KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 82
 

Phong Lê

  1. Đảng và đường lối văn nghệ của Đảng từ 1943 đến 1990

Văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên về văn hóa, trong đó có văn học - nghệ thuật, đó là Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943(1). Một Đề cương về văn hóa sau một Cương lĩnh chính trị đã xuất hiện trong bí mật vào năm 1930.

Với Đề cương về văn hóa Việt Nam, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Bây giờ ta có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở thời điểm 1943, hiểu văn hóa ở ba phương diện: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật tất nhiên là chưa đủ chiều rộng; nhưng lại có được một đường biên cụ thể cho sự hình dung. Đó là sự bao quát phạm vi hoạt động của người trí thức, của giới trí thức trên hai lĩnh vực cơ bản là khoa họcnghệ thuật.

Và, dẫu quan niệm về văn hóa là rộng hoặc hẹp, thì định hướng xuyên suốt của Đề cương vẫn là ở “ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới”. Ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:

“a. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập);

  1. Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng);
  2. Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)”.

Ở đây, Dân tộc hóa là nguyên tắc được đặt ở vị trí số 1 trong Đề cương. Đại chúng hóa ở vị trí số 2. Và dẫu ở vị trí số 2 nó vẫn là nguyên tắc được đón nhận dễ dàng và có tác động sâu rộng đối với đời sống văn hóa, tinh thần nói chung và văn học - nghệ thuật nói riêng, góp phần tích cực vào thành công của Cách mạng tháng Tám và đem lại một sự sống tươi mới cho công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyên tắc Khoa học hóa là kết quả sự vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, và thực trạng văn hóa hiện thời. Từ đó đề ra phương hướng phát triển văn hóa “tân dân chủ”, nó là mục tiêu chỉ có thể thực hiện được từ sau Cách mạng tháng Tám trên nền móng Dân chủ - Cộng hòa.

Năm 1960 - ghi một dấu mốc quan trọng trong hành trình dân tộc. Đó là năm ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ lên một cục diện mới - cục diện cả nước chống Mỹ. Đồng thời, đó là năm trên miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ III công bố Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Trong Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng quan hệ sản xuất.

- Cách mạng khoa học - kỹ thuật.

- Cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Như vậy, ba cuộc cách mạng ở đây cũng nhằm bao quát ba lĩnh vực chính trị - kinh tế - và văn hóa như đã được đặt ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943.

Từ yêu cầu của Cách mạng tư tưởng - văn hóa mà có Đường lối văn nghệ của Đảng. Đường lối này được đồng chí Trường Chinh trình bày trong bài phát biểu, thay mặt Đảng, trước Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ IV - tháng 12 - năm 1968, có tên Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà, trong đó tác giả tổng kết và nêu lên 8 mục, được xem là “8 quan điểm cơ bản” - “những quan điểm làm cơ sở cho đường lối văn nghệ của Đảng”, chiếm toàn bộ Phần I của bài phát biểu. Đó là:

“1. Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

  1. Văn nghệ ta phải thực sự là nền văn nghệ của nhân dân.
  2. Văn nghệ ta phải có tính chất dân tộc. Văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta.
  3. Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định.
  4. Mục đích của văn nghệ ta đó là giáo dục con người mới.
  5. Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay.
  6. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình.
  7. Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người”(2).

Vậy là ở đây, qua 8 mục, bản báo cáo đã bao quát gần như đầy đủ những phạm vi cần quan tâm của lý luận văn nghệ (mácxít - lêninnít) gồm: chức năng và vai trò, đặc trưng và tính chất, mục đích và nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, và mục tiêu xa của văn nghệ.

Bây giờ đọc lại, dễ nhận thấy ở đây có những mục vẫn đúng nhưng quá rộng hoặc quá hẹp; có những mục không còn thích hợp, cần phải bổ sung hoặc thay đổi.

Tôi chọn mốc 1968 để thấy sự tổng kết trên 8 mục như một cấu thành hoàn chỉnh Đường lối văn nghệ của Đảng mà tác giả Trường Chinh có trách nhiệm khởi thảo và phát biểu. Bởi từ sau 1968 cho đến khi ông qua đời, năm 1988, những bài nói và viết của Trường Chinh không còn mang tính chất tổng kết và vạch đường lối cho văn nghệ nói chung. Dường như, theo quan điểm của Trường Chinh, và cũng là theo sự tiếp thu của giới lý luận lúc ấy, một tổng kết gồm 8 mục như trong bài phát biểu năm 1968 là đầy đủ và không cần phải nói gì thêm. Một tổng kết như là một sự hoàn thiện cả một quá trình nhận thức, theo đuổi về các vấn đề văn hoá, văn nghệ cách mạng, theo quan điểm của Đảng, có khởi đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, ở một người trong gần nửa thế kỷ có trách nhiệm cao nhất thay mặt Đảng lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật.

Bộ tuyển của Trường Chinh: Bàn về văn hóa - nghệ thuật gồm 2 tập, Nxb. Văn học ấn hành năm 1986, tập hợp gần như tất cả những bài viết, bài nói quan trọng nhất của tác giả, từ 1938 đến 1984, với rất ít sửa chữa, chứng tỏ tác giả đã rất nhất quán và kiên định với các chủ kiến và ý kiến của mình.

Vậy là, sau 1945, và nhất là sau 1954, rồi 1960, trong hoàn cảnh mới của cách mạng, việc xác định một Cương lĩnh chính trị gồm 3 cuộc cách mạng, trong đó có Cách mạng tư tưởng - văn hóa, và một Đường lối văn nghệ của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa văn nghệ vào quỹ đạo chung của cách mạng. Với đường lối này, lý luận văn học phải bao quát một phạm vi rất rộng các vấn đề, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, là khu vực trực tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi nó gắn với yêu cầu giảng dạy văn học trong nhà trường và yêu cầu trang bị về lập trường, quan điểm cho đội ngũ công tác tuyên huấn và lý luận. Cùng với phê bình, nó phải là “một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ”(3). Không kể nó nhằm phổ cập tri thức cho công chúng đông đảo, một công chúng lúc nào cũng cần được giáo dục, động viên để vươn lên đứng ở tuyến đầu các cao trào cách mạng. Nền lý luận văn học đó, một mặt phải xuất phát từ Chủ nghĩa Mác - Lênin, vốn đã được đúc kết và diễn giải trong các bộ sách giáo khoa về triết học, về mỹ học và lý luận văn học nghệ thuật, bởi các học giả mácxít chủ yếu ở Liên Xô, được dịch sang tiếng Việt; một mặt là Đường lối văn nghệ của Đảng, được xem là sự vận dụng cụ thể và sáng tạo các nguyên lý kinh điển Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam được thể hiện và đúc kết trong các văn kiện của Đảng và các bài nói, bài viết của những người thay mặt Đảng.

Lý luận văn học, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, được hiểu như thế nên có vai trò rất quan trọng, thậm chí rất thiêng liêng. Là “một phương thức chỉ đạo của Đảng” nên nó không được phép sai. Nhất là sai về đường lối. Nếu đường lối cách mạng là mục tiêu toàn Đảng, toàn dân phải nhất tâm thực hiện, thì đường lối văn nghệ phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các giới văn hóa, văn học - nghệ thuật. Do vậy mà một vi phạm dẫu nhỏ vào những nguyên tắc đó là không được phép. Chẳng hạn, Đảng chủ trương hướng về “cuộc sống mới, con người mới” thì bất kể ai (giới lý luận hoặc sáng tác) không thể đặt vấn đề: “Con người bình thường, cuộc sống bình thường”(4). Cái đời thường mà bây giờ ta quen nói, có một thời dài rất ít được nói, hoặc không được phép nói, mà phải là “đến với những nơi tiên tiến, sống với những con người tiên tiến”... Đảng yêu cầu phản ánh trung thành hiện thực cách mạng thì không thể kêu gọi “phá vỡ lôgích cuộc sống”(5) để xen vào một “lô gích nghệ thuật” viễn vông nào đó. Hiện thực cách mạng là anh hùng và cao đẹp thì không thể nhấn mạnh cái bi, hoặc quá đi sâu vào những hiện tượng phân thân, “đối mặt” ở con người(6)… Và nếu người viết còn đi xa hơn, sa vào lực hút của các trường phái lý luận văn học phương Tây gồm các dạng của Chủ nghĩa Hiện đại, như Suy đồi hoặc Tiền phong, Siêu thực hoặc Tượng trưng, Chủ nghĩa Cấu trúc hoặc Hiện sinh, Phê bình mới hoặc Tiểu thuyết mới; hoặc “ăn phải bả” của Chủ nghĩa Xét lại như bênh vực tính người siêu giai cấp, hoặc chủ trương chung sống hoà bình giữa các chế độ xã hội khác nhau… thì không chỉ tác phẩm mà các tác giả của nó cũng bị liên luỵ, có người phải bị treo bút trong cả một thời gian dài.

Tình thế rồi sẽ thay đổi, từ Đại hội VI của Đảng - tháng 12-1986; với hai khẩu hiệu: “Lấy Dân làm gốc”, và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đây là một cuộc “Sửa sai” lớn, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, văn học - nghệ thuật; dĩ nhiên yêu cầu tự do sáng tạo soi vào đấy sẽ phải nhận thức lại nhiều điều. “Cởi trói” trở thành một nhu cầu tự thân. Mà nói “cởi trói” tức là nói trước đây đã có nhiều buộc trói. Để có tự do hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu (lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh). Nhờ vậy yêu cầu tự do và phạm vi tự do mới được nới dần ra, để thoát ra khỏi các trói buộc, gần như lúc nào cũng bị xiết chặt, suốt hơn 30 năm. Một mùa gặt mở ra - mùa “tiền Đổi mới” trong mở đầu thập niên 1980, trổ ra được những khoảng trời, những cánh cửa cho những bức xúc của nhân dân và không khí thời đại tràn vào…

Từ Đổi mới (1986) chuyển sang Hội nhập (1995), cho đến cuối thập niên 1990 trở đi, văn học - nghệ thuật chuyển sang một thời kỳ mới với rất nhiều thay đổi trong đề tài - chủ đề, trong cảm hứng sáng tạo, trong thi pháp - bút pháp, trong cấu trúc nghệ thuật, trong văn bản ngôn từ... Đồng thời là sự nhận thức lại, đánh giá lại diện mạo lịch sử sau hơn một thế kỷ hiện đại hóa: nhiều án oan được giải tỏa; nhiều tên tuổi được khôi phục qua các dịp kỷ niệm nhân vào tuổi “trăm năm”; cùng nhiều giải - như Giải Hồ Chí Minh và Giải Nhà nước được trao hoặc truy tặng cho một số người từng bị tai nạn trước đây. Ít có các “vụ” “việc” xảy ra. Bớt dần, tuy chưa phải đã hết hẳn, những quy chụp nặng nề đối với một số hiện tượng có sự phân rẽ hoặc khác nhau trong dư luận. Tự do sáng tạo vẫn còn những khía cạnh cần bàn, nhưng là bàn trên một bình diện mới. Đó là sự chấp nhận, hoặc tôn trọng mọi tìm tòi để có thể vừa đến được với cái riêng, cái khác - vốn là mục tiêu săn tìm ráo riết của một thế hệ trẻ, kể từ 8X, 9X trở đi - thế hệ không phải sống trong bối cảnh chiến tranh và tình thế bao cấp, vừa vẫn có thể đồng hành cùng nhau trước những mục tiêu chung khi quốc gia “hữu sự” như chủ quyền biển - đảo bị đe dọa, quốc nạn tham nhũng vẫn chưa hoặc rất khó bị đẩy lùi; vừa khẩn trương tham gia hội nhập, nhưng vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ đánh mất bản sắc riêng của mình...

  1. Đảng và các nghị quyết của Đảng về văn hóa trong quan hệ với kinh tế, chính trị thời đổi mới và hội nhập

Từ Đường lối văn nghệ - 1968 đến một Nghị quyết riêng về văn hóa - Nghị quyết 05 khóa VIII năm 1998 là chẵn 30 năm.

Đó là 30 năm ghi nhận những chuyển động dữ dội trong đời sống dân tộc, qua các sự kiện lớn của lịch sử: Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại hội VI - 1986 chính thức đưa đất nước vào kỷ nguyên Đổi mới. Đại hội VII - 1991 và Đại hội VIII - 1996 diễn ra sau sự kiện Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ (1990), Việt Nam thoát khỏi thế cấm vận và gia nhập ASEAN (1995) để mở đầu cho thời hội nhập.

Sau chiến thắng của hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với cuộc chiến ở hai đầu biên giới và sự tan vỡ tình thế hai phe, những sự kiện lịch sử như trên đã đưa Việt Nam vào một chuyển động chưa từng diễn ra trong lịch sử kể từ mở đầu thập niên 1990. Đó là sự xuất hiện nền kinh tế thị trường trong tư thế chủ động tham gia vào một cuộc hội nhập mới với khu vực, gắn với những tác động rộng lớn và sâu sắc vào mọi mặt sự sống con người của cuộc Toàn cầu hóa lần thứ 3Kỷ nguyên thông tin.

Như vậy là phải đến cuộc toàn cầu hóa lần thứ 3 gắn với kỷ nguyên thông tin ta mới có được tư thế chủ động trong các hoạt động có tính nhân loại, để kịp với tiến trình chung; với những Được và Mất có quy mô toàn cầu.

Các yếu tố trên quy định gương mặt dân tộc từ 1995 đến nay - trong độ dài trên 25 năm. Đó là 25 năm dân tộc đứng trước những cơ hội và thử thách gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi lăm năm với những thành tựu lớn và những mất mát lớn - cả hai tôi nghĩ là ngoài sức tưởng tượng. Nhìn vào cái Được trên mọi lĩnh vực: ăn, mặc, ở, đi lại, và các nhu cầu vui chơi - giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Những tiệc nhậu triền miên, bia rượu tràn bờ, đủ sơn hào hải vị, ở một đất nước luôn luôn thiếu đói, sau hai trận đói lớn. Một là trận đói vào đầu năm Ất Dậu (1945) khiến hai triệu người chết. Và hai là cơn đói thời bao cấp kéo dài suốt thập niên 1980 khiến cho cả dân tộc ai cũng mang khuôn mặt của người “mất sổ gạo”... Những kiểu mốt thời trang không lúc nào là đủ cho mọi giới nghề nghiệp, mọi lứa tuổi. Những biệt thự, phủ đệ, nhà nghỉ và khu vui chơi, giải trí có ở khắp nơi. Phương tiện đi lại đắt nhất không thiếu. Những cuộc xem nghệ thuật nhiều triệu đồng thường cháy vé, và những tuor du lịch trong nước và khắp thế giới đều hết chỗ. Tất cả đó là biểu hiện trên bề mặt của sự phát triển kinh tế. Tất nhiên, những hưởng thụ như trên là chỉ dành cho một số người có tiền, có nhiều tiền; còn việc từ đâu mà có tiền như trường hợp của nhiều cán bộ cao cấp cùng nhiều đại gia khác trong bộ máy công quyền và giới doanh nhân đã phải ra hầu tòa và nhận tội thì phải tìm đến nhiều nguồn; và đây lại là câu hỏi cần một chuyên đề khác.

Trở lại câu chuyện Được - Mất. Được là được về kinh tế. Còn mất là mất về văn hóa, đạo đức, tinh thần... Trong rất nhiều cái mất, thì đau đớn nhất, khủng khiếp nhất vẫn là mất về luân lý, đạo đức, lối sống - thuộc khu vực văn hóa, và các mối quan hệ con người trong các cộng đồng, từ gia đình ra xã hội. Gia đình - đơn vị sống cơ bản của con người có nguy cơ tan rã; bởi ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà. Còn xã hội là tình trạng bất an, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực, còn cái giả thì chỉ cần tiếp xúc với thực phẩm giả, phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả - đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện - ác, tốt - xấu, thực - giả. Nhưng những mặt tích cực lắm khi gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Tìm căn nguyên sâu xa cho những được - mất kể trên, đó là sự mất cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; và suy cho cùng đó là sự coi nhẹ văn hóa, tức là sự coi nhẹ việc xây dựng Con người, bởi văn hóa - thực chất và cuối cùng là gắn với Con người. Và nói Con người, lại không thể bỏ qua khu vực giáo dục, từ nhiều chục năm qua đang trong một cơn suy thoái trầm trọng, bởi sự rời bỏ mục tiêu giáo dục làm người, dẫu những cấp báo về nó đã có từ rất sớm. Điều đó có nghĩa là 25 năm qua ta đã thiếu một cái nhìn xa về Con người, thiếu những chuẩn bị về Con người, cho một chuyển động, không chỉ là dữ dội mà còn là chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Có nghĩa là ta đã vào cuộc với nhiều bỡ ngỡ và hăm hở, mà thiếu sót lớn là thiếu sự trang bị cho Con người - do vậy mà đến 1998 Đảng phải có một Nghị quyết riêng - Nghị quyết 05 - khóa VIII về vai trò và nhiệm vụ của văn hóa để xây dựng Con người. Ở Nghị quyết đó ta được thấy vai trò đặc biệt của văn hóa để chống đỡ với những tác động và tác hại của hội nhập và kinh tế thị trường; ở đó, đã cho thấy một công việc cấp bách là phải giữ gìn bản sắc riêng và truyền thống văn hóa dân tộc như một tễ thuốc kháng sinh, một vũ khí để tự vệ; để không tự đánh mất mình…

Một Nghị quyết đề cập toàn diện các phương diện của văn hóa, trong tương quan với đời sống chính trị - kinh tế - xã hội; với 5 quan điểm chỉ đạo:

“1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

  1. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  2. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
  3. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
  4. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.”

So với 3 phương châm và cũng là 3 mục tiêu của hoạt động văn hóa trong Đề cương năm 1943; so với 3 cuộc cách mạng trong Cương lĩnh chính trị của Đảng ở Đại hội III - năm 1960; và 8 quan điểm cơ bản trong Đường lối văn nghệ của Đảng - năm 1968, thì Nghị quyết 05 - khóa VIII - 1998 là một phát triển vừa trên sự mở rộng, vừa là đào sâu vào những yêu cầu cốt lõi của văn hóa trong tương quan với những chuyển biến mới của dân tộc và thời đại.

Rõ ràng nói đến việc chuẩn bị về Con người ở Việt Nam ta thì, để đối phó với ngoại xâm, tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh cho đất nước là một kho dồi dào, bất cứ lúc nào, bất cứ kẻ thù nào ta cũng đều có thể huy động. Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, trong thời bình; và nhất là trong bối cảnh một thế giới thay đổi trong gia tốc lịch sử lớn thì Con người Việt nói chung còn chưa đủ phẩm chất để đáp ứng bởi cái gốc nông dân, và căn rễ tiểu nông gắn quá sâu vào mọi lớp người, rất hiếm có ai là ngoại lệ. Những cái mất về văn hóa, về đạo đức, lối sống diễn ra có lúc gần như phủ khắp các tầng lớp cư dân, gồm cả bộ máy công quyền từ thấp lên cao đủ minh chứng cho điều đó. Có nghĩa là để giải quyết sự thiếu thốn văn minh, yếu kém văn hóa này rất cần trở lại sự thức nhận vai trò của văn hóa, xem văn hóa như một nền tảng tinh thần, một sức mạnh nội sinh của sự phát triển; và, cùng với văn hóa là giáo dục; phải thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức đó, tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 09 - khóa XI của Đảng, 16 năm sau, năm 2014, có tên: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tôi chú ý ở đây, trong Nghị quyết này có sự gắn nối Văn hóa với Con người. Và cũng ở Nghị quyết này, lần đầu tiên, sau 71 năm, kể từ Đề cương văn hóa - 1943, có thêm sự khẳng định: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.

Vậy là, sau hơn 70 năm, trật tự và vị trí của Văn hóa đã được sắp xếp lại, để có được một tầm cao hơn, trong ngang bằng với Kinh tế và Chính trị. Hy vọng nhận thức này sớm được chứng nghiệm, bởi thực tiễn hôm nay sau 5 năm thực hiện Nghị quyết vẫn còn rất nhiều âu lo, rất lắm buồn phiền. Đầu tư cho văn hóa có thể bỏ ra nhiều chục nghìn tỷ để xây dựng cơ sở vật chất như quảng trường, rạp hát, khu lưu niệm, bảo tàng, trung tâm hành chính... trong khi nghệ nhân mòn mắt chờ trợ cấp vài triệu, các vở diễn không đủ tiền để dựng... Kinh phí cho giáo dục có thể phóng lên vài chục nghìn tỷ riêng cho việc viết sách giáo khoa, còn hàng triệu thầy, cô thì khó sống với đồng lương, học trò vùng sâu vùng xa thì cơm ăn không đủ. Chính những khu vực lẽ ra gắn với Con người nhất lại rất vô tâm với Con người. May mà một vài dự án như vậy đã phải dừng lại.

  1. Vài suy nghĩ về mục tiêu và thực trạng

Giờ đây sau ngót 35 năm Đổi mới, trong đó có 20 năm hội nhập, để hướng tới một phát triển bền vững cho đất nước, nhìn từ văn hóa, đúc kết từ một lịch sử văn hóa như trên, tôi muốn tìm đến ba khu vực.

  1. Một nền chính trị sáng suốt, có tầm cao về trí tuệ, có bề dày về văn hóa, hợp ý dân, được lòng dân - chịu được thử thách: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
  2. Một nền giáo dục được cải tạo và đổi mới triệt để, trên tất cả các cấp, các khâu. Ở khu vực giáo dục này, như nhiều năm nay đã làm, tôi thấy rất cần không chỉ một, mà nhiều Hội nghị Diên Hồng để tập hợp được trí tuệ của toàn dân. Bởi giáo dục là câu chuyện của nhiều năm, nhiều chục năm, chứ không phải một, vài năm, nó gắn bó và quyết định tương lai của dân tộc. Bởi giáo dục là câu chuyện có tác động xã hội rộng lớn phủ khắp nhiều chục triệu thanh, thiếu nhi ở học đường, và cũng chừng ấy các bậc bố mẹ, ông bà mất ăn, mất ngủ vì con cháu.
  3. Một môi trường sống trong sạch, lành mạnh - không chỉ là sự giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn nước, không khí do rác thải và khí độc bao vây khắp chốn; mà nghiêm trọng hơn - là sự ô nhiễm về tinh thần bởi sự tràn lấn của cái ác, cái xấu, cái giả trong sinh hoạt thường nhật của con người; và sự lỏng lẻo, rời rã của các quan hệ xã hội.

Trong Nghị quyết mới của Đảng năm 2014 có việc đặt ngang nhau ba phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa; trên tinh thần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai trò của văn hóa; nhưng xét đến cùng vẫn phải thấy mọi khởi đầu phải bắt đầu từ chính trị. Cần một nền chính trị anh minh và một bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh để giải quyết hài hòa hai phương diện sống cơ bản của con người là vật chất và tinh thần, là kinh tế và văn hóa, là sống cho sướng hơn và sống cho tốt hơn.

Cuối cùng tôi nghĩ là cần thiết, từ góc nhìn văn hóa để xác định những gương mặt đang và sẽ là chủ thể của tương lai. Nếu trong cách mạng và chiến tranh kéo dài hơn 40 năm, con người phải được trang bị bằng ý chí quyết chiến, quyết thắng trước mọi loại kẻ thù, với nhân vật trung tâm là công - nông - binh, là giai cấp công nhân và đội ngũ tiên phong của mình; thì trong thời bình và hội nhập, phẩm chất cơ bản của con người phải là hàm lượng trí tuệnăng suất lao động, với nhân vật trung tâm - theo tôi, đó là lực lượng trẻ, tầng lớp trí thứcgiới doanh nhân.

Từ những chuyển đổi làm nên gương mặt thời hôm nay, cần hướng tới một nhận thức mới về việc xây dựng con người - sao cho thích ứng và đáp ứng được yêu cầu của dân tộc đang trong một cuộc hội nhập lớn với khu vực và thế giới. Một thời đại như thế, ai là người có thể tiếp nhận, tiếp cận và làm chủ nó? Tất nhiên trước hết phải là những người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ 40% dân số; với sức năng động, dám nghĩ, dám thử, dám làm nhờ vào những trang bị tốt trong khả năng am hiểu, nắm vững, và làm chủ các phương tiện thông tin; có tri thức phong phú, đầy đủ trên các lĩnh vực mũi nhọn; và rất chuyên nghiệp trên nghề nghiệp được chọn.

Phải xây dựng con người trên các yêu cầu mới của kỷ nguyên thông tin; và tin tưởng ở họ.

Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt, đây chính là thế hệ từng làm nên các bước ngoặt trong các thời kỳ chuyển đổi của nó.

Để có được một lớp tuổi trẻ như vậy cần biết bao điều kiện. Họ cần được hưởng một nền giáo dục chu đáo, với những tri thức được trang bị đầy đủ, mà không nhồi nhét, đạt tầm khu vực và quốc tế. Được hưởng một bầu không khí trong lành từ gia đình ra mọi môi trường xã hội. Được hưởng sự thân thiện của bộ máy chính quyền từ thấp lên cao...

Sẽ rất khó khăn cho việc xuất hiện một đội ngũ trẻ như thế, nếu thiếu một hoặc tất cả những điều kiện ấy. Nếu xã hội, nếu bộ máy quản lý và thể chế chính trị không lo được, thì mỗi người, mỗi gia đình phải tự lo, bằng các cách chạy, từ chạy trường, chạy lớp, chạy xin việc cho đến chạy học bổng, chạy dự án để đi nước ngoài... Đó là tình hình đã diễn ra khá lâu, và chưa có dấu hiệu gì kết thúc.

Gương mặt thứ hai - rất cần được chăm nom, xây dựng để có được hình mẫu cho nó - đó là giới trí thức thuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Đây là yêu cầu đang thực sự nổi lên khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập và một nền kinh tế trí thức; khi văn hoá đang trở thành “nền tảng tinh thần”, “sức mạnh nội sinh” cho sự phát triển; khi sự phát triển về mọi phương diện của dân tộc phải dựa trên nền tảng văn hoá mới có thể giữ được cho dân tộc có gương mặt riêng, và bảo đảm được sự cân đối và bền vững mà không sa vào so lệch, khủng hoảng và suy thoái.

Gương mặt thứ ba là các doanh nhân trên mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông, lực lượng chủ chốt tạo nên sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế - xã hội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đây là gương mặt mới, rất mới trong xã hội ta, sau một thời dài nhoà mờ, chìm nổi, bị phê phán hoặc kỳ thị, thậm chí là đối tượng số 1 của chuyên chính vô sản, qua các cuộc cải tạo giai cấp hữu sản và các cuộc đấu tranh tư tưởng.

Phải chờ cho đến bây giờ, khi đất nước bước vào hội nhập, thì gương mặt các giới doanh nhân mới có được vai trò quan trọng của nó cho nền kinh tế, và trở thành biểu tượng của cái mới, rất đáng tôn vinh qua hệ thống truyền thông.

Thời hiện đại do giai cấp tư sản tạo lập đã có lịch sử trên dưới năm thế kỷ ở phương Tây. Từ thời tích lũy nguyên thủy tư bản đến nay, cả thế giới cùng với gương mặt riêng của giai cấp tư sản đã chứng kiến những thay đổi khó có đầu óc giàu tưởng tượng nào mà hình dung nổi. Vị tỷ phú giàu nhất thế giới bây giờ là Bill Gäte có tài sản trên dưới 100 tỷ đô la, số lớn dùng làm việc thiện. Đánh giá công tội của giai cấp tư sản là câu chuyện đã diễn ra cùng với lịch sử của nó. Nhưng lại có vấn đề vượt ra ngoài công và tội của một giai cấp, đó là vấn đề khẳng định sự phát triển chung của nhân quần và xã hội, từ thấp lên cao mà con người có thể rút ngắn, chứ không thể “bỏ qua” hoặc “đốt cháy” một cách tùy tiện, dễ dàng. Ý kiến sau đây của K. Marx rất đáng cho ta suy nghĩ: “Giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa phương tiện sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa mọi quan hệ xã hội. Trái lại, đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện cho sự tồn tại của mình”(7).

Giờ đây, khi dấn sâu vào thế kỷ XXI, với hành trang tinh thần là chủ nghĩa yêu nướckhát vọng canh tân, chúng ta còn phải vượt rất nhiều rào cản và thử thách, trong đó thử thách lớn nhất là việc xây dựng và bồi đắp một bản lĩnh, một nền tảng văn hóa làm nên cái vốn Người (với ba thành phần cơ bản như trên); bởi chỉ với cái vốn Người chúng ta mới có thể chủ động trong hội nhập để đến với mục tiêu không chỉ của một thời, mà là cho muôn đời con cháu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn Đề cương... trong bài này, rút ở văn bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, đăng trên Tiên phong số 1 (được xem là tái bản), ra ngày 10-11-1945.

(2). Sách Bàn về văn hóa, nghệ thuật; Tập II; Nxb. Văn học; 1986.

(3). Về phê bình văn học; Tạp chí Văn học số 11-1969.

(4). Tên một bài báo của Hoàng Trinh trên Tạp chí Văn học - 1965.

(5). Tên một bài báo của Mai Thúc Luân trên báo Văn hóa - 1963.

(6). Tên một vở kịch của Nguyễn Khải đăng trên Tác phẩm mới - 1974.

(7). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Nxb. Sự thật; H; 1963; tr.26.

KHXHNV & Đời sống khác:
“Xô viết Nghệ Tĩnh mãi mãi là niềm tự hào và kiêu hãnh, tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho Nghệ An hội nhập và phát triển” (11/9/2020)
Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 - Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam (1/9/2020)
Cách mạng tháng Tám 1945 - Giá trị lan tỏa lịch sử và hiện nay (1/9/2020)
Nhân kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) Vai trò to lớn của Bác Hồ trong Cách mạng tháng Tám (1/9/2020)
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống (7/8/2020)
Văn hóa nhà ở của người Việt (5/8/2020)
Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (29/7/2020)
10 tài năng trẻ KH&CN nhận giải Quả cầu vàng (29/7/2020)
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX (29/7/2020)
Lịch sử, ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 (22/7/2020)
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,127 | Tất cả: 2,472,189
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp