DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Biến đổi làng nghề truyền thống trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 76
 

Nguyễn Hồ Lâm

Cùng với sự phát triển chung của làng nghề cả nước, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, phù hợp xu thế hội nhập kinh tế, tạo động lực mới phát triển kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân, đẩy mạnh hiệu quả phong trào xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh.

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự tồn tại và phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống là tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của đời sống và sản xuất. Thực tế phát triển các làng nghề ngày càng cho thấy những lợi thế, tiềm năng, vai trò và ý nghĩa tích cực của nó, bởi lẽ các làng nghề là nơi lưu trữ và thể hiện những nét riêng biệt của một nền văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc; góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, giảm bớt tình trạng nghèo đói cho người dân địa phương; tạo ra sự phát triển hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường; là một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự tìm hiểu và khám phá của du khách trong và ngoài nước; ở mức độ rộng hơn, góp phần khẳng định vị thế của một quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu, mà không mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc.  

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã khẳng định vị thế và vai trò của nó trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, là một trong những mục tiêu quan trọng để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống của nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong xây dựng nông thôn mới.

Upload

Làng nghề nồi đất Trù Sơn - Đô Lương

Sau 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cũng như các chủ trương, chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa,… và hơn 01 năm thực hiện chương trình OCOP “Mỗi xã một sản phẩm”. Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân trong toàn tỉnh, ngành nghề nông thôn, HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và giá trị sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 33.271 cơ sở ngành nghề nông thôn và 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia, có 164 làng nghề  được công nhận giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động, thu nhập bình quân 4 - 4,5 triệu đồng/lao động/tháng; hiện có 182 sản phẩm của 156 tổ chức, cá nhân có thế mạnh để phát triển thành các sản phẩm OCOP; Giá trị sản xuất hàng năm mang lại khoảng 2.430 tỷ đồng. Năm 2019 qua đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP toàn tỉnh có 48 sản phẩm đạt 3 sao trở lên, trong đó có 15 sản phẩm đạt 4 sao, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 45.000 lao động, với mức thu nhập bình quân 4,5-5 triệu đồng/tháng nhiều làng nghề chiếm 30% - 40% tỷ trọng giá trị sản xuất của thôn (bản), tiêu biểu như: Làng nghề Nước mắm hạ thổ Vạn phần, Hương trầm Liên Đức; Dệt thổ cẩm Châu Tiến, Làng nghề sản xuất Muối Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thuận, An Hòa; Làng nghề chế biến hải sản Ngọc Văn... Đời sống của người dân làng nghề đã được nâng lên. Qua đó, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, đến nay toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới (Thái Hòa, Thành phố Vinh, Nam Đàn, Yên Thành), có 332/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 77%; 356/431 xã đạt tiêu chí về tổ chức sản xuất chiếm 82,9%; có 318/431 xã đạt tiêu chí về hộ nghèo (chiếm 73,7%); có 395/431 xã đạt tiêu chí về lao động có việc làm (tiêu chí 12, chiếm 91,65%) góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh có 265/431 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,5%.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể cho thấy thời gian qua sự phát triển các làng nghề nói chung làng nghề truyền thống nói riêng của tỉnh Nghệ An vẫn chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế của nó, thể hiện rõ nhất là sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay. Song song với đó là tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất; hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém, tính ổn định của sản phẩm chưa cao và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Nhận thức của một số bộ phận cán bộ và nhân dân về phát triển ngành nghề nông thôn chưa toàn diện, mới thuần túy về phát triển kinh tế còn vai trò vị trí của làng nghề, làng nghề truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề nhằm giữ gìn các giá trị văn hoá, khẳng định vị thế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức, nên thiếu tính đồng bộ trong quá trình thực hiện.

Thứ hai: Hiện nay chưa có các chính sách đủ mạnh để giữ gìn và phát triển các làng nghề nhất là chính sách cho đầu tư phát triển, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân, lao động có tay nghề cao trong các làng nghề bởi: Nghệ nhân và lao động có tay nghề cao là tài sản quý của từng địa phương và của cả tỉnh mà ông cha để lại như: Tương Nam Đàn; Nhút Thanh chương; Dệt thổ cẩm; Nghề đan lát của người Khơ mú, Nghề chế biến dầu lạc Hưng Nguyên, Nghề chế biến bánh đa Đô Lương, Nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị…

Thứ ba: Việc đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra là ba vấn đề cốt lõi và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của từng cơ sở và người dân làng nghề để duy trì, phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh ta, tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn, để nông dân “ly nông nhưng không ly hương” và làm giàu trên quê hương mình, cả trong hiện tại, cũng như trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay chưa được quan tâm đúng mức nhất là đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra cho sản phẩm do vậy có sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề truyền thống đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay như: Nghề chạm khắc; Nghề trồng cói; Trồng dâu nuôi tằm; Trồng đay; Nghề đúc đồng; Nghề chế biến bánh đúc; Nghề nấu cao cỏ đị; Nghề sản xuất thuốc lào ….

Thứ tư: Thiếu sự liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất để mở cửa và phát triển thị trường phù hợp, chưa chuyển từ sản xuất cho mình thành sản xuất hàng hóa bán cho thị trường, từ tự cung tự cấp sang sản xuất để bán. Bởi hiện nay hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất với các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và thị trường; chưa nắm bắt kịp nhu cầu thị trường; thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước, công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm chưa được chú trọng...; hệ thống thông tin, quảng bá sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nên xảy ra tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất. Hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém.

Thứ năm: Sản phẩm làng nghề chưa chú trọng về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, và các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng sản phẩm, còn nặng về sản xuất theo số lượng chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm; Các sản phẩm ngành nghề nông thôn chưa gắn kết với du lịch và dịch vụ. Tính ổn định của sản phẩm chưa cao.

Thứ sáu: Thiếu mặt bằng để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề, trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số địa phương chưa dành quỹ đất để di dời một số làng nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư. Bên cạnh đó nếu có mặt bằng thì vấn đề thủ tục hành chính và nguồn lực để di dời là một nội dung cần quan tâm.

Thứ bảy: Việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất còn chậm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm. Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ. Bên cạnh đó một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt như (mây, nứa, lùng, gỗ...) nên sản phẩm của làng nghề truyền thống thường có giá thành cao.

Thứ tám: Việc huy động vốn để sản xuất chủ yếu là vốn tự có của các hộ làm nghề là chủ yếu, vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại hoặc hỗ trợ từ nhà nước còn hạn chế. Các hộ gia đình, HTX và doanh nghiệp về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chủ yếu cơ chế tín dụng và thủ tục vay.

Thứ chín: Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn quá nhỏ hẹp, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Thứ mười: Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề còn thấp. Cơ chế quản lý và hoạt động sản xuất cũng theo kiểu tự phát nên các hộ làm nghề trong làng nghề chưa có sự gắn kết, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả chưa cao.

Upload

Làng nghề tương Nam Đàn - đặc sản nổi tiếng của Nghệ An

Để làng nghề “cất cánh” cũng như đạt được các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới, thì việc phát triển, nhân rộng các làng nghề, ngành nghề nông thôn hiện nay cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, theo tôi các địa phương cần làm tốt một số nội dung sau đây:

- Chúng ta phải thống nhất nhận thức rằng việc phát triển làng nghề là chiến lược mang tính lâu dài nên không cần phải thúc ép thực hiện vấn đề, quan trọng hơn hết phải đặt ra lúc này là làm gì để phát triển các làng nghề truyền thống đúng hướng, thực chất và đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng vàng thau lẫn lộn, hay cách làm hình thức.

- Các địa phương cần lựa chọn, xác định được ngành nghề có tiềm năng lợi thế để tập trung phát triển. Chú trọng công tác đào tạo, truyền nghề cho người lao động. Đặc biệt, cần khuyến khích thành lập các doanh nghiệp đầu mối, đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất.

- Tập trung giải quyết các vướng mắc khó khăn của các làng nghề hiện nay chính là mặt bằng sản xuất, đất chật người đông, làng nghề và các hộ làm nghề hầu hết là nằm đan xen trong khu dân cư nên mặt bằng sản xuất chật hẹp, không có điểm tập kết nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Chính khó khăn này đã khiến cho vấn đề môi trường của làng nghề khó được cải thiện làm ảnh hưởng đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy cần được quy hoạch và xây dựng riêng một khu hoặc cụm tiểu thủ công nghiệp dành riêng cho các hộ làm nghề sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường cũng như giao dịch thương mại sản phẩm hàng hóa.

- Quan tâm thị trường tiêu thụ sản phẩm, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

- Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh cho các chủ thể. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề.

- Tăng cường hỗ trợ các làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là liên kết chuỗi giá trị để kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả cao.

Hy vọng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của các làng nghề cùng sự đầu tư đúng hướng, những chính sách phù hợp sát thực tiễn, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ vượt qua được khó khăn thách thức hiện nay góp phần đưa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích theo đúng kế hoạch đề ra.

Diễn đàn khác:
"Đại hội tỉnh Đảng bộ Nghệ An khóa XIX diễn ra trong bối cảnh đặc biệt, do đó, có sứ mệnh đặc biệt"(*) (10/9/2020)
Nhận diện giá trị văn hóa cốt lõi của làng Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa (29/7/2020)
Làng trong tâm thức của người cao tuổi (29/7/2020)
Gìn giữ phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An (29/7/2020)
Biến đổi làng nghề truyền thống trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An (29/7/2020)
Khu Di tích quốc gia đặc biệt km 0 - đường Hồ Chí Minh cần được tu bổ, tôn tạo (29/7/2020)
Phát triển cây con chủ lực ở Nghệ An - Những vấn đề cần trao đổi (29/7/2020)
Thời đại kỹ thuật số: Khoa học xã hội sẽ trao cho học sinh những cơ hội gì? (22/7/2020)
Giải pháp thúc đẩy công bố quốc tế trong KHXH&NV? (8/7/2020)
Trăn trở trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Nghệ An hiện nay (6/7/2020)
Đất nước đang cần báo chí giám sát và phản biện xã hội mạnh mẽ (6/7/2020)
Cơ cấu việc làm và những thách thức của các gia đình trẻ (26/6/2020)
Bàn tiếp việc phục hồi Văn miếu Nghệ An (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,099 | Tất cả: 2,472,161
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp