NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò
Tin đăng ngày: 6/7/2020 - Xem: 168
 

TS. Lê Thị Hiếu

  1. Nghiên cứu biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng cư dân vùng biển Cửa Lò từ tiếp cận lý thuyết

Lý thuyết “chức năng văn hóa” do B. Malinowski đề xướng thể hiện trong công trình Khoa học, và Tôn giáo và các bài luận khác, B. Malinowski nhấn mạnh đến các nghi lễ ma thuật của cư dân đảo Trobriand ở Thái Bình Dương dù được xem là đỉnh cao của sự ngu dốt và phi lý, nhưng có thể có tính hiệu quả về mặt tinh thần. Chẳng hạn như, khi cư dân quần đảo Trobriands đi đánh bắt ở các đầm phá, đó là một vấn đề dễ hiểu. Nhưng khi họ ra khỏi những rặng đá, ra khơi xa với những thay đổi thất thường và mối nguy hiểm, những ngọn sóng dữ, những cơn bão bất chợt, những mẻ lưới không đoán được và những khó khăn khác, họ thường dựa vào nghi lễ ma thuật để làm dịu bớt nỗi sợ và tiếp tục công việc. Khi ra biển đánh cá, độ rủi ro tăng cao và kết quả cũng bấp bênh hơn. Những ngư phủ Trobriand thường làm lễ và phù phép để trấn an chính mình về mặt tâm lí, mong được an toàn và được mẻ cá to [5; 202].

Từ tiếp cận hiện tượng tâm lý này của cư dân quần đảo Trobriands, để chúng ta làm sáng rõ hơn về nhu cầu đời sống tâm linh của người dân vùng biển qua thực tiễn Cửa Lò trong bối cảnh hiện nay. Trước bối cảnh phát triển kinh tế cư dân vùng biển xuất hiện tâm lý bất an, họ cần sự cạnh tranh và một số nhu cầu khác trong cuộc sống, từ đó họ tìm đến thần linh. Hiện tượng cư dân vùng biển chuyển từ cầu ngư sang cầu lộc, cầu tài, cầu làm ăn buôn bán, đứng từ quan điểm của trường phái chức năng có thể giải thích do mức độ rủi ro trong buôn bán, kinh doanh, xuất khẩu lao động cũng không thua kém như khi đối diện với môi trường biển khơi nên họ tiếp tục tìm kiếm cho mình chỗ dựa nơi thần linh.

Các thực hành tín ngưỡng, thực chất là theo chức năng “an thần”, trấn an và tạo chỗ dựa tinh thần cho các hoạt động kinh tế - xã hội của cư dân. Điều đó tạo cơ hội để văn hóa truyền thống tồn tại và phát huy trong bối cảnh kinh tế biến đổi.

  1. Biến đổi văn hóa qua thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò

Cửa Lò có vị trí đặc biệt với ba mặt sông biển, cư dân chủ yếu sống bằng nghề đi biển nên tín ngưỡng mang đậm văn hóa cư dân vùng biển. Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, thờ cá ông đi sâu vào đời sống tâm linh của cư dân vùng biển, có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế biển cũng như khẳng định quá trình con người nơi đây đã gắn bó, thích ứng và làm chủ biển khơi.

Ngày nay, bối cảnh kinh tế, xã hội đã tác động lớn đến sự thay đổi ở Cửa Lò, một trong những biểu hiện rõ nét nhất là quá trình chuyển đổi từ ngư nghiệp truyền thống sang phát triển một số ngành nghề kinh tế khác, trong đó điển hình là kinh tế du lịch.

2.1. Biến đổi qua thực hành tín ngưỡng thờ thành hoàng làng

Trước đây, thành hoàng là vị thần được người dân tôn thờ chính trong các đình làng, cai quản toàn bộ thôn xã, hộ mệnh, phù hộ và che chở cũng như ban phúc cho dân làng. Từ xưa, đền làng là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt của người dân; cũng là nơi nuôi dưỡng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nơi thực hành nghi lễ và các sinh hoạt văn hóa xã hội.

Hiện nay, hoạt động tín ngưỡng gần như được người dân duy trì mỗi tháng hai kỳ vào ngày rằm, mồng một tại đền Mai Bảng, đền Yên Lương (phường Nghi Thủy), đền làng Hiếu (Nghi Hải), trên 90% cư dân đi lễ. Mọi người khi đây đều mang những ước nguyện cuộc sống đến với thần linh, cầu xin cho gia đình có một tháng bình yên và gặp nhiều may mắn trong làm ăn, kinh doanh và phát triển kinh tế, gia đình.

Khảo sát mức độ tham gia thực hành tín ngưỡng tại đền làng chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 3.2. Mức độ tham gia thực hành tín ngưỡng tại đền làng

(Tác giả khảo sát năm 2018)

 Bảng số liệu trên cho thấy mức độ tham gia thực hành tín ngưỡng tại đền làng của người dân rất cao, chiếm 93%. Trong bối cảnh kinh tế có nhiều thay đổi thực hành tín ngưỡng thờ cúng được người dân quan tâm hơn, điều này chứng tỏ nhu cầu tâm linh chiếm vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân Cửa Lò. Hiện tượng này giống như một sự trấn an tinh thần trong cuộc sống của người dân biển.

Trong bối cảnh hiện nay, khi cư dân vùng biển Cửa Lò chuyển từ ngư nghiệp truyền thống sang một số ngành nghề khác, điều kiện thu nhập nâng cao, đồng tiền kiếm được trở nên dễ dàng hơn, thúc đẩy kinh tế gia đình ngày một phát triển. Thành công đó một phần là do sự nỗ lực không ngừng của người dân, mặt khác người ta cũng nghĩ đến việc do thần linh giúp đỡ. Với tâm lý như vậy nên khi thực hành tín ngưỡng tại đền làng họ yên tâm hơn và giao niềm tin cho thần linh để cầu mong cuộc sống bình yên, được bền vững và lâu dài hơn nữa. Những người đi lễ đều rất tin tưởng vào sự linh thiêng của thành hoàng làng.

 Niềm tin vào thành hoàng làng đã thu hút đông đảo người dân trong làng vừa đi lễ vừa tham gia sinh hoạt đền làng. Đối tượng đi lễ cũng rất đa dạng và phong phú, trong số những người đi lễ có cả những công chức, viên chức, học sinh, sinh viên, ngư dân, nông dân, thương nhân... Mỗi đối tượng đều cầu mong cho mình đạt được ước nguyện riêng: với những người là viên chức, công chức nhà nước đến để xin được thăng quan, tiến chức, công việc được ổn định; những người kinh doanh cầu buôn may, bán đắt; học sinh, sinh viên xin thi cử đỗ đạt, điểm cao, có việc làm ổn định sau khi ra trường; ngư dân xin đánh bắt được nhiều cá, đi thuyền được bình an; những chủ nhà hàng, khách sạn, người buôn bán hải sản xin được đông khách trong mùa du lịch... Một điểm chung mà tất cả các đối tượng đến xin tại đền là cầu cho gia đình và người thân luôn được bình an, sức khỏe dồi dào và tăng thu nhập cho gia đình.

Đi lễ còn là dịp để mọi người gặp gỡ trao đổi, chia sẻ khó khăn, kinh nghiệm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế của người dân trong làng. Đến đây gần như mọi thông tin trong làng đều rõ, thậm chí chuyện gia đình, con cái đều được giãi bày tại đây. Ngày thường mọi người bận làm ăn, buôn bán không có thời gian để gặp gỡ nhau, chỉ những dịp này mọi người mới có điều kiện gặp gỡ trao đổi tâm tư nguyện vọng, thắt chặt thêm mối quan hệ làng xóm. Như vậy, các giá trị văn hóa truyền thống của cư dân vùng biển tiếp tục được củng cố và phát triển thông qua nhu cầu tín ngưỡng.

Giữa lúc nền kinh tế thị trường, cụ thể là kinh tế du lịch đang lấn át không gian văn hóa thì thông qua nhu cầu thực hành tín ngưỡng các giá trị văn hóa truyền thống được củng cố và tiếp tục phát huy. Nét riêng này tạo cho Cửa Lò có chiều sâu trong bảo tồn văn hóa truyền thống.

Từ hoạt động tín ngưỡng xuất hiện thêm nhiều hoạt động khác vừa phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay vừa góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa làng truyền thống của cư dân vùng biển. Mặc dầu thị xã Cửa Lò mở rộng phát triển kinh tế du lịch nhưng những giá trị văn hóa không bị lấn át bởi hoạt động này mà nó được chính người dân gìn giữ, bảo lưu. Vì vậy, những thay đổi trong văn hóa truyền thống biểu hiện theo hình thức bên ngoài còn bản chất bên trong không có sự thay đổi.

2.2. Biến đổi văn hóa qua thực hành lễ hội  

Cửa Lò vốn xuất phát là một làng chài nhỏ, người dân sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản, cuộc sống lênh đênh trên biển khơi, thường gặp nhiều gian nan, nguy hiểm, luôn phải đối mặt với phong ba, bão tố, sóng dữ. Vì vậy, lễ hội không thể thiếu trong đời sống của người dân nơi đây.

Với sự phát triển kinh tế du lịch, lễ hội của cư dân vùng biển có nhiều thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển. Lễ hội đền Mai Bảng, phường Nghi Thủy là một điển hình.

Lễ hội đền Mai Bảng được tổ chức hàng năm vào ngày giỗ Chiêu Trưng vương Lê Khôi (3/5 âm lịch). Từ 10 năm nay, các nghi thức rước được giản lược dần, trong đó bỏ nghi thức rước qua dòng họ điều này đồng nghĩa với việc giảm ý nghĩa gắn kết giữa làng với dòng họ. Tìm hiểu về nguyên nhân của sự thay đổi này, ông Miền (Phó Ban Quản lý đền làng) cho biết: Nghi thức rước thần qua các dòng họ sau đó con cháu ra nghinh đón làm lễ bái tạ, do các cụ trong ban quản lý đền làng trước đây cắt bỏ vì thấy nó rườm rà không cần thiết. Tuy nhiên, một số người dân cho rằng nghi thức này thay đổi làm mất đi ý nghĩa trong lễ hội truyền thống. Ông Lương (75 tuổi - phường Nghi Thủy) cho biết: Nghi lễ này có từ bao đời, nay bị xóa bỏ làm giảm vai trò của dòng họ trong lễ hội. Từ đó ảnh hưởng đến ý nghĩa của lễ hội truyền thống.

Từ năm 2015, trong lễ hội xuất hiện thêm một chặng rước mới: sau khi rước thần từ đền Cửa Lạch về đền làng Mai Bảng người dân rước thêm một chặng từ đền Mai Bảng vòng xung quanh thị xã. Phương tiện rước ở chặng này là bằng xe điện (loại xe phục vụ khách du lịch) và xe ô tô bán tải. Kiệu thần được trang trí lộng lẫy trên một xe bán tải, theo sau là đoàn rước với gần 300 xe mô tô điện, trên mỗi xe được trang trí đầy đủ các loại cờ với nhiều màu sắc rực rỡ… Với nghi thức rước này lễ hội thu hút được đông đảo những người làm ăn buôn bán và những người dân trong làng tham gia, đồng thời thể hiện được nhu cầu quảng bá hình ảnh đền làng đến với du khách.

Nghi thức này được thực hiện sau khi đã hoàn thành các nghi thức truyền thống trong lễ hội. Nghi thức mới được sắp xếp ở phần cuối của buổi lễ để không làm ảnh hưởng đến nghi lễ truyền thống. Điều đó được người dân địa phương đồng tình ủng hộ và xem nghi thức mới này là một hình thức thể hiện văn hóa địa phương với du khách. Nhờ những thay đổi phù hợp nên văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại có sự dung hòa và gắn kết với nhau.

Như vậy, trước những thay đổi về kinh tế những nghi thức truyền thống trong lễ hội vẫn được giữ nguyên. Những thay đổi lễ hội chịu tác động bởi nhu cầu phát triển kinh tế, chủ trương chung của thị xã nhưng những giá trị trong lễ hội truyền thống của cư dân làng Mai Bảng vẫn được người dân địa phương bảo tồn theo cách riêng của mình mà không có sự thay đổi. Điều đó tạo nên đặc điểm mới trong văn hóa cư dân vùng biển là trước bối cảnh biến đổi, bản chất bên trong văn hóa không có sự thay đổi, những thay đổi mang tính hình thức bên ngoài.

Upload

Lễ hội đền Mai Bảng, Cửa Lò có nhiều thay đổi trong các nghi lễ

3. Xu hướng biến đổi văn hóa qua thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò

Sự dung hòa giữa văn hóa truyền thống và văn hóa mới qua hoạt động tín ngưỡng của cư dân vùng biển.

Người dân vùng biển Cửa Lò từ ngàn đời nay vẫn luôn xem sinh hoạt tâm linh như một phần không thể thiếu trong đời sống sản xuất và trong cuộc sống hàng ngày. Điều đó xuất phát bởi nguyên do môi trường biển khơi thường chứa nhiều rủi ro hiểm nguy, con người có lúc vẫn bị bất lực trước thiên nhiên, khiến họ luôn cảm thấy bất an trong cuộc sống. Thần linh là nhân vật siêu nhiên tạo điểm tựa tinh thần giúp cư dân vùng biển có đủ niềm tin để vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Lễ hội đền làng, lễ hội cầu ngư được người dân Cửa Lò nuôi dưỡng và dung hòa trong môi trường hiện đại. Sự dung hòa thể hiện trong sự đồng hành, trải nghiệm, giúp họ có thêm niềm tin, hy vọng vươn tới những mục tiêu trong cuộc sống.

Khi người dân vùng biển có sự chuyển đổi về nghề nghiệp thì nhu cầu tâm linh theo đó được người dân hướng đến một mục đích khác. Thay vì cầu mong cho những chuyến đi biển được bình an, thì nay người dân cầu xin việc làm ăn buôn bán được thuận lợi, kinh tế khá giả, sức khỏe dồi dào và hàng loạt nhu cầu khác trong cuộc sống.

Như vậy, mặc dù nghề nghiệp có nhiều thay đổi song niềm tin vào thần linh của cư dân vùng biển không mất đi. Nó thay đổi theo nhu cầu và tính chất của từng công việc. Các nghi lễ truyền thống không mất đi mà nó tiếp tục củng cố, hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu hiện đại. Nhờ vậy, những giá trị trong văn hóa tín ngưỡng được dung hòa và phát huy hiệu quả.

Trước bối cảnh văn hóa làng quê vùng biển đang có những thay đổi do nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Đền làng lại là nơi nuôi dưỡng, dung hòa các mối quan hệ xã hội. Tại đền làng mọi người có thể chia sẻ với nhau những khó khăn, những kinh nghiệm, những tâm tư nguyện vọng của cư dân vùng biển từ đó tạo nên những nét riêng về văn hóa làng ven biển thời hiện đại.

Trong quá trình phát triển mối quan hệ cộng đồng làng được củng cố qua sinh hoạt đền làng. Mọi ý thức, trách nhiệm về việc chung của làng được cư dân Cửa Lò vun đắp và nuôi dưỡng thông qua hoạt động tín ngưỡng. Biểu hiện rõ nét nhất là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, người ta có thể bon chen nhau ngoài thị trường, tranh giành khách hàng, so bì lợi ích hơn thua, nhưng khi vào đến cổng đền thì dường như mọi thứ được bỏ lại đằng sau. Những vấn đề của cuộc sống đời thường, những hoạt động thương mại của nền kinh tế thị trường gần như không tồn tại trong không gian đền làng.

Với cư dân vùng biển Cửa Lò nói riêng và cư dân vùng biển Nghệ An nói chung, đền làng là nơi bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục dân gian, quan hệ làng xóm trong cộng đồng thời hiện đại. Bởi khi nền kinh tế biển truyền thống chuyển dần sang kinh tế biển kết hợp kinh tế hàng du lịch, hàng hóa phát triển người dân nơi đây đối mặt với nhiều thách thức của nền kinh tế thị trường, nguy cơ bệnh tật tăng cao, nguy cơ phá sản lỗ vốn khi làm ăn... đã đưa họ tìm đến chỗ dựa an toàn nơi thần linh. Có những người giàu lên từ làm ăn buôn bán, họ sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận của mình bằng việc đóng góp công ích xây dựng làng để thể hiện vị thế cá nhân của mình trước cộng đồng làng. Một số nghiên cứu đã từng đề cập đến nguyên nhân vấn đề này: Khi con người luôn hướng đến sự “an toàn” về tinh thần và khi phải đối mặt với những thảm hỏa về tự nhiên và bất công trong xã hội (thuyết CNH - HĐH của các nhà nhân học hiện đại), do sự tăng trưởng kinh tế [2], do lo sợ đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống phải đối mặt với đô thị hóa [3], hoặc do sự khẳng định vai trò của một số cá nhân trước cộng đồng làng xã [1].

Mối quan hệ cộng đồng của cư dân vùng biển Cửa Lò nó không chỉ có sự dung hòa mà nó liên tục phát triển trong thời hiện đại, được củng cố thường xuyên hơn qua sinh hoạt tín ngưỡng. Thói quen đi lễ đền làng vào ngày rằm, mồng một được người dân phường Nghi Tân, Nghi Thủy duy trì thường xuyên, trở thành nét sinh hoạt không thể thiếu trong cuộc sống hiện tại. Họ đến đền để thắp hương cầu xin cho cuộc sống được bình yên và may mắn, gửi niềm tin vào thần linh trước những khó khăn cuộc sống. Đi lễ đền làng không chỉ là sinh hoạt tâm linh mà là dịp để người dân gặp gỡ trao đổi thông tin, là dịp để  người dân thực hiện trách nhiệm của mình với đền làng. Những yếu tố này diễn ra thường xuyên nên văn hóa truyền thống trở thành một phần trong cuộc sống, sống chung cùng văn hóa hiện đại. Về điểm này có thể hiểu rằng không gian sinh hoạt văn hóa quyết định đến sự tồn tại của văn hóa truyền thống trong xã hội đương đại. Văn hóa truyền thống sẽ tiếp tục được phát huy nếu được cộng đồng nuôi dưỡng khi có đủ điều kiện về không gian văn hóa. 

Cư dân Cửa Lò từ bao đời gắn bó với đền làng, họ xem Thành hoàng là vị thần bảo mệnh, giúp họ vượt qua mọi khó khăn, che chở cho họ được bình yên và hạnh phúc. Lễ hội đền làng là dịp họ bày tỏ lòng biết ơn tới thần Lê Khôi, thần cá Ông, Nguyễn Sư Hồi..., là dịp để các thực hành văn hóa truyền thống của cư dân vùng biển có thể hòa nhập vào văn hóa hiện tại.

Qua đi sâu tìm hiểu các thực hành văn hóa của người dân nơi đây, chúng tôi nhận thấy các yếu tố văn hóa luôn có sự xuất hiện giữa cũ và mới. Văn hóa mới xuất hiện khi những giá trị văn hóa truyền thống chưa hoàn toàn mất đi, mà nó còn được người dân tiếp tục phát huy trong môi trường mới và có sự dung hòa với nhau. Rõ nét nhất ở đây là sự thay đổi trong các lễ hội tín ngưỡng dân gian (lễ hội cầu ngư, lễ hội Thành hoàng làng).

Văn hóa mới xuất hiện do nhu cầu phát triển của cộng đồng được chính cộng đồng sáng tạo (cụ thể ở đây là cư dân Cửa Lò), cải biến phù hợp với văn hóa truyền thống, nên được chính cộng đồng nuôi dưỡng và phát huy. Đó chính là lý do để văn hóa truyền thống luôn trường tồn và phát huy trước sự thay đổi của xã hội hiện nay.

Quá trình chuyển đổi từ ngư nghiệp truyền thống sang kinh doanh dịch vụ, du lịch đã tác động đến tín ngưỡng của người dân vùng biển Cửa Lò. Nếu như trước đây trong lễ cầu ngư người ta chỉ quan tâm đến việc cầu xin thần linh đi biển được bình yên, mưa thuận gió hòa, thì nay, người ta còn đến đền, miếu thờ cá Ông để cầu xin thần linh phù hộ sức khỏe, công danh, sự nghiệp, tăng thu nhập trong làm ăn kinh tế, trong phát triển du lịch, dịch vụ... Những biến đổi trong tín ngưỡng cầu ngư phụ thuộc rất lớn vào xu hướng nghề nghiệp, việc tìm kiếm an toàn trong nghề nghiệp thông qua thần linh được củng cố và có phần được mở rộng hơn trước đây. Yếu tố này đã làm cho văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại có thêm sợi dây gắn kết bởi nhu cầu cuộc sống hiện tại.

Yếu tố văn hóa truyền thống tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng nhờ có sự dung hòa, gắn kết với văn hóa hiện đại. Cửa Lò vốn là địa phương thuần ngư, những tín ngưỡng dân gian đậm bản sắc của nghề đi biển luôn được người dân tôn trọng, giữ gìn và tiếp tục được cộng đồng cư dân phát huy trong kinh doanh, buôn bán. Trên nền tảng của văn hóa truyền thống,  xuất hiện những yếu tố trong văn hóa mới, nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dân trong bối cảnh hiện đại.

Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện dẫn đến những tác động trong văn hóa truyền thống. Sự tác động này thể hiện hai mặt: một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi để văn hóa địa phương tiếp thu và hình thành những giá trị văn hoá mới; mặt khác, nó chứa đựng nguy cơ phá vỡ hoặc làm phai nhạt những giá trị văn hoá truyền thống đã được tích tụ.

Văn hóa biến đổi theo hình thức bên ngoài song vẫn giữ cái cốt lõi của văn hóa truyền thống.

Từ thực trạng biến đổi văn hóa qua hoạt động tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò biến đổi thiên về cấu trúc bên ngoài song vẫn giữ cái cốt lõi của văn hóa truyền thống bên trong. Điều này trái ngược với biến đổi do tác động của hiện đại hóa mà R. Inglehart đã chỉ ra: xu hướng biến đổi tất yếu từ giai đoạn hiện đại tới hậu hiện đại; sự biến đổi chính trị, kinh tế, văn hóa; sự biến đổi các giá trị xã hội trong quá trình hiện đại hóa; tác động của biến đổi kinh tế tới biến đổi chính trị, xã hội văn hóa và tác động của văn hóa tới các chiều kích biến đổi, đặc biệt tới là tăng trưởng kinh tế[4]. Thực tế cho thấy các thực hành trong văn hóa của cư dân Cửa Lò vẫn tồn tại khá bền vững các yếu tố văn hóa truyền thống ở bề sâu. Dưới tác động của quá trình phát triển kinh tế văn hóa, cư dân Cửa Lò có nhiều biến đổi từ nhu cầu cuộc sống. Sự thay đổi này mang tính hình thức nhiều hơn, bản chất bên trong của mối quan hệ gia đình, nghi lễ truyền thống hoàn toàn không có sự thay đổi.

Trong thực hành văn hóa tín ngưỡng những nghi thức mới xuất hiện như nghi lễ rước thần bằng tàu thủy, xe điện... nhằm thỏa mãn nhu cầu người dân và quảng bá hình ảnh địa phương với du khách. Tuy nhiên, những thay đổi dựa trên nguyên tắc tôn trọng nghi lễ truyền thống, hoàn toàn độc lập với nghi thức truyền thống được chính người dân địa phương chấp thuận.

Nếu như trước đây người dân địa phương đi lễ đền làng, làm lễ cầu ngư với mục đích là cầu cho những chuyến đi biển bình an, mưa thuận gió hòa thì nay người ta đi lễ đền làng, làm lễ cầu ngư để buôn may bán đắt, làm ăn thuận lợi, sức khỏe bình yên. Như vậy, cái cốt lõi trong văn hóa truyền thống là niềm tin vào thần thành hoàng, thần linh biển hoàn toàn không thay đổi. Hiện tượng này tương tự như hiện tượng tâm lý mà B. Malinowski đề cập đến về mục đích thực hành tín ngưỡng của người dân đảo Trobriand ở Thái Bình Dương.

 Trong quá trình biến đổi, văn hóa truyền thống luôn tồn tại trong tâm thức của con người. Sự cải biến ít nhiều trong văn hóa từ hoạt động kinh tế, hoạt động tín ngưỡng đã cho thấy văn hóa truyền thống vẫn luôn chiếm vị trí bền vững trong đời sống cộng đồng cư dân vùng biển đó chính là cái cốt lõi bên trong. Cái cốt lõi trong văn hóa truyền thống không hoàn toàn bị mất đi mà nó vẫn được những người dân gìn giữ và tiếp tục phát huy qua thời gian. Những yếu tố văn hóa hiện đại khi đưa vào cuộc sống của cư dân vùng biển trái với giá trị văn hóa truyền thống và bị người dân đào thải.

Khác với cư dân các vùng đô thị khác, quá trình đô thị hóa nhanh chóng phá vỡ bản sắc văn hóa, khiến con người ta nhanh chóng chối bỏ quá khứ để hướng đến yếu tố hiện đại, thì cư dân vùng biển Cửa Lò vẫn gìn giữ được các yếu tố trong văn hóa truyền thống.

Mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại qua thực hành văn hóa.

Xuất phát từ bản năng tự nhiên và nhu cầu sinh tồn, những cư dân vùng biển luôn muốn tìm đến các thế lực siêu hình để lý giải cho những điều không may, những nghi ngờ trong cuộc sống xuất hiện ngày càng nhiều như: Tại sao buôn bán ế ẩm? Tại sao mùa du lịch năm nay không có nhiều khách? Tại sao chuyến đi khơi này thu hoạch cá không được nhiều?... cùng nhiều hiện tượng khác xuất hiện. Sự sợ hãi và những bất an trong cuộc sống xuất hiện ngày càng nhiều khiến chất lượng cuộc sống có sự suy giảm. Khi rủi ro trong làm ăn buôn bán tăng cao hiện tượng mê tín dị đoan bùng nổ, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của từng cá nhân trong cộng đồng.

Khi các yếu tố văn hóa mới du nhập và biến đổi, nếu chính quyền và người dân không nhận thức tốt thì sẽ làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu văn hóa mới.

Khi kinh tế phát triển, văn hóa được biến thành phương tiện quảng bá, những thực hành trong văn hóa sẽ bị cuốn theo nhu cầu này. Tuy nhiên, hiệu quả đem lại không cao, trái lại còn gây phản cảm với người dân. Đó cũng là một hiện tượng để minh chứng cho việc biến văn hóa thành phương tiện hàng hóa để tiếp thu văn hóa hiện đại mà bỏ qua yếu tố truyền thống tại địa phương.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Ben Kerkvliet và Nguyễn Quang Ngọc (2000), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội.
  2. Nguyễn Thị Huế (2011), Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  3. Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh (Đồng chủ biên, 1993), Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, Hà Nội.
  4. Ronald Inglehart, Hiện đại hóa và Hậu hiện đại hóa (Nguyễn Thị Phương Mai, Nguyễn Chí Tình, Nguyễn Mạnh Trường, Vũ Thị Minh Chi dịch), NXB Chính trị Quốc gia, 2008, Hà Nội.
  5. Bronislaw Malinowski (1992), Magic, Science and Religion, Waveland Press, Illinois: 87.
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
“Khi chuyển được phẩm chất nổi trội của từng cá nhân thành cái tốt của cả hệ thống mới phát huy được tinh thần khai sáng và Nghệ An mới phát triển bứt phá được” (17/9/2020)
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030 (29/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch (6/7/2020)
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò (6/7/2020)
Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách (6/7/2020)
Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo (12/6/2020)
Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An (11/6/2020)
Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (31/5/2020)
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 742 | Tất cả: 2,470,182
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp