DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Nhận diện giá trị văn hóa cốt lõi của làng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 207
 

PGS.TS Nguyễn Đức Chiện

Đặt vấn đề

Nhiều công trình nghiên cứu trước về làng Việt truyền thống đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của làng là một đơn vị kinh tế khép kín, chính trị mang tính tự trị - tự quản, văn hóa thể hiện tính cộng đồng (Nguyễn Văn Huyên, 1939; Trần Từ, 1984; Trần Ngọc Thêm, 1999; Ngô Đức Thịnh, 2001; Phan Ngọc, 2004). Có thể nói, tính cộng đồng là một giá trị văn hóa cốt lõi, quan trọng tạo nên bản sắc cộng đồng làng Việt ở miền Bắc. Khi đề cập đến tính cộng đồng trong văn hóa làng, các học giả nghiên cứu văn hóa thường trình bày với một nội dung khá rộng, bao gồm nhiều khía cạnh sinh hoạt khác nhau của đời sống, từ quan hệ trong gia đình, họ tộc, cho đến các mối quan hệ ngoài xóm làng như sự kiện lễ hội. Trong các mối quan hệ xã hội này, cá nhân, nhóm đã tham gia và ứng xử trong các sinh hoạt ở cộng đồng làng xã. Tìm hiểu về bản sắc làng Việt, nhất là đối với các làng Việt cổ truyền, chúng tôi nhận thấy, tính cộng đồng chính là giá trị văn hóa cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu tính cộng đồng của văn hóa làng Việt qua hoạt động lễ hội truyền thống ở làng. 

Thực tế, trong xã hội của làng Việt trước đây đã tồn tại vô số các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Người ta gọi các lễ hội là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là có cơ sở khách quan của nó. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam trước đây, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng vốn mang nhiều chức năng quan trọng, sự ghi ơn các tiền nhân có nhiều công đức; kỷ niệm và nhắc nhở về sự thay đổi thời tiết theo nông lịch; rồi vô vàn các nhu cầu khác nữa như cầu tài, cầu lộc, cầu an, v.v… Có thể nói, hình thức sinh hoạt văn hóa đó đều nhằm đề cao một hoặc một số giá trị xã hội và nhân sinh nào đó, song nhìn chung thì hướng tới việc tái khẳng định và thắt chặt hơn nữa các mối quan hệ cộng đồng của các thành viên tham dự.

Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, khi bàn về chức năng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà ông gọi là các lễ - tết - hội, đã viết: “Một ngày giỗ tổ họ (nhóm họ tộc) hoặc giỗ gia tiên (nhóm gia đình), các thành viên của nhóm hội tụ, biểu hiện giá trị của đối tượng bằng sự cử lễ, ấy là trong cùng một lúc họ biểu hiện giá trị của cái nhóm mà họ sở thuộc và là phần tử cấu thành. Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định, những rạn nứt, đố kỵ có khi cả những hận thù, diễn ra trong quan hệ hàng ngày được lắng dịu một phần, cũng có khi được xóa bỏ. Cũng là như thế về căn bản đối với các lễ kỷ niệm: khao vọng, ngày sinh, lễ tang, lễ cưới, lễ tiễn đưa, v.v… Ở đây, đằng sau và bên trong cái linh thiêng, huyền bí vốn bao phủ mọi lễ hội trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, người ta thấy lễ hội có tính cứu cánh trần tục của nó. Bởi thế, người ta đã có thể qui cho các cuộc lễ chức năng xã hội đầu tiên là: Biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng và tái xác định những mối liên hệ đã gắn bó các nhóm lại với nhau” (Đoàn Văn Chúc, 1997:133).

Nói về các hình thức sinh hoạt văn hóa này, các nhà nghiên cứu thường phân chia thành hai phần: lễ và hội. Lễ là việc cúng tế, cúng bái các đối tượng được cử lễ với các nghi thức đã được định sẵn từ trước, còn hội là việc vui vẻ gặp nhau sau một thời gian xa cách (Nguyễn Lân, 2002:325 và 404). Đánh giá tác động của hai phần lễ và hội đối với việc nuôi dưỡng, củng cố các mối quan hệ cộng đồng, Đoàn Văn Chúc cho rằng nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy (như tế lễ, cầu xin…), thì sự biểu hiện giá trị của đối tượng nhận lễ chỉ dừng lại ở hiệu quả ý tưởng tính, không hiện thực. Nhưng nhờ có phần hội, mà cụ thể là nhờ có những cuộc ăn uống, vui chơi của các thành viên trong tình thân thiện mênh mông, chan hòa mà sự “tái xác định lực cố kết trong lòng nhóm” mới trở thành toàn vẹn, hiện thực. Ông còn nói, cứ như thế, hàng tháng hay hàng năm (các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng) lặp đi lặp lại không mệt mỏi, làm cho đời sống của cư dân trong xã hội nông nghiệp, vốn đầy những nhí nhách và khó khăn gặm nhấm, mới trở thành bình thường, khả thể (Đoàn Văn Chúc, 1997: 133-134).

Đặt vấn đề trên bình diện hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói, nếu như các nền tảng thuộc hạ tầng cơ sở như chế độ ruộng công, nghề trồng lúa nước hay các phương thức tổ chức và quản lý đã góp phần làm hình thành nên tính cộng đồng của làng Việt, thì việc thường xuyên củng cố và tái chuẩn nhận thuộc tính chung ấy lại là các nhân tố thuộc thượng tầng kiến trúc, mà tiêu biểu ở đây là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Giống như trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức và liên kết xã hội, các dạng thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt cũng luôn biến đổi và có những bước thăng trầm của chúng. Nếu như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các hoạt động này không chỉ diễn ra thường xuyên mà các nghi thức, thủ tục của chúng cũng rất phiền hà và tốn kém, thì từ sau năm 1945, nhất là ở thời kỳ hợp tác xã bao cấp, một số hình thức bị loại bỏ, số còn lại cũng được thu gọn và đơn giản hóa đi rất nhiều. Nhưng từ ngày Đổi mới (1986), các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền lại đang được phục hồi mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nơi làng xã.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là, bên cạnh sự nghiệp Đổi mới mà nội dung cơ bản là việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, thì sự phục hưng các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền còn chịu thêm một lực tác động nữa - đó là tiến trình toàn cầu hóa. Vậy, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, giá trị văn hóa cộng đồng ở làng Việt đang diễn ra như thế nào? Chúng có tiếp thu thêm những yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại hay không? Nếu có thì điều đó có ảnh hưởng gì đến các mối quan hệ cộng đồng và bản sắc làng Việt?

Động thái của tính cộng đồng trong sinh hoạt lễ hội ở làng Việt trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa

Vào bất cứ một làng Việt cổ truyền nào ở miền Bắc, chúng ta đều có thể bắt gặp mái đình, ngôi chùa, tiếp nữa là nghè, đền, am, miếu, rồi nhà từ đường/nhà thờ họ, cây hương, văn chỉ, v.v… Mỗi thiết chế văn hóa tâm linh ấy đều có các hình thức cúng lễ hoặc hội hè riêng với mục đích tăng cường sự thống nhất của các thành viên trong nhóm và cộng đồng làng. Tiêu biểu nhất cho các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền ấy là lễ hội đình để cúng tế thành hoàng, vị thần bảo trợ của làng.

Sự biến đổi về nghi thức trong lễ hội làng qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Đối với người Việt, nhất là cư dân ở nông thôn trong các làng ở miền Bắc, lễ hội làng là điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của họ. Ngày vào đám hay vào hội, ngoài các dòng họ, các phe giáp, thì hầu như nhà nào cũng làm cỗ, trước là tế lễ để tỏ lòng thành kính đối với vị thành hoàng, sau là họp mặt cháu con để ăn uống. Nói về lễ hội làng, ông Nguyễn Văn Huyên, trong công trình Văn minh Việt Nam, đã viết: “Sự thờ cúng đã được lưu truyền từ nhiều thế kỷ (…). Những sức sống đó góp phần tạo cho việc thờ cúng này cái khung cốt vững chắc hơn khung cốt của một tôn giáo bình thường. Tục thờ thành hoàng đã trở thành một lực cố kết, trong tổ chức của làng xã, hệ trọng và vững vàng đến nỗi nó có thể chống chọi thắng lợi với mọi toan tính qui định của Nhà nước” (Nguyễn Văn Huyên, 2005:161). Và, cứ lặp đi lặp lại như thế hàng năm, các lễ hội làng đã góp phần củng cố và tái chuẩn nhận tính cộng đồng của người Việt nơi làng xã.

Nhưng lễ hội làng cũng đã trải qua những bước thăng trầm không tránh khỏi. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là trong thời kỳ hợp tác xã bao cấp, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền, trong đó có lễ hội làng, cứ mỗi ngày lại thưa vắng dần trong các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng của làng Việt. Một phần, đó là do sự tàn phá của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Song, mặt khác cũng là do quan niệm tả khuynh, ấu trĩ của một thời đã qua. Lúc bấy giờ người ta cho rằng tất cả những di tích lịch sử như đình chùa, đền, miếu, nhà từ đường, cũng như các lễ nghi thờ cúng, lễ hội, hay việc giỗ tổ họ, v.v… đều là những tàn dư của xã hội thực dân và phong kiến, vì vậy, cần phải xóa bỏ.

Theo các thông tin phỏng vấn sâu hồi cố trong một nghiên cứu của (Trần Nhật Hoàng, 2017) tại một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng cho thấy thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám ở Liên Đàm có ngôi đền rất lớn, nổi tiếng trong vùng xứ Kinh Bắc, trong ngôi đình chùa này có nhiều tượng phật quý hiếm. Tuy nhiên, những di tích quan trọng này đã bị người dân và chính quyền bỏ đi vào những năm tiến hành cải cách ruộng đất. Cũng theo thông tin phỏng vấn sâu một người dân trong làng Liên Đàm cho biết, “năm 1947 ngôi Đền bị phá, năm 1971 phá chùa, phá đình, cũng trong thời gian này v.v...”. Cũng trong hoàn cảnh tương tự như Liên Đàm, Quỳnh Đôi là một làng Việt ở Bắc Trung bộ có lịch sử lâu đời, theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho biết làng Quỳnh Đôi có lịch sử hơn 600 năm, nhiều di tích lịch sử như đình, chùa, đền, miếu, nhà từ đường đã được người dân dựng lên để trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng. Trong số các di tích còn lại và đang được khôi phục hiện nay là đình, đền, miếu và từ đường. Mặc dù, các di tích này có từ lâu nhưng nó cũng bị lãng quên trong nhiều thập kỷ qua và hiện nay đang từng bước được khôi phục trở lại (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Tuy nhiên, từ ngày Đổi mới (1986), nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (thường gọi là khoán 10), với việc công nhận hộ gia đình nông dân là đơn vị tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và giao khoán ruộng đất lâu dài cho họ thì tình hình đã thay đổi rất căn bản. Đầu những năm 1990, trong một công trình nghiên cứu về cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi ở hai làng Sơn Dương và Hoài Thị ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, nhà nhân học Lương Văn Hy đã rút ra những nhận xét rất sâu sắc. Ông viết: “Tôi cho rằng ở cả Sơn Dương và Hoài Thị trong những năm 80, cải cách kinh tế đã có hai ảnh hưởng quan trọng đến tập tục lễ nghi của hai địa phương trên. Trước hết, thặng dư kinh tế ngày càng tăng và sự chuyển dịch khỏi nông nghiệp tập thể hóa tiến đến sản xuất hộ gia đình trong một nền kinh tế nhiều thành phần đã tăng cường mạnh mẽ các lễ nghi bên trong cũng như bên ngoài dòng họ. Lễ nghi và hệ thống tiệc tùng qua lại đã tăng cường quan hệ xã hội trong một cộng đồng nông nghiệp luôn bị những đe dọa tự nhiên đối với cuộc sống và càng ít có trợ giúp của nhà nước” (Lương Văn Hy, 1994: 437-438). Cho đến những năm 2000, nhà nghiên cứu văn hóa học Lê Hồng Lý, trong khi nghiên cứu về làng Cổ Mễ (thuộc Bắc Ninh) và tín ngưỡng bà Chúa Kho, cũng cho rằng khi kinh tế trở nên ổn định và ngày càng giàu có hơn, người dân đã tích cực phục hồi lễ nghi, lễ hội, các di tích, cũng như các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nói chung (Dẫn theo Nguyễn Thị Phương Châm, 2010: 493).

Cũng như vậy, từ ngày Đổi mới (1986) đến nay, các bằng chứng của hai cuộc nghiên cứu cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi đã và đang có sự phục hưng các tập tục và lễ nghi cổ truyền một cách rất mạnh mẽ. Trong gia đình, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên, ngoài ngày giỗ gia tiên thì các ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) đều khói hương nghi ngút. Trong các dòng họ, người ta xây lại mộ tổ, trùng tu hay xây mới các từ đường, lập lại gia phả và chắp nối lại các quan hệ dòng họ đã phiêu tán nhiều nơi. Thực tế này được phản ánh rất rõ trong các phỏng vấn sâu người dân ở hai làng,  “Họ tộc Nguyễn Thời là một dòng họ lớn không chỉ trong làng mà còn được xem là một dòng họ lớn ở xứ Kinh Bắc này. Nếu tính đến nay dòng họ này đã có lịch sử khoảng hơn 600 năm. Dòng họ có từ đường, văn bia, hoành phi câu đối, tộc phả, và nhiều hiện vật cổ kinh có giá trị. Sau nhiều thập kỷ nhà thờ bị bỏ hoang đã được khôi phục gần đây” (Nam, 61 tuổi, làng Liên Đàm, Yên Thường, Gia lâm, Hà Nội).

Ra đến làng xã, một sự kiện đáng quan tâm nữa là việc tu bổ, xây mới các đình chùa, đền miếu, sưu tầm và dịch lại các thần tích, thần phả, sắc phong, v.v…

Khi tiến hành tìm hiểu riêng về ngôi chùa và lễ hội của hai làng khảo sát cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi mặc dù cùng trong hoàn cảnh bị lãng quên nhiều thập kỷ nhưng mức độ và thời điểm khôi phục diễn ra khác nhau. Ở Liên Đàm, các cơ sở vật chất của đình chùa, đến, miếu đã bị phá bỏ đi hoàn toàn. Thông tin phỏng vấn sâu một nam giới cao niên đã tham gia làm cán bộ trong làng nhiều năm cho biết: vào năm 1995, địa phương xây dựng nhà văn hóa, và cũng năm đó chính quyền và người dân bắt đầu khôi phục lại lễ hội truyền thống của làng. Ngày lễ hội truyền thống của làng hiện nay được tổ chức vào dịp đầu năm (trong hai ngày 19 và 20 tháng 3 âm lịch). Mặc dù lễ hội làng được khôi phục trước đó một thập kỷ, nhưng phải đến năm 2006 - 2007, bằng nguồn kinh phí địa phương và đóng góp của người dân trong làng, Liên Đàm mới có điều kiện khôi phục lại ngôi chùa. Ngôi chùa được dựng lại thì một không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng cũng được tái tổ chức trở lại. Hiện nay, trong chùa có một thầy chủ trì, trông coi, làng cũng thành lập ra ban chấp hành chùa gồm 5 ông bà trong ban chấp hành hội người cao tuổi; ban khánh tiết gồm có 8 phụ nữ trong hội người cao tuổi có trách nhiệm tham gia quét dọn và tổ chức các nghi lễ ngày lễ tết, ngày rằm, mồng một. Nghiên cứu ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng cho thấy ngôi chùa đã bị phá hủy và đến nay vẫn chưa được khôi phục, tuy nhiên, đình làng vẫn còn giữ nguyên hình dáng và hàng năm được sửa chữa, từ năm 2012 được sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, địa phương đã khôi phục lại lễ hội truyền thống Kỳ Phúc. Nghiên cứu cho thấy một điều đáng quan tâm là khi những cơ sở đình, chùa được sửa chữa khôi phục thì các sinh hoạt mang tính văn hóa cộng đồng cũng được tái hồi sinh tạo làm cho sự kết dính trong cộng đồng phát triển trở lại.

Mối liên kết cộng đồng trong sự kiện lễ hội làng Việt

Nhìn chung, kết quả khảo sát thực địa tại hai làng cho thấy tâm trạng người dân rất ủng hộ việc trùng tu di tích và khôi phục lễ hội truyền thống của làng. Mỗi dịp làng tổ chức các sự kiện liên quan đến các hoạt động này thì người dân rất quan tâm. Chẳng hạn, tổ chức lễ hội, người dân đã tham gia vào tất cả các hình thức tham gia như: đóng góp tiền, cung tiến hiện vật, đóng góp công sức lao động, tham gia tổ chức rước lễ, v.v… Khi xử lý số liệu khảo sát cho thấy người dân tại hai làng cho biết đều tham gia vào tất cả các hoạt động của lễ hội, trong đó nhiều người tham gia vào nhiều hoạt động của lễ hội. Hoạt động tham gia đóng góp tiền chiếm tỷ lệ cao nhất 78%, tham gia rước lễ 27%, tham gia đóng góp công sức 12,3%, ý kiến, cung tiến hiện vật 8,4% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Như vậy, kết quả cho thấy người dân ở hai làng đều tham gia vào hoạt động của lễ hội. Tuy nhiên, lựa chọn tham gia vào các hoạt động trong lễ hội là khác nhau. Sự tham gia này của cá nhân bị quy định bởi những điều kiện, hoàn cảnh cũng như sở thích cá nhân. Điều quan trọng là những con số về sự tham gia lễ hội của người dân ở hai làng phần nào cho chúng ta thấy lễ hội vẫn là sự kiện gắn kết các cá nhân trong làng.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa người dân hai làng trong việc tham gia vào các hoạt động lễ hội. Chẳng hạn, hình thức tham gia đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, trong khi có đến 95,4% người trong mẫu khảo sát ở Liên Đàm cho biết có đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 4,6%. Tương tự ở hình thức cung tiến hiện vật và đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, Liên Đàm đều có số lượng người tham gia đông hơn (Cung tiến hiện vật, có đến 90,5% người trong mẫu ở Liên Đàm tham gia cung tiến hiện vật, trong khi tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 9,5%. Về hoạt động đóng góp công sức, trong khi có đến 66,3% người ở Liên Đàm cho biết đã tham gia đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh đôi là 33,7%). Tuy nhiên, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ và hình thức chỉ đi dự lễ hội thì Quỳnh Đôi lại có tỷ lệ cao hơn. Chẳng hạn, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ, trong khi có đến 72,8% những người trong mẫu khảo sát ở Quỳnh Đôi cho biết chỉ tham gia rước lễ khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Liên Đàm là 27,2% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Các số liệu vừa phân tích cho thấy cách ứng xử của người dân hai làng là rất khác nhau. Người dân ở Liên Đàm có xu hướng đóng góp những giá trị vật chất, kinh tế mỗi khi làng mở hội, trong khi người dân Quỳnh Đôi lại hướng đến lễ hội với việc đóng góp những giá trị công sức.

Khảo sát cũng cho thấy một biểu hiện mới trong lễ hội hiện nay là dấu hiệu của tính thương mại hóa trong lễ hội, người dân phải tham gia đóng góp về tài chính, kinh tế cho tổ chức lễ hội, điều này được thể hiện khá rõ trong việc tổ chức lễ hội hàng năm ở Liên Đàm. Kết quả phỏng vấn sâu hồi cố cho thấy, xưa kia, việc tham gia lễ hội của làng là một sự kiện quan trọng hàng năm của mỗi người. Vào những ngày lễ hội, không chỉ những người có chức trách đứng ra tổ chức mà tất cả các thành viên của làng không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, không chỉ những người đang sống trong làng mà cả những người đi làm ăn xa - tất cả đều mong muốn được tham dự. Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh sự náo nức muốn tham dự lễ hội làng, thì ở nhiều nơi, người ta nâng khoản đóng góp cho lễ hội làng khá nặng, làm cho không ít người phải lo ngại. Để hiểu được tình cảm thực sự của người dân trong tham gia lễ hội làng ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi, chúng tôi đã phỏng vấn sâu ý kiến người dân: “Hiện nay, nếu tổ chức lễ hội phải có tiền, mỗi khi địa phương tổ chức lễ hội phải huy động nhân dân tham gia đóng góp. Năm ngoái ở làng này tổ chức lễ hội mỗi khẩu phải đóng 100.000đ, gia đình tôi có 4 người phải đóng 400.000đ, cộng với ủng hộ 100.000đ, tổng cộng gia đình đã đóng cho địa phương 500.000đ. Mức đóng góp này cũng có gia đình sẵn sàng tham gia đóng góp cho tổ chức lễ hội, cũng có gia đình nghèo thì việc đóng góp này rất khó khăn và họ không muốn tổ chức lễ hội. Nhưng không có tiền thì không làm được lễ hội vì muốn chương trình văn nghệ hay phải thuê đoàn văn công về biểu diễn, các trò chơi của lễ hội như bóng chuyền, cầu lông, chọi gà, thả chim cũng phải có kinh phí mời người ta ở các nơi về thi đấu mới hay”  (Nam, 37 tuổi, mức sống trung bình, Liên Đàm, Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội).

“Năm ngoái địa phương có làm lễ hội, cũng mời đoàn múa rối nước Trung ương về biểu diễn, chương trình ca nhạc và nhiều trò chơi khác, nhưng gia đình tôi không phải tham gia đóng góp chỉ đi xem, địa phương có nhà tài trợ” (Nữ, 41 tuổi, mức sống trung bình, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An).  

Để khai thác sâu hơn hành vi của người dân ở hai làng khi tham gia lễ hội truyền thống của làng hàng năm, chúng tôi đã tìm hiểu đánh giá của người dân về hội làng có ý nghĩa nào đối với mỗi người dân?  Kết quả cho thấy phần lớn (73,2%) người trong mẫu phỏng vấn cho rằng lễ hội làng là dịp người dân bày tỏ lòng biết ơn, 69,7% ý kiến cho rằng dịp khẳng định danh tiếng của làng, 64,5% ý kiến cho rằng dịp vui chơi giải trí, 8,4% ý kiến cho rằng dịp cầu tài, cầu lộc (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có khác biệt giữa hai làng ở tất cả các hình thức trả lời. Chẳng hạn, ở phương án trả lời “lễ hội có ý nghĩa để thành viên trong làng gắn bó nhau”, có đến hơn một nửa (58,3%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi trả lời có ý nghĩa thành viên trong làng gắn bó nhau, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm chưa được một nửa (41,7%). Tương tự, ở phương án “lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng”, có đến hai phần ba (70,2%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi cho rằng lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm là 29,8% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

 Thay lời kết

Công cuộc Đổi mới ở nước ta, các phong tục cổ truyền, trong đó có  hình thức sinh hoạt lễ hội thể hiện giá trị cốt lõi của văn hóa cộng đồng nơi làng xã đang có sự phục hưng rất mạnh mẽ. Nếu như ở thời bao cấp (từ năm 1986 trở về trước) hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội cổ truyền phần nào đã bị chìm lấp đi đằng sau các hoạt động của hợp tác xã và các đoàn thể xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, thì ngày nay, cùng với việc khôi phục lại chức trưởng thôn cũng như xác nhận quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh của các hộ gia đình nông dân, hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội trong cộng đồng làng xã cũng được trả lại theo dòng chảy tự nhiên và bình thường của chúng.

Nhưng vấn đề đặt ra không chỉ là sự cởi mở trong chính sách Đổi mới của nhà nước, sự phục hưng mạnh mẽ của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt hiện nay, theo chúng tôi, cũng còn có cơ sở khách quan của nó là nền kinh tế tiểu nông. Phải nói rằng từ khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu cũ bị giải thể, ruộng đất được giao khoán lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, thì về thực chất, ở nông thôn Việt Nam, trong đó có hai làng Liên Đàm và Quỳnh Đôi, đã tái lập trở lại nền kinh tế tiểu nông tư hữu. Mà kinh tế tiểu nông tư hữu, như đã nói, chính là một trong những cơ sở/nguồn gốc hình thành nên tính cộng đồng làng xã.

Tuy nhiên, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, sinh hoạt văn hóa lễ hội cộng đồng ở làng Việt thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ cũng có những đổi thay nhất định. Điều này được thể hiện ở một số điểm như sau:

Sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua lễ hội hiện nay đều được thực hiện rất ngắn gọn (chỉ diễn ra trong một ngày), sau đó mọi công việc sản xuất và sinh hoạt lại được tiếp tục bình thường, không vì các lễ thức này mà làm đình đốn các công việc khác.

Sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, như đã nêu, đã diễn ra theo hai xu hướng: một mặt không ngại tiếp thu các yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại (như trang phục, đồ ăn thức uống, cách thức và các phương tiện giao tiếp…), song cũng sẵn sàng tước bỏ đi những nghi tiết rườm rà, rối rắm.

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, trong việc phục hưng hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền cũng đang làm nảy sinh một số hủ tục mới, mà nổi bật hơn cả là xu hướng thương mại hóa. Trong các lễ hội làng thì ngoài việc đóng góp không nhỏ của cư dân, cũng có hiện tượng thu tiền quá mức đối với khách thập phương từ xa tới khi họ muốn thăm viếng danh lam hoặc tham gia vào một thứ trò chơi nào đó. Tất cả những điều đó làm cho không ít người có cảm giác dường như việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng mất dần đi các sắc thái khởi nguyên vốn có của nó.

Đến đây, vấn đề được đặt ra từ đầu vẫn rất cần được nhắc lại: đó là cần đánh giá như thế nào về sự phục hưng và biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta? Chúng tôi cho rằng, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là một sản phẩm thuộc thượng tầng kiến trúc của đời sống kinh tế - xã hội nơi làng Việt, vì vậy khi hạ tầng cơ sở của nó đã thay đổi (ở đây là tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường) thì tất yếu các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền này cũng phải biến đổi theo. Trong quá trình biến đổi đó, việc tiếp thu thêm các yếu tố và giá trị mới, đồng thời gạt bỏ đi những gì đã lạc hậu, lỗi thời cũng là lẽ đương nhiên. Còn những hiện tượng mới nảy sinh như xu hướng thương mại hóa trong lễ hội, thì theo thiển nghĩ của chúng tôi, đó chỉ là những hiện tượng không tránh khỏi của một xã hội đang chuyển đổi.

Và, sau cùng, sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có ảnh hưởng ra sao đến bản sắc làng Việt? Chức năng quan trọng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là nhằm củng cố, thắt chặt và tái chuẩn nhận tính cộng đồng nơi làng xã. Thế mà, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động lễ hội ở nông thôn đã cho thấy: các quan hệ cộng đồng không những không mất đi, mà còn được mở rộng từ gia đình, họ hàng đến làng xã và thậm chí cả ở bên ngoài làng xã nữa. Như vậy, rõ ràng là bản sắc làng Việt không mất đi, nó chỉ đang vận động, biến đổi cho phù hợp với bối cảnh chung của đời sống kinh tế - xã hội cũng đang chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

 

Tài liệu trích dẫn

  1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Quan hải tùng thư xuất bản, Huế.
  2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Thị Phương Châm (2010), Khi làng vươn ra phố: những xu hướng biến đổi văn hóa. Trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách tiếp cận nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.
  4. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
  5. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa - Thông tin và Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội.
  6. Lương Văn Hy (1994), Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng miền Bắc Việt Nam. Trong sách Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, do Borje Ljunggren chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  7. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
  8. Phạm Côn Sơn (1999), Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
  9. Lê Trung Vũ và cộng sự (2007), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
  10. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, Hà Nội.
  11. Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, 2013, Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hóa, Nxb Khoa học Xã hội
  12. Trần Nhật Hoàng (Nguyễn Đức Chiện giáo viên hướng dẫn). 2017, Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hoạt động tổ chức lễ hội ở làng xã hiện nay, Luận văn ngành Xã hội học, Khoa Lý luận Chính trị, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Diễn đàn khác:
Phát huy dân chủ để hạn chế lạm phát danh hiệu trong xây dựng văn hóa cơ sở (20/11/2020)
Im lặng không phải là đồng ý! (16/11/2020)
Nghệ An: Cần có chính sách và hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp trong hội nhập (11/11/2020)
Doanh nghiệp Nghệ An: Năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập (11/11/2020)
Năng lượng tái tạo: Các mục tiêu hướng tới có thể làm suy yếu tính bền vững (9/11/2020)
Trách nhiệm của Đảng viên đối với Đại hội Đảng (22/10/2020)
Vấn đề thu nhập và việc làm cho người già ở nông thôn (2/10/2020)
"Đại hội tỉnh Đảng bộ Nghệ An khóa XIX diễn ra trong bối cảnh đặc biệt, do đó, có sứ mệnh đặc biệt"(*) (10/9/2020)
Nhận diện giá trị văn hóa cốt lõi của làng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa (29/7/2020)
Làng trong tâm thức của người cao tuổi (29/7/2020)
Gìn giữ phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (29/7/2020)
Biến đổi làng nghề truyền thống trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An (29/7/2020)
Khu Di tích quốc gia đặc biệt km 0 - đường Hồ Chí Minh cần được tu bổ, tôn tạo (29/7/2020)
Phát triển cây con chủ lực ở Nghệ An - Những vấn đề cần trao đổi (29/7/2020)
Thời đại kỹ thuật số: Khoa học xã hội sẽ trao cho học sinh những cơ hội gì? (22/7/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
Để có Truyện Kiều gần nhất với nguyên tác của Nguyễn Du
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,000 | Tất cả: 2,593,716
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp