DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Gìn giữ phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 28
 

PGS.TS Đào Khang

Tóm tắt

“Lệ làng” bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… được thể hiện trong hương ước của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng nông thôn mới (NTM). Thế nhưng 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động lại không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến “lệ làng”; và ở Nghệ An, rất ít làng còn giữ được hương ước.

Việc điều chỉnh bộ tiêu chí là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, nếu có hương ước, trong đó có lồng ghép các tiêu chí xây dựng NTM thì việc thực hiện (của người dân trong làng xã) sẽ thuận lợi và công tác đánh giá kết quả xây dựng NTM (của chính quyền) sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.

Bài viết trình bày khái quát vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, trong quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn và đề xuất xây dựng hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM ở Nghệ An.

  1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

Từ thực tế đó, Chính phủ Việt Nam đã có cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (NTM) với mục tiêu “kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao”.

Cuộc vận động được toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, nhiều bộ, ban ngành trong cả nước triển khai thực hiện quyết liệt:

Ngày 5/8/2008 Chính phủ Việt Nam xây dựng “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”(1).

Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020”(2).

Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020”(3).

Ngày 27-29/5/2020 Hội nghị toàn quốc hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới năm 2020 được tổ chức tại tỉnh Quảng Trị(4) và tại nhiều địa phương khác, thời điểm khác.

Sau 10 năm triển khai, công cuộc xây dựng NTM đã “đạt và vượt các mục tiêu đề ra trước gần 2 năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”(5)(Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận, thứ ba, 12/5/2020 8:57’(GMT+7).

Ở Nghệ An, công tác xây dựng NTM thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; được cả hệ thống chính trị đồng lòng, chung sức thực hiện. Kết quả 10 năm xây dựng NTM, Nghệ An đã tạo ra một diện mạo nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Với những bước tiến vượt bậc, Nghệ An vươn lên đứng thứ 5 trong cả nước về xây dựng NTM(6).

Một đặc điểm của bộ tiêu chí quy định đạt chuẩn NTM là chú trọng nhiều đến giá trị vật thể của kiến trúc làng - nông thôn. Còn giá trị phi vật thể, trong đó có phong tục, tục lệ,… chỉ được lồng ghép trong các tiêu chí văn hóa, giáo dục, hệ thống tổ chức chính trị và tiếp cận pháp luật,… mà không có tiêu chí riêng.

Đặc điểm đó của bộ tiêu chí dẫn đến sự hạn chế đóng góp của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM và xây dựng NTM có thể ảnh hưởng đến phong tục, tục lệ của làng ở Việt Nam nói chung, ở Nghệ An nói riêng.

Nên chăng, trong tiến trình xây dựng NTM, cần quan tâm đến tiêu chí phi vật thể như phong tục, tục lệ của làng - xã, đồng thời có biện pháp bảo tồn và phát huy vai trò của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM. Một trong những biện pháp đó là thôn bản làng xã cần có hương ước và người dân thực hiện nghiêm hương ước như ông cha ta đã từng làm.

  1. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng

Phong tục là những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.

Tục lệ là những quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội.

Phong tục, tục lệ có thể phổ biến ở cấp quốc gia hay địa phương. Có phong tục, tục lệ có ý nghĩa tích cực cần gìn giữ (mỹ tục), có phong tục, tục lệ mang tính tiêu cực cần thay đổi, xóa bỏ (hủ tục).

Có ý kiến cho rằng ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt với các phong tục, tục lệ của làng được thực hiện nghiêm đã góp phần quan trọng chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa Việt và quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn Việt Nam phát triển bền vững.

Ngày nay, trong tiến trình xây dựng NTM, phong tục, tục lệ của làng vẫn có những đóng góp nhất định. Xây dựng NTM cũng có nhiệm vụ bảo tồn, sửa đổi phong tục, tục lệ của làng cho phù hợp với pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ của cuộc vận động, đặc điểm của địa phương. Các nội dung này cần đưa vào hương ước thôn bản làng xã.

2.1. Phong tục, tục lệ của làng góp phần chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang

Thời cổ, nền văn hóa Hán ngữ của Trung Quốc từng có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ngày xưa dùng chữ A Rập, sau khi giao lưu với người Hán đã dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc, lập ra nhà Thanh đã kiên quyết đồng hóa dân tộc Hán, trong đó có việc bắt bỏ chữ Hán, chỉ dùng chữ Mãn,… Tuy nhiên, chưa đến giữa đời Thanh thì tiếng Mãn, chữ Mãn đều biến mất. Người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán. Họ bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa Hán.

Thế nhưng sau hơn ngàn năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa.

Nhiều quốc gia trên thế giới, sau khi bị các đế quốc châu Âu chiếm làm thuộc địa, đã bị đồng hóa ngôn ngữ. Thường thì sau 5 - 6 thế hệ (mỗi thế hệ khoảng 25 năm), ngôn ngữ của người bản xứ bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Các nước châu Mỹ La tinh nói tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Nhiều quốc gia châu Phi (Benin, Togo, Senegan…) nói tiếng Pháp. Hoa Kỳ, New Zeeland, Australia,… dùng tiếng Anh.

Ở Việt Nam, từ năm 1918, bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối Tiểu học. Sau đó học sinh Trung học cơ sở trở lên đến trường chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ dạy bằng tiếng Pháp… Vậy nhưng, Việt Nam chỉ nằm trong Cộng đồng Pháp ngữ mà không lấy tiếng Pháp làm quốc ngữ. Không nhiều dân tộc trên thế giới làm được điều này.

Để có được kỳ tích đó, ngoài yếu tố nhân dân ta giàu lòng yêu nước, tính tự lực tự cường và tinh thần dân tộc cao,… thì một nguyên nhân rất quan trọng là: xã hội Việt Nam từ xưa đã có cơ chế làng xã bền chặt, được quản lý không chỉ “phép vua” mà còn có cả “lệ làng” bao gồm cả phong tục, tục lệ,… của làng được ghi rõ trong hương ước.

2.2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong việc quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ (thôn/làng) của cộng đồng dân cư sinh sống chủ yếu bằng một nghề (nông). Nông thôn là địa bàn phát triển sản xuất của ngành nông nghiệp, là môi trường sống của người nông dân trong các làng.

Làng ở Việt Nam được hình thành rất sớm, từ khi mới lập nhà nước Âu Lạc, suốt thời đại Hùng Vương, các triều đại phong kiến, chế độ thực dân… cho đến tận ngày nay.

Ở nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng, người trong làng có mối quan hệ với nhau về tình là dựa theo huyết thống (một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng (bán anh em xa mua láng giềng gần); về lý là dựa vào phong tục, tục lệ - hương ước hay lưu chiếu văn (lệ làng được ghi bằng văn bản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói) quy định cách ứng xử của các thành viên trong làng.

Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý Việt Nam, “phép vua/luật nước và lệ làng/hương ước luôn là hành trang pháp lý song hành trong mọi thăng trầm của đất nước. Các vương triều Việt Nam đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật lớn (Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê, Hoàng triều luật lệ triều Nguyễn) vẫn duy trì, tôn trọng lệ làng, coi đó là công cụ điều chỉnh - duy trì quan hệ giữa quốc gia và cộng đồng làng xã.

2.3. Phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới

2.3.1. Phong tục, tục lệ của làng chưa được thể hiện đầy đủ trong bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Làng ở nông thôn Việt Nam từng được coi như một quốc gia thu nhỏ với một “luật pháp riêng”. Mỗi làng như là một “triều đình riêng” với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp,... Sự can thiệp của nhà nước phong kiến, và sau này của chế độ thực dân không làm ảnh hưởng nhiều đến tổ chức làng xã, thậm chí có khi “phép vua thua lệ làng”.

Trong cuộc vận động xây dựng NTM, phép vua chính là chủ trương/bộ tiêu chí xây dựng NTM, lệ làng bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng NTM.

Tuy nhiên, “phép vua” với 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới(7) (mỗi tiêu chí lại được các địa phương cụ thể hóa thành nhiều tiêu chí nhỏ hơn: Quảng Bình: 39; Bến Tre 49; Miền núi Nghệ An 15 tiêu chí lớn, 39 tiêu chí cụ thể(8)) và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động(9), thì không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến “lệ làng”. Vì vậy, các báo cáo kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương không thể hiện rõ vai trò/đóng góp của “lệ làng”.

Việc bổ sung, điều chỉnh bộ tiêu chí xây dựng NTM là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, có thể bổ sung một số biện pháp liên quan đến “lệ làng” nhằm thực hiện hiệu quả hơn công cuộc xây dựng NTM.

2.3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM liên quan đến phong tục, tục lệ của làng ở Nghệ An

Đối với một nước nông nghiệp, làng là gốc của đất nước. Hoạt động xây dựng NTM với bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành chủ yếu là cho các làng và thực hiện ở các làng.

Ở Nghệ An, làng ở đồng bằng, bản ở miền núi là môi trường văn hoá pháp lý để phát huy hiệu lực của bộ tiêu chí về NTM trong mối quan hệ bảo lưu các nét đặc trưng lối sống cộng đồng dân cư nông thôn của một tỉnh có nền kinh tế thiên về nông nghiệp. Phong tục, tục lệ của làng bản cần được vận dụng như là phương tiện hỗ trợ chuyển tải các tiêu chí xây dựng NTM vào cụ thể từng thôn bản làng xã. Nói cách khác, để cuộc vận động xây dựng NTM đi vào thực tiễn, các tiêu chí phải tìm cách hoá thân vào các quy định của lệ làng/hương ước, thông qua phong tục, tục lệ,… của làng bản.

Theo cố PGS Ninh Viết Giao, các hương ước ở Nghệ An (còn giữ lại được) về cơ bản đều thể hiện ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định về “tam cương, ngũ thường”, về “tôn ti trật tự” trong các quan hệ có tính thứ bậc trong làng xã.

“Thứ bậc” trong hương ước mới, về cơ cấu có thể vận dụng thành các tổ chức đoàn thể Đảng, Đoàn, kể cả Phụ lão, Thiếu niên, Nhi đồng, Nhi ấu; các hội Phụ nữ, Cựu chiến binh, Khuyến học, Hội đồng gia tộc trong các họ, Trưởng thôn ở khu vực đồng bằng; Già làng, Trưởng bản ở khu vực miền núi.

Một trong những biện pháp có thể bổ cứu, cụ thể hóa tiêu chí xây dựng NTM chung cho các địa bàn ở Nghệ An (ven biển, đồng bằng, miền núi) là hoàn thiện bộ hương ước (đối với những nơi còn giữ được hương ước của tổ tiên) hoặc xây dựng hương ước mới (đối với những nơi bị mất hương ước).

Hương ước là một phần lệ làng được văn bản hóa, phản ánh trung thực, cụ thể và sinh động những quy định mang nét đặc trưng của làng. Sự phát triển ổn định hàng ngàn năm nay của nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng không thể tách rời vai trò của hương ước và sự thực thi hương ước nghiêm minh của người xưa. Nếu xây dựng NTM có yếu tố hương ước thì hiệu quả sẽ rất cao. Ví dụ:

Trong bộ tiêu chí NTM, tiêu chí 17. Môi trường, có 2 mục nhỏ luôn có trong hương ước làng xã trước đây:

- Mục 17.3. Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường... Trong các hương ước luôn có khoản “không ai được vi phạm cây cối của làng”. Thực tế là ngày xưa không ai dám động đến cây đa hay bất cứ cái cây nào của làng (Ngày nay cây “quốc cấm” như cây sưa ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng bị chặt). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản “cấm vi phạm cây xanh của làng” thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

- Mục 17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Tiêu chí này hiện nay rất khó thực hiện ở phạm vi làng xã. Ngày trước trong hương ước có điều khoản “cấm vi phạm nguồn nước” được dân làng bản thực hiện rất nghiêm. Thậm chí phụ nữ ngày kinh nguyệt cũng tự biết mà không đến nơi có nguồn nước của làng bản (Ngày nay người dân sẵn sàng vứt cả gia súc, gia cầm chết vì dịch bệnh ra mương máng, ao hồ trong làng). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản “cấm xả các loại chất thải chưa được xử lý theo tiêu chuẩn ra môi trường” thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

Người dân nông thôn Nghệ An trước đây ít được học hành so với ngày nay nhưng thực hiện “luật nước” nghiêm hơn ngày nay vì họ đã quen với việc chấp hành các điều khoản trong hương ước. Khi người dân chưa kịp quen với “luật nước” thì trước hết nên để họ thực thi hương ước (Chưa kể nhiều bộ luật của Việt Nam còn chưa thật hoàn thiện. Từ nhiều năm nay, mỗi năm Quốc hội họp 2 kỳ, mỗi kỳ họp trên dưới 1 tháng, kỳ nào cũng có nội dung bổ sung, sửa đổi luật).

Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, rất nhiều làng còn giữ được đầy đủ hương ước của tổ tiên (như hương ước làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, Hà Nội; hương ước làng Phú Cốc (Hà Tây cũ) còn có cả bản gốc(10). Trong tác phẩm “Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc bộ nửa đầu thế kỷ XX” của Vũ Duy Mền và Trịnh Thị Hà, có tham khảo hương ước của 25 làng(11).

Ở Nghệ An hiếm làng còn giữ được hương ước xưa của tổ tiên. 

Xây dựng và/hoặc hoàn thiện hương ước là rất cần thiết. Các chi tiết trong hương ước sẽ khác xưa nhưng điều khoản thi hành thì phải nghiêm như ngày xưa. Nội dung hương ước nằm trong khuôn khổ pháp luật và mang đặc điểm riêng của mỗi bản làng.

Nếu hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM thì hiệu quả thực hiện của làng xã sẽ cao và công tác theo dõi, đánh giá, nghiệm thu của chính quyền sẽ nhanh chóng, chính xác hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là hạn chế được các hiện tượng, hành vi sai trái của người dân.

Cần lưu ý là: để hương ước được thực thi hiệu quả, cần tăng thêm trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi cho trưởng thôn.

Thời phong kiến, lý trưởng (tương đương trưởng thôn ngày nay) có quyền cấp đất (ngang quyền hạn của chủ tịch huyện ngày nay), có quyền ra lệnh trói, đánh, làm nhục người có tội (bất cứ chức vụ gì hiện nay cũng không được làm). Quyền của trưởng thôn và ban cán sự thôn ngày nay không thể như quyền của lý trưởng và hội đồng kỳ mục thời phong kiến. Nhưng nếu trưởng thôn ngày nay gần như không có quyền hạn gì thì hương ước của làng sẽ giảm hiệu lực; tác dụng của hương ước sẽ không cao.

  1. Kết luận

Ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt và toàn dân thực hiện nghiêm hương ước đã góp phần tạo nên thành tựu vĩ đại rất đáng tự hào của dân tộc ta là không bị ngoại bang đồng hóa mà hoàn cảnh nào cũng giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Sự phát triển bền vững hàng ngàn năm qua của dân tộc Việt Nam, một phần cũng nhờ vào sự quản lý lãnh thổ nông thôn bằng hương ước, phong tục, tục lệ.

Để công cuộc xây dựng NTM được thực thi thuận lợi (phía nông dân) và việc giám sát, đánh giá được nhanh chóng, chính xác (phía cơ quan quản lý), các làng bản ở Nghệ An, còn giữ được hay đã mất hương ước, cần xây dựng, hoàn thiện hương ước, công cụ hữu ích cho nhiều mục đích, trong đó có công cuộc xây dựng NTM.

 

Chú thích

  1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
  2. Cổng thông tin điện tử nước CHXHCNVN ngày 4/6/2010. Quyết định số 800/QĐ-TTg.
  3. Thư viện pháp luật 10/11/2017. Quyết định số 1760/QĐ-TTg.
  4. Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. 30/5/2020).
  5. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020 8:57’(GMT+7).
  6. Đ.A. Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.
  7. 19 tiêu chí: 1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; 2. Giao thông; 3. Thủy lợi; 4. Điện; 5. Trường học; 6. Cơ sở vật chất văn hóa; 7. Chợ nông thôn; 8. Bưu điện; 9. Nhà ở dân cư; 10. Thu nhập; 11. Hộ nghèo; 12. Cơ cấu lao động; 13. Hình thức tổ chức sản xuất; 14. Giáo dục; 15. Y tế; 16. Văn hóa; 17. Môi trường; 18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19. An ninh, trật tự xã hội.
  8. UBND tỉnh Nghệ An, Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).
  9. 8 giải pháp là: 1. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng về xây dựng nông thôn mới; 2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách; 3. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện Chương trình; 4. Cơ chế phân bổ, giám sát và theo dõi các nguồn vốn thực hiện Chương trình; 5. Cơ chế hỗ trợ; 6. Cơ chế đầu tư; 7. Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới; 8. Điều hành, quản lý Chương trình.
  10. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998 (Dẫn theo Lê Minh Thông. Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851).
  11. Vietnam Citation Gateway (V-CitationGate). Truy cập tháng 6/2020.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998,
  2. Đ.A, Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.
  3. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những tầm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội 1995.
  4. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020).
  5. Lê Minh Thông, Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851. UBND tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).
Diễn đàn khác:
Nhận diện giá trị văn hóa cốt lõi của làng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa (29/7/2020)
Làng trong tâm thức của người cao tuổi (29/7/2020)
Gìn giữ phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (29/7/2020)
Biến đổi làng nghề truyền thống trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An (29/7/2020)
Khu Di tích quốc gia đặc biệt km 0 - đường Hồ Chí Minh cần được tu bổ, tôn tạo (29/7/2020)
Phát triển cây con chủ lực ở Nghệ An - Những vấn đề cần trao đổi (29/7/2020)
Thời đại kỹ thuật số: Khoa học xã hội sẽ trao cho học sinh những cơ hội gì? (22/7/2020)
Giải pháp thúc đẩy công bố quốc tế trong KHXH&NV? (8/7/2020)
Trăn trở trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Nghệ An hiện nay (6/7/2020)
Đất nước đang cần báo chí giám sát và phản biện xã hội mạnh mẽ (6/7/2020)
Cơ cấu việc làm và những thách thức của các gia đình trẻ (26/6/2020)
Bàn tiếp việc phục hồi Văn miếu Nghệ An (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
Hiệp định EVFTA đối với nông nghiệp Nghệ An - Cơ hội song hành cùng thách thức (11/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 2,933 | Tất cả: 2,369,500
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp