NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 25
 

Hồ Xuân Hùng

Upload

Nông sản chủ lực Nghệ An là vấn đề đang được quan tâm của các cấp chính quyền

Một câu hỏi lớn mà ngay từ khi tôi đang công tác ở tỉnh là: Liệu Nghệ An có thoát nghèo và trở thành giàu có được không? Và bằng con đường nào? Nên tập trung phát triển ngành kinh tế nào (sau này gọi là ngành kinh tế mũi nhọn)? Sản phẩm nào là chính (nay gọi là sản phẩm chủ lực)? Trong nhiều câu hỏi ấy, tôi muốn được đóng góp phần nhỏ vào định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An trong thời gian tới 2020 - 2030. Không phải đến nay mới bàn, mà từ nhiều năm nay, nhất là từ những năm đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI đã bàn, chỉ khác nhau tên gọi mà thôi. Có lẽ khi Việt Nam tham gia sâu vào hội nhập kinh tế thế giới - kinh tế thị trường, chúng ta mới thức tỉnh điều đó. Sau khi nghiên cứu kỹ những chính sách, quyết định, nghị định, thông tư từ Trung ương đến tỉnh tôi xin được nêu một số ý kiến sau:

  1. Một số kết quả đạt được trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An những năm gần đây

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp những năm gần đây, Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu vượt trội đáng mừng.

Từ khi Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã nhanh chóng rà soát lại quy hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy tạo ra những đột phá cho nông nghiệp. Đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế so sánh vốn có của tỉnh so với cả nước, tạo ra đột phá trên cơ sở vừa có kế thừa, vừa phát triển ứng dụng mới. Nhất là khẳng định khai thác lợi thế từng vùng sinh thái huyện và truyền thống địa phương. Đây là cơ sở lợi thế cho lựa chọn xác định và phát triển cây, con chủ lực của tỉnh nhà.

Ví dụ: Vùng chăn nuôi bò sữa tập trung: Nghĩa Đàn, Thái Hòa; Vùng mía nguyên liệu 6 huyện: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Thái Hòa; Vùng chè chất lượng cao tại 4 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuông, Kỳ Sơn…

Quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, tỉnh đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao từ khâu giống, công nghệ sản xuất, đến quản lý. Nhờ ứng dụng công nghệ mới mà tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành 5 năm qua đạt 4,8% trong khi cả nước khoảng 3,5% và đã nâng thu nhập bình quân trên toàn tỉnh xấp xỉ 90 triệu đồng/ha (so với 2008 chỉ 37 triệu VNĐ). Có nhiều điểm đã đạt 200 - 400 triệu tấn/ha kể cả cây công nghiệp và rau quả.

Nghệ An đã xác định được nhân tố động lực tạo ra đột phá trong tái cơ cấu nông nghiệp là doanh nghiệp, vì vậy đã có chính sách phù hợp thu hút được một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh nhà như: Tập đoàn TH, Vinamilk, FLC, Vingruop, Mường Thanh, Masan,… Và chính nhờ họ đã tạo ra chuỗi sản xuất phát triển ổn định, gắn kết được với các HTX, hộ nông dân. Đây cũng là những hạt nhân để xác định và phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà trong thời gian sắp tới.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và quyết định phê duyệt danh mục sản phẩm quốc gia, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt: Đề án phát triển cây, con chủ yếu, gắn với cơ chế quản lý đất đai, tạo vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đến năm 2020 (QĐ: 3079/QĐUB ngày 3/7/2014). Đây là những cơ sở pháp lý và quá trình thực hiện trong những năm qua là cơ sở thực tiễn để chúng ta thảo luận những định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An tính đến 2030, nhằm tạo bước đột phá bền vững cho giai đoạn mới.

  1. Nghệ An cần thống nhất một số khái niệm và tiêu chí trước khi quyết định lựa chọn, công bố và có chính sách phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh

Ngày 13/12/2018, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 50/2018/QĐ-TTg quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra; ngay sau đó ngày 25/12/2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có Thông tư số 37/2018/TT-BNN ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia gồm 13 sản phẩm (đã có cá tra và tôm).

Hiện nay hầu hết các tỉnh đang triển khai, nhưng chưa có quy định chung nào về tiêu chí và sự thống nhất khái niệm mỗi địa phương tùy theo thực tế của tỉnh mình có quy định riêng. Vì vậy, Nghệ An cũng cần có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà để thuận lợi cho khi triển khai thực hiện và xây dựng chính sách. Trên cơ sở đó đưa ra danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2020 - 2030 (không đặt vấn đề đến 2025 với tầm nhìn 2030) thực ra chỉ là 2 kế hoạch 5 năm. Đương nhiên khi xây dựng chính sách và kế hoạch cụ thể thì phải phân kỳ cho phù hợp 2020 - 2025 và tính đến 2030.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra những khái niệm và cách xác định tiêu chí sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An; Song theo tôi cần bổ sung và làm rõ thêm một số nội dung sau:

Về khái niệm

Cần nêu luôn khái niệm về sản phẩm nông nghiệp chủ lực, không cần cụ thể là cây, con chủ lực nội dung cơ bản không khác gì, cụ thể là: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực là sản phẩm mang tính cạnh tranh, đặc thù cao, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn, chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Có khả năng lan tỏa, thu hút các ngành nghề khác phát triển.

Về quan điểm xác định các tiêu chí và tiêu chí lựa chọn để đề xuất lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Trong báo cáo đang nặng về nhóm tiêu chí kinh tế và nhóm tiêu chí về sản phẩm cần ưu tiên phát triển; thiếu hẳn nhóm tiêu chí xã hội và môi trường, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập hiện nay.

Ví dụ:

- Về tiêu chí xã hội phải bao hàm chỉ tiêu sản phẩm chủ lực, phải thu hút số đông lao động? Đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động và có mức thu nhập trung bình ra sao? Cũng cần phải tính thêm tỉ lệ hộ dân tham gia vào sản xuất sản phẩm chủ lực ấy?

Tiêu chí môi trường: Sản phẩm chủ lực ấy phải thân thiện với môi trường và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu?...

Cần làm rõ thêm mối quan hệ giữa sản phẩm chủ lực với sản phẩm chủ yếu, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm đặc sản của tỉnh, sản phẩm nào trùng lặp, sản phẩm nào riêng biệt để có chính sách phù hợp, tránh trùng lặp, bỏ sót cả trong chỉ đạo thực hiện và cơ chế hỗ trợ, khuyến khích…

Ví dụ: Cam Vinh vừa trong danh mục cây trồng chính, vừa là đặc sản và nhất định cũng trong nhóm cây chủ lực… những sản phẩm loại này cần có chính sách thúc đẩy phát triển nhanh không? Loại trừ trùng lặp chỗ nào?...

Cần có tiêu chí rõ sản phẩm có tính truyền thống, đặc trưng đang phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường; sản phẩm mới được xác lập trên địa bàn và dự kiến sản phẩm chủ lực tương lai nhằm tạo cơ hội cho nhà đầu tư hoặc là đầu tư nâng cao mở rộng, hoặc là mạnh dạn đầu tư mới phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh.

Ví dụ: Mía đường vừa là sản phẩm truyền thống nhưng thực sự trở thành sản phẩm chủ lực từ những năm cuối của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX (1998).

Ngược lại bò sữa là sản phẩm chủ lực mới được xác lập từ những năm cuối của thập kỷ thứ II thế kỷ XXI.

Thử dự báo: sản phẩm quả bơ (Diện tích kế hoạch 2020 là 60 ha) nhưng trong vòng sau 10 năm nữa có thể trở thành sản phẩm chủ lực được không?

Hay quả chanh chua (chanh có múi) hiện tại còn chưa có thống kê trong danh sách sản phẩm nông nghiệp tỉnh nhà, nhưng thực sự nó đã nổi tiếng trong tiêu dùng (trên thị trường ở miền Bắc nước ta) do đang trồng phân tán, tận dụng trồng trong dân, nếu có sự đột phá trong giống để thành chanh không hạt và trồng tập trung ở diện tích lớn đất vườn, đồi thì sẽ ra sao, nhất là khi nhu cầu đang tăng?... Nghệ An có thể trồng chanh không hạt được ở các huyện Tây Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên và một số huyện vùng bán sơn địa, núi thấp…

Tôi xin cung cấp vài thông tin về cây chanh có múi: Hiện nay thế giới tiêu thụ khoảng hơn 10 triệu tấn chanh tươi/năm. Thị trường lớn mà Việt Nam đang xuất khẩu chính là: Trung Đông, châu Âu, Úc, các nước Đông Nam Á. Thị trường Mỹ rất lớn nhưng Việt Nam chưa cạnh tranh nổi với Brazin,         Mexico… Việt Nam đến 2019 có 15.000 ha chanh không hạt được trồng tập trung (loại có hạt, trồng phân tán chưa tính đến). Riêng Long An: 7.000 ha, Hậu Giang hơn 2.000 ha.

- Giống chanh không hạt trồng 16 - 20 tháng cho thu hoạch, năm thứ nhất cho năng suất bình quân 10 - 15 tấn/ha, từ năm thứ 2 trở đi 20 - 25 tấn/ha (Năng suất điển hình đã có 30 - 40 tấn).

- Giá bán tại vườn bình quân 12.000 đồng/kg từ (12 triệu/tấn).

- Giá xuất FOB cảng HCM: 1.500 USD/tấn.

- Thời gian bảo quản tươi lâu: 45 - 60 ngày nếu áp dụng công nghệ hơn 6 tháng, vì vậy không bị áp lực về mùa vụ và thời gian xuất.

- Hiện nay tổng sản lượng ở Việt Nam xuất tươi khoảng 70% tổng sản lượng, ép chế biến 10%, bán chợ 20%.

- Chanh dễ trồng, ít sâu bệnh.

Nhiều chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp con em Nghệ An đề xuất: Nghệ An có vùng trồng chanh truyền thống (chỉ khác đang là chanh hạt) như Hưng Nguyên, Nam Đàn; và có nhiều huyện khác có thể trồng chanh được. Chỉ phải chọn giống không hạt và quy hoạch khoảng 2.000 - 3.000 ha là có khả năng thực thi.

III. Một số ý kiến về đề xuất danh mục cây con chủ lực

Về cơ bản nhất trí với đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, song có một vài đề nghị bổ sung, sửa đổi sau đây:

  1. Đối với cây trồng

1.1. Không nên đưa cây sắn nguyên liệu vào nhóm cây chủ lực không phải vì chỉ đóng góp khoảng 0,7% vào giá trị sản xuất của ngành, phương án của Sở cũng chỉ tìm giải pháp hỗ trợ để đảm bảo đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy hiện có; mặt khác đây là loại cây trồng “phá đất” và thực sự không thu hút nhiều lao động. Cả về tiêu chí xã hội, kinh tế, môi trường và hướng phát triển ưu tiêu (quy hoạch và danh mục chung cả nước) đều không lợi thế.

1.2. Cân nhắc đánh giá lại cây lạc. Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 5 về sản xuất lạc ở châu Á. Tuy diện tích (S) nhiều năm nay không tăng nhưng tương đối ổn định, xấp xỉ 150.000 ha, năng suất bình quân 2,4 tấn/ha. Nghệ An có S ≈ 15.000 ha (10% cả nước). Riêng năm 2014 có S: 17.950 ha, sản lượng đã đạt 35.000 - 40.000 tấn. Đây là vùng lạc truyền thống, tuy đóng góp chỉ 1,53 % giá trị của ngành, nhưng lại thu hút lao động cao, nhất là hộ dân vùng đất cát pha và thời vụ ngắn, thân thiện môi trường, cải tạo đất và còn có tác dụng trồng xen vụ, rải vụ. Nếu đầu tư thêm để có giống năng suất cao ở mức khả thi 4 - 5 tấn/ha gắn với công nghiệp chế biến chắc sẽ khác? Hiện nay bình quân năng suất ở Nghệ An mới đạt 2,6 tấn/ha.

1.3. Tách hẳn cây bơ thuộc loại cây chủ lực trong tương lai gần, từ đó để có chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư mở rộng, nhất là để tái cơ cấu kinh tế cho miền Tây Nghệ An.

1.4. Đưa cây chanh không hạt (có múi) vào cây chủ lực trong kế hoạch phát triển từ nay đến 2030. Trên cơ sở đánh giá lại vùng chanh đang rất nhiều hạt hiện nay và quy hoạch hướng phát triển mới để kêu gọi thu hút đầu tư gắn với cải tạo vườn chanh hiện có ở các huyện truyền thống của tỉnh nhà.

1.5. Cây lấy gỗ, dược liệu thống nhất như dự thảo của Sở Nông nghiệp.

  1. Đối với chăn nuôi

2.1. Đàn trâu cả nước đang có xu hướng giảm, nguyên nhân do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả giảm, dùng làm sức kéo gần như không. Tuy vậy hiện tại vẫn là nguồn thu nhập và giải quyết việc làm khá lớn của hộ dân vùng nông thôn, và vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng của họ trong vòng 10 - 15 năm nữa; hơn nữa đàn trâu Nghệ An đang chiếm ≈ 12% tổng đàn cả nước (280.000/2.350.000 con). Vì vậy cùng với đàn bò nhất định trong thời gian tới vẫn phải được quan tâm phát triển.

2.2. Đàn bò thịt của tỉnh đã chiếm 7,2% tổng đàn cả nước (425.000/5.940.000 con) nhu cầu đang tăng đều đến hàng năm, có nhiều tỉnh đang xây dựng kế hoạch tăng nhanh đàn đến 2025. Như Thái Bình đang đặt kế hoạch đến 2025 tăng trưởng đến gấp 3 lần so với 2019 (Tuy nhiên tổng đàn hiện nay chỉ có 55.000 con)…

Nghệ An vừa có truyền thống, vừa có tiềm năng để tăng nhanh đàn cả hình thức hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp.

2.3. Đàn bò sữa cả nước đang tăng rất nhanh, năm 2018 tổng đàn là: 250.000 con, thì 2019 là: 322.000 con. Nghệ An đã có 2 doanh nghiệp có thương hiệu không chỉ ở trong nước mà đã có tên tuổi ở nhiều nước trên thế giới, sản phẩm sữa của T.H và Vinamilk đang có giá trên thị trường. Tổng đàn ở Nghệ An chỉ chiếm 1,9% cả nước (60.000/322.000 con), nhưng đang tạo ra những đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà cả về sản phẩm, công nghệ, chuỗi sản xuất được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận. Nghệ An đủ điều kiện để tăng nhanh đàn bò sữa, để tăng nhanh sản phẩm sữa.

2.4. Lợn và gia cầm (gà vịt) vừa là sản phẩm đạt tiêu chí kinh tế, xã hội (việc làm) và cũng là sản phẩm truyền thống của địa phương, phù hợp với yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường và cũng nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam.

  1. Thủy sản

Dự kiến cuối 2020 giá trị sản lượng thủy sản chỉ chiếm 16,14% tổng giá trị của ngành (so với tỷ trọng thủy sản trong nông nghiệp toàn quốc thì Nghệ An ở mức thấp. Cả nước thủy sản 23,7% GDP nông nghiệp). Nhưng khả năng để phát triển ngành thủy sản ở Nghệ An là rất lớn kể cả nước mặn, lợ và nước ngọt.

Muốn phát triển bền vững ngành này nhất định tỉnh ta phải tập trung vào nuôi trồng là chính. Đây là dư địa rất lớn ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa cá nước ngọt và tôm vào danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực vừa phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường trong nước (trong tỉnh) và quốc tế; Vừa phù hợp với thực tế của tỉnh nhà và định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thực tế hiện nay Nghệ An đã có nhiều mô hình nuôi tốt như ở Diễn Trung - Diễn Châu, ở Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu... Riêng sản lượng thủy sản Quỳnh Lưu năm 2018 đã đạt 74.000 tấn là rất đáng khuyến khích phát triển.

  1. Về mục tiêu và giải pháp

Từ thực tiễn đó, cần tập trung làm rõ một số giải pháp sau:

  1. Cần chuyển hẳn tư duy phát triển một nền nông nghiệp toàn diện sang tư duy phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trên nền tảng hiệu quả kinh tế theo tín hiệu thị trường.

Đây không phải là vấn đề mới nhưng không dễ gì áp dụng. Một thực trạng là cả hệ thống nông nghiệp Việt Nam chưa thoát khỏi tư duy “phát triển một nền nông nghiệp toàn diện…”? Nghệ An có quyết tâm để thoát khỏi vòng này không?

Trên cơ sở tư duy đó mới có thể tập trung đầu tư khai thác lợi thế vùng sinh thái và phát triển nông sản chủ lực hiệu quả được. Nguồn lực đầu tư, nhất là khâu chủ trương mới có thể tập trung mở rộng.

  1. Đầu tư cho khâu giống (cả cây và con) là khâu quyết định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học sinh học thế giới, loài người đã tạo được bước đột phá lớn trong cây trồng vật nuôi, vừa nâng cao được giá trị sản lượng, vừa chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong kinh tế hội nhập toàn cầu.

Tư duy nông nghiệp ngày nay không thể: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” được nữa. Mà nhất định phải là “nhất giống”. Giống thế nào thì yêu cầu phân bón, nước và công chăm bón thế đó!

Ví dụ: Những năm gần đây huyện Ứng Hòa, Hà Nội đã nhận chuyển giao giống bò: BBB (gọi là 3B) do Trung tâm giống vật nuôi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhập từ Bỉ, nuôi tại Ứng Hòa 15 - 18 tháng xuất chuồng. Trọng lượng xuất chuồng bình quân 500 - 600 kg/con. Bò đực đã đạt cao 900 - 1.200 kg/con, bò cái 600 - 800 kg/con, thành thịt xẻ hơn 52% (bò thường chỉ 35 - 42%). Giá bán hiện nay tại Hà Nội hơi 90.000 đồng/kg, thịt 240.000 - 250.000 đồng/kg. Chỉ cần lấy tinh Bò 3B phối với Bò lai là được. Nghệ An đã phối để có bò 3B này chưa? Nếu như trước đây chúng ta đã thành công trong Sin hóa đàn bò thay đàn bò “nhọn 2 đầu” thì nay nên tính giống mới.

Ví dụ 2: Ai nghĩ Nghĩa Đàn đã thành công quả bơ Mỹ? Sự thực nó sẽ trở thành một trong những trái cây chủ lực ở Nghệ An trong tương lai gần. Nếu chúng ta tiếp tục tạo môi trường phát triển.

  1. Kiên trì chính sách thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị dưới sự dẫn dắt của doanh nghiệp đầu đàn có ứng dụng công nghệ cao.
  2. Soát lại chính sách tổ chức tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chỉ ở khâu chế biến, bảo quản mà ngay cả khâu xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá sản phẩm và kết nối mạng thị trường trên phạm vi toàn tỉnh, vùng và quốc gia. Nghệ An hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển hệ thống tiêu thụ: từ chợ truyền thống, đến chợ đầu mối, siêu thị và thị trường điện tử mạng. Vấn đề quan trọng là lựa chọn xác định đúng địa điểm, bố trí đúng chủ đầu tư? (Chúng ta cũng đã có bài học thất bại về vấn đề này).
  3. Đơn giản, sát thực và hiệu quả hóa chính sách hỗ trợ cho dân và doanh nghiệp (đối tượng) tham gia vào sản xuất sản phẩm nông sản chủ lực theo hướng hỗ trợ trực tiếp vào những nội dung, chương trình phục vụ cộng đồng, khu vực liên quan sản xuất và dịch vụ sản xuất; hỗ trợ, thưởng cái họ làm ra sát thực cho quá trình đầu tư, phát triển bền vững.

Ví dụ: Ở Nghệ An khi tiến hành đàm phán và xây dựng nhà máy đường NAT&L, phía đối tác đề nghị tỉnh nâng cấp đường quốc lộ từ Quốc lộ 1A lên Quỳ Hợp (khi chưa có cầu qua sông Hiếu như bây giờ) làm hệ thống đường giao thông vận chuyển mía nội đồng (nhà máy mua mía của dân) gắn với quy hoạch phát triển vùng mía, chiều dài 80 km và hỗ trợ dân trồng mía. Tỉnh đã báo cáo Chính phủ và chúng ta đã làm được điều đó. Trong mọi giai đoạn thăng trầm của các nhà máy đường trong cả nước thì NAT&L vẫn hiệu quả nhất.

Tình hình hiện nay ở nước ta và tỉnh Nghệ An đề nghị: Ngoài việc hỗ trợ và phát triển hạ tầng (nếu chưa có) thì nên áp dụng 2 hình thức sau đây vừa dễ quản lý vừa khuyến khích doanh nghiệp tích cực phát triển sản xuất:

  1. a) Hỗ trợ lãi suất tiền vay cho quá trình đầu tư mới khi có áp dụng giống và công nghệ mới, tỷ lệ % do điều kiện thực tiễn mà công bố.
  2. b) Thưởng % phần vượt thuế cho đối tượng nộp thuế, nhưng yêu cầu tiền thưởng ấy tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định hoặc lưu động; không đưa vào lãi để chia nhau.

Đây cũng là kinh nghiệm của Nghệ An nhiều năm qua và nhiều tỉnh hiện nay đang làm. Nhất là phần hỗ trợ lãi suất tiền vay.

  1. c) Hỗ trợ xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu.

Cách hỗ trợ này hiệu quả, đỡ phiền hà và dễ giám sát quá trình thực hiện.

  1. Lời kết

Cho đến kết thúc năm 2019 (cuối thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI) cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An vẫn chiếm 19 - 20% tỷ trọng GDP tỉnh nhà. Tuy là không lớn, nhưng trên bình diện chung Nghệ An vẫn là tỉnh nông nghiệp, vẫn còn tới 42% lao động nông nghiệp và hơn 85% cư dân sống ở nông thôn; và thực tế trong vòng vài chục năm nữa (theo tôi) lợi thế so sánh của Nghệ An so với cả nước vẫn là nông nghiệp (nông - lâm - ngư). Vì vậy Nghệ An cần tranh thủ cơ hội, nhất là sau khi đã xác lập được những sản phẩm nông nghiệp chủ lực, cùng với những sản phẩm đặc sản, đặc trưng của tỉnh có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nhanh tạo đột phá ngay trong 5 - 10 năm đầu này nhằm thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Bác gửi BCH Đảng bộ tỉnh ngày 21/7/1969: “… Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc”.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030 (29/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch (6/7/2020)
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò (6/7/2020)
Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách (6/7/2020)
Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo (12/6/2020)
Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An (11/6/2020)
Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (31/5/2020)
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 2,884 | Tất cả: 2,369,451
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp