bài làm của học sinh, sau đó tôi khoanh tròn lỗi sai, đưa ra lời nhận xét nhảy nhót trên màn hình “Thế lày là thế lào?”, học sinh lập tức hiểu bài viết của mình có vấn đề gì… Một tiếng cười có thể là sảng khoái, có thể là ngượng nghịu nhưng chúng tôi nghĩ, có lẽ cũng đủ để học sinh của mình không thể quên tiết trả bài ngày hôm ấy. Để rồi “mưa dầm thấm lâu”, tôi tin rằng môn văn sẽ lấy lại được vị thế vốn có của nó.

2.3.3. Tạo những sân chơi bổ ích sau những giờ học căng thẳng

Không khí dạy - học cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo hứng thú học tập nơi học sinh. Làm thế nào để học sinh không ngủ gật, không lơ đễnh, không làm việc riêng, không lướt facebook, không lén lút học các môn học khác... trong giờ văn? Thay đổi không khí bằng cách tạo nên những sân chơi bổ ích cũng là một giải pháp thông minh và hiệu quả. Một trong những hình thức mà chúng tôi thường tổ chức để tạo nên sân chơi cho các em sau những giờ học căng thẳng, đó là xem video tiểu phẩm, phim văn học, phim tư liệu,… Hình thức này không những giúp các em thư giãn, giải trí, mà còn giúp các em có cơ hội rèn luyện ngôn ngữ, làm giàu vốn sống, ghi nhớ và khắc sâu hơn nội dung bài học, nội dung tác phẩm. Sau khi dạy những bài học về ngôn ngữ như: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”, “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, “Đặc điểm loại hình Tiếng Việt”, các bài học về phong cách ngôn ngữ (SGK Ngữ văn 10, 11, 12), tôi cho các em xem các tiểu phẩm của chương trình “Trong sáng cùng Tiếng Việt” trên kênh truyền hình HTV7 - Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, mà ở đó có những câu chuyện về việc sử dụng Tiếng Việt: Sử dụng dấu câu, sử dụng tiếng lóng, cách phát âm, cách phân biệt từ - tiếng - cụm từ, ngôn ngữ thời hiện đại, chữ Quốc ngữ có từ bao giờ,…. Cuối mỗi tiểu phẩm đều có ý kiến đánh giá của các chuyên gia về lĩnh vực ngôn ngữ. Để rồi từ những câu chuyện ấy, học sinh rút ra cho mình bài học về cách nghĩ, cách sống, nhất là cách sử dụng tiếng mẹ đẻ cho đúng, cho hay, góp phần làm giàu và đẹp cho ngôn ngữ nước nhà.

Hay như khi dạy các tác phẩm văn học, sau quá trình đọc - hiểu văn bản, chúng ta cho các em xem những bộ phim được chuyển thể từ các tác phẩm ấy, mà bộ phim “Vợ chồng A Phủ” của đạo diễn Mai Lộc sản xuất năm 1961, được chính tay nhà văn Tô Hoài biên kịch, là một ví dụ. Học sinh của tôi thực sự hứng thú khi được trực tiếp “mục sở thị” (nhìn thấy tận mắt) hình ảnh người Mông, hình ảnh những chiếc váy hoa, hình ảnh hoa ban của mùa xuân núi rừng Tây Bắc, hình ảnh cô Mị “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”… là như thế nào, để rồi các em có những so sánh với chính sự tưởng tượng của mình khi chỉ được đọc tác phẩm một cách đơn thuần. Nhưng hiệu quả của việc làm này làm tôi bất ngờ hơn cả, đó là việc học sinh nhận xét về bộ phim trong sự đối sánh với nguyên mẫu tác phẩm. Các em thật sự rất tinh tế khi phát hiện “một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” trong căn buồng Mị nằm, đã không được thể hiện trong bộ phim. Các em bảo ô cửa sổ trong bộ phim “to” hơn nhiều! Và tôi chắc chắn một điều rằng, chi tiết này sẽ không bị học sinh bỏ sót khi làm bài viết về tác phẩm cũng như về cuộc đời cô Mị.

Một sân chơi khác cũng không kém phần thú vị nếu không muốn nói là thật sự bổ ích, đó là tổ chức các giờ, các buổi ngoại khóa - chuyên đề với quy mô lớn, nhỏ tùy mục đích. Trong các buổi ngoại khóa ấy, giáo viên kết hợp với nhau và kết hợp với học sinh tổ chức các phần thi như: “Kiến thức văn học”, “Cảm thụ văn học”, “Đọc thơ vẽ tranh”, “Hóa thân nhân vật”, “Văn nghệ”,… Học sinh thật sự hứng thú khi các em được thể hiện mình trên sân khấu, trước thầy cô, trước các bạn đồng trang lứa, những năng lực của mình: năng lực tư duy, năng lực cảm thụ tác phẩm, năng lực hội họa, diễn xuất, múa - hát…

Trong việc tổ chức những hoạt động trên, giáo viên đã góp phần nâng cao vốn sống, vốn văn hóa cho học sinh qua mỗi bài học, mỗi câu chuyện trong các tác phẩm văn học cũng như trong thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, giáo viên cần đồng hành cùng học sinh từ khâu lên kế hoạch, tập luyện, đến khi diễn ra sự kiện, nếu có thể, chúng ta hãy tham gia vào một số tiết mục của các em. Học sinh từ đó sẽ có cảm nhận các em được tôn trọng, được tin tưởng, sẽ trở nên tự tin hơn vào khả năng của mình. Đó cũng là cơ hội để giáo viên chúng ta gần hơn với học sinh, hiểu học sinh hơn, và yêu nghề hơn.

  1. Kết luận

Phải nói một điều rằng, kết quả của việc tạo hứng thú học tập cho học sinh THPT qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn, đôi khi không được thể hiện chính xác bằng số liệu. Bởi ít nhiều vấn đề này vẫn thuộc về phạm trù tâm lý, tình cảm, sự hứng khởi. Chỉ cần học sinh từ việc không nhớ được chi tiết tác phẩm đến việc có thể tóm tắt được văn bản tác phẩm; chỉ cần học sinh từ việc không mấy mặn mà với môn học đến việc có thể giơ tay phát biểu xây dựng bài, đối với chúng tôi, đó đã là một thành công! Chưa làm cho học sinh giỏi văn hơn nhưng cũng đã làm cho chúng hứng thú hơn, yêu cô, yêu văn hơn. Điều đó không chỉ tạo hứng thú học tập nơi học sinh mà còn tạo hứng thú dạy học nơi giáo viên, chúng ta sẽ cảm thấy yêu nghề hơn, nỗ lực và cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp trồng người.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2001), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006, 2007, 2008), Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn lớp 10, 11, 12 (cơ bản và nâng cao), NXB Giáo dục, Hà Nội.
  3. Kỷ yếu “Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam”, NXB Đại học Sư phạm - 2012.
  4. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (2005), Phương pháp dạy học Văn, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua mỗi tiết dạy học Ngữ văn ở trường THPT (14/10/2020)
“Khi chuyển được phẩm chất nổi trội của từng cá nhân thành cái tốt của cả hệ thống mới phát huy được tinh thần khai sáng và Nghệ An mới phát triển bứt phá được” (17/9/2020)
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030 (29/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch (6/7/2020)
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò (6/7/2020)
Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách (6/7/2020)
Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo (12/6/2020)
Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An (11/6/2020)
Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (31/5/2020)
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,968 | Tất cả: 2,528,231
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp