KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống
Tin đăng ngày: 7/8/2020 - Xem: 75
 

       Hồ Thủy

Các nền văn hóa trên thế giới rất phong phú và đa dạng. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng nhưng tựa chung lại khoa học đã thừa nhận trên thế giới hình thành hai loại hình văn hóa chính: Văn hóa gốc nông nghiệp và Văn hóa gốc du mục.

Văn hóa gốc nông nghiệp tồn tại chủ yếu ở phương Đông, văn hóa gốc du mục tồn tại ở phương Tây. Sự khác biệt của hai loại hình văn hóa gốc xuất phát từ sự khác biệt về môi trường sống. Môi trường sống của cư dân phương Đông là xứ nóng, mưa nhiều, bên cạnh những con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú. Còn phương Tây là xứ lạnh, khí hậu khô, không thích hợp cho động vật sinh trưởng, có chăng chỉ là những vùng đồng cỏ mênh mông.

Việt Nam là nước thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Người Việt nam từ xưa tới nay sống dựa nhiều vào thiên nhiên, chan hòa cùng cây cỏ tự nhiên, sống cùng với ruộng đồng gò bãi để tiến hành sản xuất nông nghiệp. Có phải vì thế mà ở người Việt Nam cứ mong muốn điều gì là nói "lạy trời", "nhờ trời", "ơn trời": 

"Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp”

Hay:

"Ơn trời mưa nắng phải thì,

Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu”...

 (ca dao)

Từ vốn sống của mình, từ lối sống hòa mình vào thiên nhiên cây cỏ mà người Việt đã tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về mối quan hệ giữa các hiện tượng thiên nhiên và các hoạt động nông nghiệp: Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa; Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa (tục ngữ); Mồng tám tháng tám không mưa, bỏ cả cày bừa mà nhổ lúa đi... (ca dao).

Upload

Việt Nam được xem là chủ nhân của nền nông nghiệp lúa nước

Là chủ nhân của nền văn minh lúa nước, người Việt Nam lấy nông nghiệp làm trọng. Tục ngữ Việt nam có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Những di cốt trâu, bò nhà, tìm thấy trong cùng một di tích văn hóa Đông Sơn, hình bò khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ từ thời Hùng Vương người dân đã biết sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong nông nghiệp. Đã có một thời, nhắc đến nông nghiệp VN người ta thường nói đến lối sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chậm chạp, nhỏ lẻ với hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Ngày nay, nông nghiệp Việt Nam đã có bước chuyển mình với những máy móc hiện đại tiên tiến được nhập từ các nước phương tây. Hình ảnh con trâu trở thành một hình ảnh đẹp, gắn bó gần gũi với văn hóa nông nghiệp Việt. Ca dao có câu:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

Trong sản xuất nông nghiệp, nông cụ là phương tiện không thể thiếu của người nông dân. Ở giai đoạn đầu, Văn hóa Phùng Nguyên, công cụ bằng đá còn chiếm ưu thế, nền kinh tế còn mang tính chất nguyên thuỷ. Sang đến giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và nhất là Đông Sơn, nhiều loại hình công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổng, xẻng, lưỡi rìu, v.v. Mỗi loại hình công cụ sản xuất cũng có các kiểu dáng khác nhau. Trong khoảng 200 chiếc lưỡi cày bằng đồng mà các nhà khảo cổ học đã tìm được có tới 4 kiểu dáng, đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao. Lưỡi cày cánh bầu dục, hình thoi được phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Lưỡi cày hình thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mã. Lưỡi cày hình xẻng vai ngang phân bố ở vùng làng Vạc, Nghệ An.

Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc hình tam giác, cuốc có vai, cuốc chữ U, cuốc hình quạt, v.v.

Rìu có rìu chữ nhật, rìu tứ diện lưỡi xoè, rìu hình lưỡi xéo, hình bàn chân, rìu lưỡi lệch.

Ngoài ra còn có lưỡi liềm đồng và các công cụ lao động bằng sắt khác.

Sự tiến bộ của công cụ sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đạt đến một trình độ khá cao. Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành, nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước chiếm địa vị chủ đạo, phổ biến rộng rãi khắp lãnh thổ từ trung du đến đồng bằng, ven biển.

Bên cạnh nông cụ sản xuất thì thủy lợi đóng vai trò quan trọng và là yếu tố chính của nền nông nghiệp lúa nước, trong đó ruộng bậc thang là sơ khởi của thủy lợi lúa nước. Yếu tố nước trong việc trồng lúa nước là điều kiện bắt buộc để hình thành nên nền nông nghiệp lúa nước. Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ.

Upload

Từ xưa người dân Việt Nam đã chú trọng các nghề thủ công truyền thống

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông

Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủ công được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành quy mô gia đình. Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề. Và bởi những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng...

Upload

Đánh rậm trước đây cũng được xem như là một nghề kiếm sống của người nông dân Việt Nam

Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam. Làng nghề thường mang tính tập tục truyền thống đặc sắc, đặc trưng, không chỉ có tính chất kinh tế mà còn bao gồm cả tính văn hóa, đặc điểm du lịch tại Việt Nam.

Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng châu thổ sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định ... Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thổ miền Trung và miền Nam.

Cùng với thời gian, nhiều làng nghề truyền thống đã biến mất. Hiện nay, các con số thống kê cho thấy, Việt Nam còn có gần 2.000 làng nghề thuộc các nhóm nghề chính như: sơn mài, gốm sứ,vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá...

KHXHNV & Đời sống khác:
“Xô viết Nghệ Tĩnh mãi mãi là niềm tự hào và kiêu hãnh, tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho Nghệ An hội nhập và phát triển” (11/9/2020)
Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 - Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam (1/9/2020)
Cách mạng tháng Tám 1945 - Giá trị lan tỏa lịch sử và hiện nay (1/9/2020)
Nhân kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) Vai trò to lớn của Bác Hồ trong Cách mạng tháng Tám (1/9/2020)
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống (7/8/2020)
Văn hóa nhà ở của người Việt (5/8/2020)
Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (29/7/2020)
10 tài năng trẻ KH&CN nhận giải Quả cầu vàng (29/7/2020)
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX (29/7/2020)
Lịch sử, ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 (22/7/2020)
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 2,847 | Tất cả: 2,476,128
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp