ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ
Tin đăng ngày: 29/7/2020 - Xem: 126
 

Định Thị Hải Đường

Cương Quốc công Nguyễn Xí, một người con ưu tú, tài giỏi của quê hương Cửa Lò, đã được vinh danh trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XV với những công lao trong sự nghiệp cứu nước đầu thế kỷ và trong sự nghiệp dựng nước thời Lê sơ. Đối với người dân Cửa Lò, công lao to lớn của ông còn gắn liền với công cuộc khai phá, mở mang vùng đất quê hương. Cho đến ngày nay, công ơn khẩn hoang, lập làng của ông và các con cháu vẫn được khắc sâu trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân Cửa Lò cũng như trong những dấu tích vật chất còn lưu giữ trên đôi bờ sông Xá và vùng quanh Thượng Xá xưa.

Upload

 

Đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí tại Nghi Lộc - Nghệ An

  1. Vùng đất Cửa Lò trước thế kỷ XV

Vùng Cửa Lò trên đất Nghệ An là khu vực miền duyên hải trải dài từ cửa sông Cấm (Cửa Lò) đến cửa sông Lam (Cửa Hội). Cho đến đầu thế kỷ XV, vùng đất Cửa Lò ngày nay, biển còn ăn sâu vào đất liền với nhiều đầm phá ven biển, dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vắng, chưa được khai khẩn nhiều(1). Theo Nghệ An ký, Cửa Lò ngày trước có tên là Cửa Xá. Sông Cấm đổ ra biển ở địa phận xã Thượng Xá (thuộc huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, quận Hoan Châu thời Lê sơ; ngày nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) nên cửa biển nơi đây được gọi là Cửa Xá hay Tấn Xá. Biển lùi, cùng với thời gian, dòng sông Cấm chảy xuống tận dãy núi Lò (tên chữ là Lô Sơn; bên kia xã Vạn Lộc ngày nay), cửa sông Cấm khi đó mới gọi là Cửa Lò. Cửa Hội là cửa của dòng sông Lam đổ ra biển ở địa phận xã Hội Thống cũ (ngày nay là xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), nên gọi là Cửa Hội(2).

Tại vùng Cửa Lò, Nguyễn Hợp (ông nội của Cương Quốc công Nguyễn Xí) vốn quê ở làng Cương Giản (nay là xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đã dời nhà ra ở Thượng Xá, vừa khai hoang cày ruộng, vừa làm nghề muối, trở thành ông tổ thứ nhất của dòng họ Nguyễn ở Thượng Xá. Nguyễn Hợp cùng với xóm làng khẩn hoang hai bên bờ sông Xá, lập ra làng Trung (đình làng Trung ngày nay là sân kho đội I hợp tác xã Nghi Hợp) và phát triển nghề làm muối. Tiếp nối Nguyễn Hợp, con trai ông là Nguyễn Hội tiếp tục nghề làm muối và công cuộc khẩn hoang vùng Cửa Lò, mở mang xóm làng, nhất là khai phá các đầm phá ven biển. Nguyễn Hội đã có công trong khai khẩn vùng đồng Hang, đồng Đìa, Cồn Thông và mở rộng vùng Nại Muối. Nhờ đó, ở Thượng Xá, từ làng Trung dần dần phát triển thêm làng Thượng(3).

Nguyễn Xí (1379 - 1465) thuộc đời thứ 3 của dòng họ Nguyễn trên đất Thượng Xá. Ông là con của Nguyễn Hội và bà Vũ Thị Hạch, được sinh ra tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay). Nguyễn Xí cùng các con cháu tiếp tục công cuộc khẩn hoang, lập làng của ông cha, mở mang, phát triển quê hương Thượng Xá cũng như vùng đất Cửa Lò.

  1. Chính sách “lộc điền” và khẩn hoang thời Lê sơ (1428 - 1527)

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vương triều Lê được thành lập. Trước yêu cầu của việc khôi phục nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh, nhà Lê đã nhanh chóng thực hiện chính sách khuyến khích nhân dân khẩn hoang, lập làng và cho các công thần khai quốc được khai khẩn đất hoang. Cùng với đó, nhà Lê cũng đưa nhiều tù binh người Minh, người Chăm đi khai phá các nơi, lập xóm làng. Nhiều công thần được cấp tù binh để khai khẩn các vùng đất hoang.

Đối với các công thần, cùng với việc định công phong tước, ngay từ triều vua Lê Thái Tổ, nhà vua đã ban thưởng ruộng đất (lộc điền), nhưng chưa thành chế độ với qui định rõ ràng. Cho đến năm 1477, vua Lê Thánh Tông ban hành thành chế độ lộc điền. Chế độ lộc điền chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp từ Tòng Tứ phẩm trở lên. Lộc điền gồm ruộng đất thế nghiệp (đời đời hưởng lộc và truyền lại cho con cháu); tứ điền (ruộng ân tứ), ao đầm, bãi dâu (chỉ cho hưởng dụng suốt đời, sau khi chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước), tự điền (ruộng tế; truyền lại con cháu lo việc thờ cúng).

Là một trong những công thần đứng đầu của triều Lê, Nguyễn Xí cũng được vua Lê ban cấp nhiều lộc điền. Thực hiện chính sách mở mang kinh tế, phục hưng đất nước của nhà Lê sơ, trên cơ sở lộc điền được ban cấp và ruộng đất, đất hoang, đầm phá mua thêm, Nguyễn Xí và các con cháu của ông đã tích cực chiêu dân khai phá đất hoang, lập thành xóm làng, phát triển kinh tế. Quê hương Cửa Lò cũng được mở mang, khai phá rộng lớn thêm vào thế kỷ XV gắn liền với công lao to lớn của Nguyễn Xí và các con cháu.

  1. Nguyễn Xí với công cuộc khẩn hoang, lập làng và khai thác biển vùng Cửa Lò

Nguyễn Xí (1396 - 1465) sinh ra tại quê hương Thượng Xá, trong một gia đình “mấy đời sống ở vùng biển với nghề nấu muối”. Từ nhỏ, ông đã cùng với anh cả là Nguyễn Biện theo cha đem muối ra vùng thượng du Thanh Hóa bán. Sau đó, ông ra Lam Sơn làm gia thần cho Lê Lợi và tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với nhiều công lao, đóng góp to lớn cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Khi nhà Lê được thành lập, Nguyễn Xí được phong quan tước, bổng lộc và được ban quốc tính là Lê Xí. Ông cũng là người đóng góp công lao hàng đầu trong việc đưa Lê Tư Thành lên ngôi vua, lập nên triều vua Lê Thánh Tông. Do đó, ông không chỉ được vua Lê Thánh Tông đặc phong quan tước đứng đầu hàng văn võ đại thần mà còn được ban cấp 350 mẫu ruộng thế nghiệp vào năm Canh Thìn (1460). Khi qua đời, ông được vua Lê Thánh Tông cho quan quân đưa linh cữu về an táng tại quê hương Thượng Xá, truy tặng tước Thái sư Cương Quốc công và cho xây dựng “Cương Quốc Công từ” ở Thượng Xá vào năm Đinh Hợi (1467)(4).

Theo tài liệu của một văn bia tại Nghệ An, các khu ruộng của Nguyễn Xí trải trên địa phận 93 xã thuộc 25 huyện với tổng diện tích 5.135 mẫu(5). Tại Nghệ An, số lộc điền và ruộng đất ao đầm Nguyễn Xí mua thêm là hơn 1.377 mẫu, trải trên địa bàn của các phủ Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và các huyện Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương. Trong số đó, ngoài 618 mẫu tại các nơi ở huyện Đông Thành, huyện Nam Đàn, huyện Thanh Chương thì có đến hơn 759 mẫu chủ yếu tập trung ở vùng Cửa Lò.

Nguyễn Xí đã mua 300 mẫu ruộng ở Đồng Sô (tức làng Phú Ích thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay) và 200 mẫu ruộng ở Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày nay). Ở Đồng Sô, ông dùng các tù binh người Minh (bị bắt từ thời chống quân Minh) được vua Lê ban cấp, cùng nhân dân địa phương khẩn hoang, lập ra làng Phú Ích. Những tù binh này được truyền đời cho con cháu những ruộng đất Nguyễn Xí dành cho họ, để lo việc hương khói tại xứ Đồng Sô. Cùng thời gian đó, Nguyễn Xí cũng tâu xin vua Lê cho được lập “Long thị” (Chợ Sơn, tại làng Long Trảo, xóm Kỳ Sơn, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc ngày nay) làm trung tâm giao lưu hàng hóa trong vùng và phát triển cuộc sống của người dân nơi đây(6).

Tháng 6 năm Ất Sửu (1445), Nguyễn Xí cùng Bình chương Tư đồ Lê Thận đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành thắng lợi, bắt được hàng trăm tù binh về giam ở xứ Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò ngày nay). Ông đã dùng số tù binh người Chăm vào việc khai khẩn đất đai ở Bàu Ổ. Theo gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò), công cuộc khẩn hoang xứ Bàu Ổ đã đưa đến sự ra đời của các làng Kim Ổ (thuộc địa bàn phường Nghi Hương), Thu Lũng (thuộc địa bàn phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò). Những hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi các làng xã mới được khai khẩn. Trước những công đức của Nguyễn Xí, dân làng về sau tự nhận là con nuôi (dưỡng tử) của ông. Vì vậy, trong số các chi họ là con cháu của Nguyễn Xí sau này, có 3 chi họ dưỡng tử (con nuôi) là con cháu những tù binh người Minh, người Chăm năm xưa(7).

Trong cuộc đời 37 năm làm quan của mình, Nguyễn Xí đã phụng sự 4 triều vua Lê tại thành Đông Kinh ở Thăng Long và không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình, trong đó có vùng đất Cửa Lò. Tuy vậy, tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương, chăm lo đến việc tổ chức khai khẩn, mở mang, xây dựng vùng quê Cửa Lò với việc giao cho các con trai quản lý khẩn hoang, lập làng, khai thác ruộng đất và thu hoa lợi, xây dựng và phát triển xóm làng ở nơi đây.

  1. Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng trên vùng đất Cửa Lò

Trong số 16 người con trai của Cương Quốc công Nguyễn Xí thì Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực là những người tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò của ông cha.

- Nguyễn Sư Hồi

Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506) là con trai trưởng của Cương Quốc công Nguyễn Xí, được vua Lê Thánh Tông thăng quan đến chức Nhập nội Thiếu úy, Phò mã Đô úy, ban quốc tính là Lê Sư Hồi và giao trọng trách trấn thủ, bố phòng 12 cửa biển của Đại Việt, trong đó có vùng biển Cửa Xá. Vào năm Canh Thìn (1460), Nguyễn Sư Hồi được vua ban cấp 150 mẫu ruộng thế nghiệp(8).

Trong thời gian trấn trị tại vùng Cửa Xá, ông đã lấy Cửa Xá làm trung tâm để tập hợp và chiêu mộ những người dân chài ven biển, nông dân nghèo ven sông Xá và các nơi đến khai phá, phát triển nghề đánh cá và làm ruộng. Năm 1493, Nguyễn Sư Hồi đã lập ra xã Hải Giang, bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (nay thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò)(9). Theo ghi chép của Hippolyte Le Breton trong An Tĩnh cổ lục thì Nguyễn Sư Hồi được ban cấp đầm phá Cây Bằng. Trên miền đất đai mới bồi đắp này, các làng Vạn Lộc, Tân Lộc từ đó mà hình thành(10). Cư dân Vạn Lộc một nửa làm nghề đánh cá, một nửa làm ruộng và từ nhiều nơi tụ tập lại nên thường gọi là “dân góp”(11).

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết, Nguyễn Sư Hồi là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho làng Vạn Lộc - tiền thân của phường Nghi Tân (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài khoảng năm cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc khai phá vùng đất này của ông. Theo tương truyền, chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng. Cùng với đó, việc tổ chức hội bơi thuyền ở làng Vạn Lộc (và làng Trung Kiên bên kia sông) là nhằm tái hiện lại những chiến tích oai hùng trên sông nước của thủy quân Nguyễn Sư Hồi và ghi nhớ việc ông từng dạy cho dân trong vùng cách đóng thuyền đi sông, đi biển(12).

Thực hiện công cuộc khẩn hoang của cha, Nguyễn Sư Hồi giao hàng trăm mẫu lộc điền của Nguyễn Xí cho tù binh người Minh, người Chăm khai khẩn, sản xuất, ổn định và phát triển cuộc sống. Từ đó lập thành các làng Kim Ổ, Thu Lũng Lộc Kén (phường Nghi Thu)(13). Tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, sau khi qua đời, Nguyễn Sư Hồi được dựng đền thờ và phong Thượng đẳng phúc thần. Dân làng Vạn Lộc đã tôn ông làm Thành hoàng làng. Cho đến nay, ở Vạn Lộc vẫn còn đền thờ Nguyễn Sư Hồi và di tích một đoạn lũy bảo vệ mặt biển do ông xây dựng tại cánh đồng Lũy(14).

- Nguyễn Kế Sài

Nguyễn Kế Sài là con trai thứ 5 của Cương Quốc công Nguyễn Xí. Dưới triều Lê sơ, ông làm quan đến chức Hành Thuận Hóa đạo tam phụ quốc quân đồng tri, Đô tổng binh sứ Ty Đô tổng binh sứ, được tặng Thái Bảo - Thượng trụ quốc. Cũng giống như Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài sinh trưởng và lập gia đình tại thành Đông Kinh. Ông đã sát cánh cùng anh trưởng Nguyễn Sư Hồi, mở mang, khai phá thêm cho vùng Thượng Xá, Vạn Lộc. Nguyễn Kế Sài chiêu dân khai khẩn vùng đồng Biển Trên, đồng Biển Dưới, trọt Nhà Trần ở phía Tây làng và vùng Đập Hách, trọt Miếu ở phía Đông làng. Lăng mộ của ông và phu nhân Phạm Thị Ngọc Ất đặt tại xã Thượng Xá(15).

- Nguyễn Trọng Đạt

Nguyễn Trọng Đạt là con trai thứ 10 của Cương Quốc công Nguyễn Xí, làm quan chức Đạt tín đại phu. Năm Ất Sửu (1445), ông theo cha đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành được thắng lợi. Với công lao đó, ông được vua ban phong Tín đạt đại phu xuất thân, tán trị công thần, Bắc quân đô đốc, lịch trung dinh thượng tướng quân Linh quận công.

Nguyễn Đạt được cha giao quản lý việc khai phá ở khu vực làng Kim Ổ và làng Phú Ích. Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết, Nguyễn Trọng Đạt được cha giao cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chăm (các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp) khai khẩn vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc tại Bàu Ổ. Cuộc khẩn hoang này đã lập nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng. Khi qua đời, ông được táng tại nơi đây. Dân làng sau này đã lập đền thờ ông trên mộ và tự nhận mình là con nuôi, mang họ Nguyễn Đình, sau đổi là Chế Đình, rồi lại đổi là Nguyễn Chế tại phường Nghi Thu(16).

- Nguyễn Nhân Thực

Nguyễn Nhân Thực là con trai thứ 14 của Nguyễn Xí, giữ chức Nghiêm dũng vệ tiền sở quản lĩnh. Ông khai khẩn vùng Đồng Nổi, Cửa Ngoài ở phía Tây Nam làng. Theo tác giả Phan Huy Lê, công việc mở mang vùng Thượng Xá được Nguyễn Xí giao cho con trai thứ 5 là Nguyễn Kế Sài và con trai thứ 14 là Nguyễn Nhân Thực(17).

* Một vài nhận xét

Như vậy, sinh ra trên quê hương Thượng Xá, trong một gia đình có truyền thống khai thác biển vùng Thượng Xá từ thời ông cha, Nguyễn Xí có tuổi ấu thơ gắn bó với vùng đất Cửa  Lò của những ngày theo cha và anh cày ruộng, làm muối và bán muối. Sau 10 năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí có những năm tháng “tột đỉnh vinh quang” chốn quan trường và những công lao, đóng góp to lớn của ông cho công cuộc khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò. Những lộc điền và ruộng đất ao đầm mua thêm của ông tại Cửa Lò là tiền đề vật chất cho công cuộc khẩn hoang, hình thành và phát triển những xóm làng mới trên quê hương Cửa Lò.

Tiếp nối công cuộc khẩn hoang của ông cha, những người con của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực đã cùng nhân dân địa phương tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khai khẩn, lập làng, phát triển kinh tế (nông nghiệp, khai thác biển), biến Cửa Lò thành vùng xóm làng trù phú với các nghề chính là cày ruộng, đánh cá và làm muối. Ghi nhớ những công lao, đóng góp to lớn của Cương Quốc công Nguyễn Xí và con cháu trên đất Nghệ An, trong đó có vùng Cửa Lò, nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi, thờ làm phúc thần. Một loạt di tích trên đôi bờ sông Xá và cả vùng quanh Thượng Xá xưa vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, gắn liền với công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Xí và các con cháu năm xưa.

 

Chú thích

  1. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Nxb. Văn hóa Thông tin - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2014, tr.89.
  2. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Quyển 1 và 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.207, 170; Ninh Viết Giao, Nghệ An đất phát nhân tài, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 75-76, 79.
  3. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.1144.
  4. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Văn Tân hiệu đính và giới thiệu, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.218; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.990; Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr. 1130-1131, 1143, 1144; Cương Quốc công di huấn, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Nxb. Nghệ An, 2013, tr.227.
  5. Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.246.
  6. Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 233, 146.
  7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhân vật chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.378; Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89-90; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.147, 233, 304, 26
  8. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.391; Lê Thánh Tông ngự tứ thạch bi, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.41.
  9. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, Tập 1 (Từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám 1945), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012,tr.375-377.
  10. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89.
  11. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.
  12. Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh - quá trình hình thành và phát triển, tr.24, dẫn theo Hoàng Anh Tài, Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.306; Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số 2 năm 2017, tr.30.
  13. Nguyễn Thị Liễu, Những đóng góp của gia đình Nguyễn Xí với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỷ XV, in trong Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, Nghệ An, 1997, tr.74.
  14. Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Sđd, tr.30.
  15. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Nhàn, Phả hệ dòng họ Nguyễn Đình và di duệ của Nguyễn Xí hiện nay trên đất Nghệ Tĩnh và Bùi Ngọc Tam, Truyền thống thượng võ của gia tộc Nguyễn Xí, đều in trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sđd, tr.40, 75; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.32, 187.
  16. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 304, 206-207.
  17. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.
Đất và người xứ Nghệ khác:
CEO Nghiêm Tiễn Viễn - chàng trai đam mê công nghệ với Giải Đặc biệt Sáng tạo KH&CN Nghệ An 2020 (27/9/2020)
Đồng chí Trịnh Thuyết - chiến sỹ cộng sản Xô Viết kiên cường, người con ưu tú của quê hương Thanh Chương (11/9/2020)
Lễ hội đón tiếng sấm của dân tộc Ơ Đu (24/8/2020)
Tục làm vía - Tín ngưỡng đặc sắc người Thái (5/8/2020)
Kỷ niệm 90 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh: Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (31/7/2020)
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ (29/7/2020)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Tấm gương người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (29/7/2020)
Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (22/7/2020)
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 924 | Tất cả: 2,471,986
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp