ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí
Tin đăng ngày: 6/7/2020 - Xem: 154
 

Bùi Văn Chất (Sưu tầm và biên dịch)

 Vài nét về tác giả, tác phẩm

Phan Huy Chú (1782 - 1840), nhà thư tịch lớn, nhà bác học Việt Nam, con của danh nhân Phan Huy Ích, quê xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, Nghệ An; Mẹ ông là Ngô Thị Thực, con gái của Ngô Thì Sĩ, em gái của Ngô Thì Nhậm, bà mất khi ông 10 tuổi…

Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Thụy Khuê, thuộc huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai trước thuộc tỉnh Sơn Tây, sau thuộc Hà Tây (nay là thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội). Ông từng được Ngô Thì Nhậm (cậu ruột) rèn dạy từ lúc 6 tuổi, nổi tiếng hay chữ ở phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây, nhưng cả hai lần thi Hương (Đinh Mão, 1807; và Kỷ Mão, 1819), ông chỉ đỗ Tú tài (nên tục gọi ông là “Kép Thầy”, vì ở làng Thầy và đỗ hai lần). Kể từ đó, ông thôi việc thi cử, chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu và trước tác. “Hoàng Việt địa dư chí” (HVĐDC) là một trong những công trình lớn của ông. HVĐDC gồm 2 quyển: I và II: Q.1 gồm các trấn: Thuận Hoá 順化, Quảng Bình 廣平, Quảng Nam 廣南, Biên Hoà 邊和, Phiên An 藩安, Vĩnh Thanh 永清, Định Tường 定祥, Hà Tiên 河仙, Hà Nội 河内, Nam Định 南定, Kinh Bắc 京北, Sơn Tây 山西, Hải Dương 海陽. Q.2 gồm các trấn: Quảng An 廣安, Hưng Hoá 興化, Tuyên Quang 宣光, Thái Nguyên 太原, Cao Bằng 高平, Lạng Sơn 諒山, Thanh Hoa 清華, Nghệ An 乂安.

Bản dịch sau đây, theo nguyên văn cuốn “Hoàng Việt địa dư chí” do Quan Văn Đường tàng bản năm Duy Tân 1 Đinh Mùi (1907).

Xin được lưu ý: Theo bản này, về sự kiện thay đổi danh xưng, đối chiếu với “Niên biểu Việt Nam Nxb KHXH HN 1984” có chỗ chưa khớp, sau đây:  “及西都時改乂安为臨安鎮演州为望江鎮胡時改演州为靈源府Cập Tây Đô thời cái Nghệ An vi Lâm An trấn, Diễn Châu vi Vọng Giang trấn. Hồ thời, cải Diễn Châu vi Linh Nguyên phủ.

Theo đó, thời Tây Đô có trước thời Hồ, nhưng trong “Niên biểu Việt Nam” ghi rõ: Thời Hồ, kinh đô Tây Đô, Thanh Hóa (tr25, sđd), không phải là hai thời kỳ khác nhau. Ở tồn nghi này, chúng tôi chưa điền năm, theo dương lịch vào thời Tây Đô  và xin được các thức giả hướng dẫn thêm (ND).

Upload

Thành cổ Nghệ An    Anh: Duy Sơn

Nghệ An trấn

Nghệ An xưa thuộc nước Việt Thường. Thời thuộc Tần (248T - 210T), gọi là Tượng quận, thuộc Hán (x - 43), gọi Nhật Nam; thuộc Ngô (x - 244), gọi quận Cửu Đức. Thời thuộc Lương (305 - 543) đổi là châu, lúc đầu là Hoan Châu, về sau đổi Diễn Châu. Thời Nhà Đinh (970 - x), theo thế, thời nhà Lý (1010 - x) đổi là trại. Tới năm Thiên Thành thứ 3 (1028 - 1033), đổi Hoan Châu thành Nghệ An, tách Diễn Châu là châu. Buổi đầu, nhà Trần (1225 - x) theo vậy, xưng Nghệ An là phủ. Duệ Tông (1373 - 1377) đổi Nghệ An làm lộ, phân Nghệ An làm Nhật Nam, có Nam - Bắc - Trung bố lộ. Đến thời Tây Đô đổi Nghệ An là trấn Lâm An, Diễn Châu là trấn Vọng Giang. Thời Nhà Hồ (1400 - 1407), đổi Diễn Châu là phủ Linh Nguyên, phân Thanh Hoa, Cửu Chân, Ái Châu làm kinh kỳ tứ phụ. Thời thuộc Minh (1414 - 1417), trở lại Diễn Châu Nghệ An là lộ, phủ. Thời Lê sơ theo thế, vào giữa những năm niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469), gọi là thừa tuyên Nghệ An, gồm 9 phủ, 25 huyện, 3 châu. Đó là: Phủ Đức Quang, nay cải Đức Thọ gồm 6 huyện: Thiên Lộc; La Sơn; Chân Lộc; Thanh Chương; Hương Sơn và Nghi Lộc; Phủ Diễn Châu gồm 2 huyện: Đông Thành và Quỳnh Lưu; Phủ Anh Đô gồm 2 huyện: Hưng Nguyên và Nam Đường; Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa; Châu Bố Chính 3 tổng: Thuận Lễ, Thuận An và Thuận Vĩnh; Phủ Trà Lân 4 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Vĩnh Khang và Phú Ninh; Phủ Qùy Châu 2 huyện: Trung Sơn và Thúy Vân; Phủ Ngọc Ma 1 châu: Trịnh Bản; Phủ Lâm An 1 châu: Qùy Hợp; Phủ Trấn Ninh gồm 7 huyện: Kim Sơn, Thanh Vị, Cảnh Lượng, Quang Vinh, Minh Quảng, Quang Lang và Trung Thuận.

Phía Nam giáp Thuận Hóa, Bắc liền (tr31b - Q2) Thanh Hoa, phía Tây giáp Ai Lao, phía Đông liền đại hải.

Nghệ An núi cao sông sâu, phong thổ trọng hậu, khí tượng trong sáng xứng danh hiệu “Nam châu thắng địa”; Con người cần kiệm mà hiếu học, sản vật quí lạ, nhiều linh tích thần núi, thần biển… Là nơi xuất hiện danh nhân hiền tài, nhiều vùng có dân tộc ở nơi biên giới. Đúng là thành trì vững chắc, là nơi then chốt của đất nước ta (32a). Phủ Đức Quang, nay cải Đức Thọ gồm 6 huyện: Thiên Lộc: 4 tổng = 37 xã; La Sơn: 7 tổng = 37 xã, 1 trang, 1 vạn; Chân Lộc: 4 tổng = 37 xã, 1 sở, 8 thôn; Thanh Chương: 6 tổng = 38 xã, 32 trang, 9 vạn; Hương Sơn: 8 tổng = 34 xã,1 thôn Nghi Xuân: 5 tổng = 26 xã, 7 thôn, 1 trang, và 10 nhật trình (?).                                                                                                                             

Phủ lỵ đặt tại trung tâm phủ. Phủ Đức Quang, phía Tây giáp Ai Lao, phía Đông liền đại hải. Thiên Lộc Nghi Xuân phía Bắc liền bờ biển, lấy dãy Hồng Lĩnh làm giới hạn. Chân Lộc ở phía Bắc Nghi Xuân, liền tiếp với Song Ngư, Cửa Hội (tr32b)… Lam giang một dải uốn lượn, Thanh Chương ở bên hữu ngạn cùng các châu Trà, Qùy Tương. Thế núi chập chùng uốn lượn như rắn bò tới Hương Sơn, lại chạy tiếp về biển.

Đức Quang là một phủ phong tục thuần hòa. Về văn học khoa giáp phát việt, thì Nghi Xuân, La Sơn nổi tiếng về các bậc danh hiền. Là đất có nhiều danh thắng. Sông núi có: dãy Hồng Lĩnh, núi Dũng Quyết, My Sơn, Miêu Lĩnh, Song Ngư, Kim Nhan, Thiên Nhẫn, suối Vũ Môn, bến đò Phù Thạch… Cửa biển có: cửa Hội Thống, cửa Cương Gian, cửa Sót… đều là những du quan thắng xứ. 

Về đăng khoa, Thanh Chương 60 vị, Chân Lộc 4 vị, Thiên Lộc 22 vị. Đặc biệt, Thiên Lộc như Phù Lưu Nguyễn Văn Giai, phụ tán trung hưng trải 3 triều, kiêm chưởng lục bộ. Huân quán đương thời (33a) vượt trội có ông Dương Trí Trạch, Dực võ công thần, thời Phúc Thái (.). Nghi Xuân có Nguyễn Nghiễm, văn võ kiêm toàn, công danh trác việt. La Sơn có ông Phan Kính, Nguyễn Huy Oánh… văn võ lưỡng đồ huân vọng.

Về danh thắng, Hồng Lĩnh 99 ngọn, giới cận Thiên Lộc Nghi Xuân, trên đỉnh có chùa Hương Tích. Tương truyền, xưa Quan Thế Âm Bồ Tát bay về trụ trì nơi đây, cho đến nay vẫn còn hương khói phụng thờ.

Núi Dũng Quyết: tại huyện Nghi Xuân, trên sông Nghi Lạc, xưa, hiệu Thanh Châu giang. Phía Bắc giáp huyện Chân Lộc (tr33b). Từ trên đỉnh núi trông ra xa, đảo Song Ngư lấp ló trước cửa biển. Dưới núi từng bậc đá bằng phẳng. Tương truyền, thời Khang Vương nam chinh ngự lầu ở đây. Trong núi có động, cửa động có chùa Thiên Quang.

Rú Mèo: Tại huyện Chân Phúc, bên sông Dũng Quyết. Trên núi có hang, trong hang có chùa.

Lèn Kim Nhan: Ngọn núi đá có dáng chữ “Kim” nổi tiếng của huyện Thanh Chương, tọa lạc trên sách Kệ Trường (nay thuộc huyện Anh Sơn). Ngọn núi từ rặng lớn nổi lên một đỉnh. Cột đá chọc trời, vót như ngọn bút, lại như búp măng tươi. Bao quanh là những hòn len chen nhau xòe ra như những cánh hoa sen. Trên đỉnh, tương truyền, có cửa trời. Nơi ấy thường phát ra những luồng ánh sáng, kèm theo tiếng sấm rền vang. Đó là lúc, theo quan niệm ngày xưa, cửa trời mở đón tinh anh người thiện về trời.

Thiên Nhẫn: Là dãy trấn sơn của đất Thanh Chương, mạch núi từ Trà Lân về, qua Tam Thai Võ Liệt, long bối chạy mãi về xuôi, trải 999 ngọn, trong đó có ngọn dựng chùa Thiên Nhận. Từ đó phân ra: 1 chi ngược lại ra ngọn Kỳ Sơn; 1 chi có núi Phượng Hoàng giang sải cánh nghìn dặm (6.500m) qua động Hoàng Tâm; 1 chi từ động Hoàng Tâm xuôi tới thành Lục Niên, phía Đông thành có núi Nón (Lạp Sơn). Lần đó là nơi Nguyệt Ao (Nguyễn Thiếp) tiên sinh ở ẩn.

Lam Giang: tại huyện Thanh Chương, hai bờ hai dãy núi nhấp nhô cây cối um tùm, hình sông uốn lượn như rắn chảy xuôi tận chân núi Hồng Lĩnh, nước thông ra đại hải. Cảnh trí tuyệt vời.

Vũ Môn tuyền: ở huyện Hương Sơn. Tương truyền, nơi đây cá nhảy hóa rồng. Vịnh Bến đò Vĩnh Đại; Cửa Hội Thống: ở huyện Nghi Xuân, xưa có tên: Cửa Đan Nhai. Núi Song Ngư xa xa sóng vỗ. Cửa Cương Gian: ở huyện Nghi Xuân, hai bên tả hữu núi đứng trơ trọi, gần cửa Nam Giới, nơi có đền Chiêu Trưng và đền Bùi Ngự sử là hai ngôi đền thờ linh tích 2 vị danh thần, khói hương nghi ngút.

Đền Chiêu Trưng: ở (tr35b) Cửa Sót, núi Nam Giới, ông anh thứ hai của Lê Thái Tổ chết tại đây. Sau khi chết rất thiêng, là Thượng đẳng thần.

Đền Bùi Ngự sử: ở chân núi Bạch Tị, xã Độ Liêu, huyện Thiên Lộc, tên là Bùi Cầm Hổ, trong thời làm quan dưới triều Thái Hòa (1443 - 1453), giữ chức chấn phủ xứ Lạng Sơn, xử kiện giải oan, tha khỏi ngục cho người đàn bà nấu cháo nhầm lươn với rắn vàng; Ở Hồng Lĩnh, ông cho đào kênh dẫn nước từ khe về đồng tưới hàng ngàn khoảnh ruộng. Nhớ công đức người, khi chết dân lập đền thờ, được nhiều lần phong tặng Phúc thần (tr36a).

 Phủ Diễn Châu gồm 2 huyện:

Huyện Đông Thành: 7 tổng = 76 xã, 4 thôn, 29 trang, 2 sách, 2 châu, 3 vạn, 4 quán.

Huyện Quỳnh Lưu: 7 tổng = 33 xã, 9 thôn, 27 phường.

Phủ Diễn Châu ở phía Bắc Nghệ An, giáp với Thanh Hoa là huyện Quỳnh Lưu. Cả hai huyện đều có bờ biển, là nơi thế đất khoáng đạt, nhiều người tài giỏi, có tiếng khoa bảng. Về cổ tích có đền Cờn, đền Mộ Dạ nổi tiếng linh ứng. Sản vật lạ, có đầm Chim Nước, bãi Sò; Về cửa biển có 5 xứ: Cửa Cờn, Cửa Quèn, Cửa Thơi, Cửa Bích, Cửa Hiền.

Đền Cờn: ở Cửa Cờn Quỳnh Lưu, 3 mẹ con công chúa Nam Tống trôi dạt về đây (tr36b) tươi tắn như còn sống. Dân địa phương thấy lạ, xây mộ, lập đền thờ. Về sau, Trần Thánh Tông Nam chinh Chiêm Thành trú quân ở cửa biển. Đêm mộng thấy người con gái tới bảo “Thiếp là Triệu nương tử vì sóng gió trôi dạt về đây, Thượng đế sai dân làm đền thờ, nay bệ hạ Nam chinh thiếp nguyện giúp lập Thánh công. Sáng sớm thức dậy, hỏi, người già cho biết, “chuyến đi này gió lặng sóng êm”, nghiệm có linh ứng, nhà vua ban tặng là Thượng đẳng thần. Phan Chính Am có thơ:

“Hương hỏa thiên thu âm tích Tống

Phong ba nhất mông mặc phù Trần”

Dịch: Hương hỏa nghìn thu/ thầm nhớ  Tống

Phong ba một mộng/ lặng phù Trần

Núi Mộ Dạ: ở huyện Đông Thành, thuộc đất 3 xã: Lịch Phúc, Hương Ái, Hương Lan, có miếu thờ An Dương Vương, hiệu Kim bài thư Nam hải đại vương rất thiêng. Núi có nhiều chim cuông, người không thể tới gần. Tục truyền, nhà vua mất móng rùa nỏ thần, chạy vào nam hải, theo dấu lông ngỗng chỉ đường, tức tử.

Đầm Thủy Điểu (Chim nước): Tục truyền, chim sinh ra từ ngọn hoa sen trong Bàu Ác.

Bãi Sò: ở huyện Đông Thành kéo dài từ xã Phúc núi Mộ Dạ đến xã Tiên Lý, xã Ông Bùng, do xác sò lớp lớp kết lại. Dân địa phương đào lên phơi nắng thành gạch, thành táng hoặc gọt thành hình voi ngựa ở nơi đền miếu thờ thần.

Cửa Cờn: bên phải là nơi dân cư đông đúc.

Cửa Quèn: ở xã Hoàn Hậu Quỳnh Lưu, sâu mà hẹp. Hai bên dãy núi liền nhau bao bọc.

Cửa Thơi: ở xã Thượng Viên huyện Đông Thành, cạn mà hẹp, bên phải là núi đá, bên trái là bãi bằng, thoáng rộng.

Cửa Bích: ở huyện Đông Thành (tr37b).

Cửa Hiền: ở huyện Đông Thành, sâu mà hẹp, hai bên đều là núi, thuyền lớn không thể vào. Sử chép, đây là nơi An Dương Vương cầm 7 thước Văn tê rẽ xuống nước mà đi, rồi chết (tr38a).

Phủ Anh Đô gồm 2  huyện: Huyện Hưng Nguyên: 7 tổng = 43 xã, 1 sở, 3 thôn; Huyện Nam Đường: 8 tổng = 90 xã thôn phường.

Phủ Anh Đô ở trung tâm Nghệ An, huyện Nam Đường ở thượng du, liền với Thanh Chương. Địa phận Hưng Nguyên ở phía dưới giáp với Thiên Lộc. Dòng sông Lam uốn lượn giữa 2 huyện (Thanh Chương - Nam Đường). Là đất có nhiều thần tích linh thiêng, di tích lịch sử: Miếu Tam Tòa Võ Mục, đền Mai Hắc Đế, thành Triều Khẩu, Khả Lưu quan, hồ Cương. Về văn học, hai huyện đều phát triển tương đương; Về phong cảnh có Hải Thủy sơn, Sài Sơn (tức núi Đại Huệ), núi Am Hoàn, núi Nghĩa Liệt, đều có cảnh trí u nhạ rất nên lên thưởng lãm (tr38b).

Đền Võ Mục: ở xã Triều Khẩu, Hưng Nguyên. Thần là Lê Khôi, húy Võ Mục, giữ chúc Tư mã tham dự triều chính dưới triều Lê Thái Tổ, trấn thủ Nghệ An, giỏi chính sự. Năm Thái Hòa thứ 2 (1444) nam chinh bắt chúa Chiêm Thành, đến cửa biển bị bệnh, chết. Dân lập đền thờ dưới núi Long Ngâm ở cửa biển Nam Giới, sau dời về đây.

Đền Tam Tòa: ở xã Bạch Đường huyện Nam Đường. Thần, con thứ 8 của Lý Thái Tổ, thần hiệu Cao Minh đại vương, soái sư trấn thủ châu này, dân lập đền Cảnh Sơn Tam Tòa thờ vị Thượng đẳng tối linh thần.

Đền Mai Hắc đế: ở Thôn Thượng xã Sa Nam Nam Đường, còn di miếu.

Thành Triều Khẩu: tại xã Triều Khẩu huyện Hưng Nguyên. Xưa người nhà Minh xây thành ở đây, Lê Thái Tổ từ Lâm Hà bao vây. Thành này phía Tây Bắc dựa vào núi; phía Nam làm nơi nuôi ngựa, trên đỉnh có cột cờ, đá hiện còn. Miếu Tuyên Nghĩa ở phía trên bờ, tính danh không rõ. Trong thành có kho chứa của, trâu đằm trong ao có tiền dính vào lông.

Cửa Khả Lưu: ở xã Mạc Điền huyện Nam Đàn, nơi 2 dòng sông Thanh Hải(1), (青海) Hội Lâm (會林) gặp nhau. Hai bên tả, hữu ngạn núi cao rừng rậm rất hiểm trở. Lê Thái Tổ cùng quân Minh giao công tại đây. Cửa ải này có đặt trạm tuần ty thu thuế, cửa sông cạn mà hẹp, hữu ngạn núi đá, tả ngạn bằng phẳng.        

Hồ Cương: ở xã Cao Tuyền (Thanh Cao) có miếu thờ Tấn quận công Trịnh Mô, họ Nguyễn Cảnh, người La Sơn Nam Đường, đốc chư tướng đánh nhau với Nguyễn Quyện, từng lập nhiều chiến công, nhưng về sau trúng kế Nguyễn Quyện, toàn tiết bất khuất, Hồ Cương có miếu thờ (tr39b).

 Hải Thủy sơn: ở xã Thanh Tuyền, Bùi Ảm Chương tới thăm có thơ “Sương vũ phi vi điểm tuyết sa / Xuân chi xuân thụ điệt giao gia.

Sơn du kính hiệp tài thông mã/ Lộ tiển hành nhân sổ kiến hoa” (trích).

Bài này, trong Nghệ An thi tập Quyển I, có tiêu đề: “Mộ xuân vũ trung du Thanh Băng sơn”.

Sài Sơn: ở xã Nỗn Liệu Nam Đường, có chùa Đại Tuệ phong cảnh u tịch.

Am Viện sơn: ở xã Vân Đồn, gần Sài Sơn, trên có Thiền viện. Thế núi quanh co như trúc uốn.

Thúy viện: ở thôn Bụt Đà xã Phạt Kệ Nam Đường, trên núi có chùa (tr40b) cổ. Bên ngoài, phố chợ cư dân đông đúc. Bên kia bờ, hàng ngàn ngọn núi một màu xanh thẳm.

 Núi Nghĩa Liệt: ở xã Nghĩa Trang huyện Hưng Nguyên, trên có chùa An Quốc.

Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Huyện Thạch Hà: 7 tổng = 42 xã, 1 thôn, 1 sở, 3 trại; Huyện Kỳ Hoa: 6 tổng = 37 xã, 10 thôn.

Phủ Hà Hoa ở phía Tây, tiếp giáp địa phận Thuận Hóa. Huyện Thạch Hà ở phía Bắc giáp Thiên Lộc; Kỳ Hoa phía Nam giáp châu Bố Chính. Ven núi hai huyện sát biển quanh co khoáng đạt. Xã Hà Trung, Kỳ Hoa, thời Lê đặt đồn trấn ở đây. Về phong cảnh có suối Việt Đông. Bên trái trấn thành, một dải sườn đồi thoai thoải, động ải cùng trấn sơn nối liền bên hốc đá suối Dọng Sơn trong xanh chảy xiết.

 Phủ này có nhiều thủy sản ngon ngọt và là nơi núi sông nhiều thắng tích như: Núi Bàn Độ, núi Thiên Cầm, núi Cao Vọng, cửa Vũng Áng. Còn phải kể đến xã Hoằng Hóa, Kỳ Hoa giới hạn cực nam của nước ta cùng nhóm dân ít người (41a). Vào mùa hè gió nam thổi nóng như lửa. Phía Đông giáp châu Bố Chính có khe Mộc Miên phân giới, phía Tây là Kỳ Hoa, phía Đông là Bố Chính. Vùng này dùng 2 con trâu kéo cày. Sản vật có: tê giác, chim sẻ, đồi mồi, trầm hương, tử đằng,... trúc hóa long. Về văn học khoa mục thì Thạch Hà nhiều hơn.

Bàn Độ sơn: ở bên trái cửa biển Kỳ Hoa, trên có đầm nước. Tương truyền, có tiên nữ về ngồi chơi trên tảng đá giữa đầm.

Núi Thiên Cầm: tại Kỳ Hoa. Tương truyền, Hùng Vương thường du ngoạn nơi đây, nghe tiếng sáo trời kêu, nhân đó đặt tên Thiên Cầm    (天琴), đàn trời. Về sau, Hồ Qúy Ly bị nhà Minh bắt tại cửa biển Kỳ La, nhân đó mới đổi chữ “cầm” bộ “thủ” (天扲) có nghĩa: “Trời bắt”.

Núi Cao Vọng: Tại trấn thành, là một cửa trông ra biển cả. Xưa Hồ Qúy Ly, Hồ Hán Thương chạy ra tới đây, bị tướng nhà Minh bắt.

 Cửa Vũng Áng: Tại cửa biển Kỳ Hoa có đền thờ Chế Thắng phu nhân. Thời Trần Duệ Tông nam chinh đến Kỳ Hoa bị trở gió (không giăng buồm được). Đêm mộng thấy một người xưng là thủy thần xin tặng một người con gái. Nhà vua tỉnh dậy kể lại cho quan quân tả hữu. Nghe vậy, phu nhân bèn xin tuân lệnh bề trên, ngồi trên mâm vàng đưa xuống thủy thần. Thuyền liền tiến được. Sau về, nhân đó lập đền thờ (42a).

Châu Bố Chính: 3 tổng: Thuận Lễ - Thuận An - Thuận Vĩnh.

Châu Bố Chính ở phía Nam huyện Kỳ Hoa cùng liền với dãy Hoành Sơn đến bờ biển. Nghệ An Thuận Hóa giới cân bởi Linh Hà, từ đó lấy phía Bắc là  Bác Bố Chính do Nghệ An kiêm lý. Nam Bố Chính thuộc Thuận Hóa. Bắc Bố Chính thường phát đại khoa, lại có nhiều đặc sản như xã Tiên Lễ có Nhân Sâm (42b).

Núi Ma Cô: tại cửa biển Di Luân. Tục truyền, tiên Ma Cô thường tới đây.

Phủ Trà Lân 4 huyện: Huyện Kỳ Sơn: 19 động; Huyện Tương Dương: 7 động, 1 thôn; Huyện Vĩnh Khang: 8 động; Huyện Phú Ninh: 5 động. 

Trà Lân ở về phía Tây Bắc Nghệ An, Bắc giáp Ai Lao, Tây sát Thanh Chương. Thời Trần gọi là Mật Châu, gồm 4 huyện, tục gọi Tứ Lân. Thời Trần Minh Tông (1314-1329) thân chinh Ai Lao, khi tới Tương Dương, hạ chiếu cho Nguyễn Trung Ngạn mài đá tạc bài ký ghi công, nay hiện còn ở  xã Trầm Hương, núi lèn sầm uất. Đây là nơi xưa người nhà Trần xây thành ở đây, phía Nam sông Cả, tục gọi Thành Nam. Buổi đầu Trung Hưng, Phùng (tr43b) Khắc Khoan bị khiển, ở đây, hiện còn di chỉ.

Phủ Qùy Châu 2 huyện: Huyện Trung Sơn: 16 động; Huyện Thúy Vân: 33 động.

Phủ Ngọc Ma 1 châu: Châu Anh Bản 12 động.

Hai phủ Qùy Châu, Ngọc Ma ở miền Tây Nghệ An, hang động núi rừng liền với Ai Lao (tr44a). Dân cư nửa ở động núi, nửa ở ven ruộng. Họ không dùng cày bừa mà dùng trâu xéo nát ruộng thành bùn gieo mạ xuống.

Phủ Lâm An 1 châu: Châu Qùy Hợp 12 động, 8 sách.

Lâm An xưa là đất Bồn Man, phụ thuộc Ai Lao. Thời Lê Thái Tổ khai quốc về trước đều tiến cống. Thời Nhân Tông, Thái Hoa năm thứ 2 (1444) tiến cống 1 cặp voi, sau đổi Qùy Hợp. Ở đây có nhiều đá hoa (tr44b).

    Phủ Trấn Ninh: 7 huyện: Huyện Kim Sơn: 12 động; Huyện Thanh Vị: 10 động; Huyện Cảnh Lượng: 14 động; Huyện Quang Vinh: 6 động; Huyện Minh Quảng: 9 động; Huyện Quang Lang: 9 động; Huyện Trung Thuận: 10 động.

Phủ Trấn Ninh, tức Cổ Man Bồn, nay gọi Mang Bồn. Đầu thời Lê, Cầm Công chiếm cứ chống mệnh. Dưới thời Hồng Đức (1470 - 1497) (tr45a) vua thân chinh phân hoạch đặt địa danh là phủ Trấn Ninh. Hơn ba trăm năm sau, viên cống chức bỏ trễ, tù trưởng Lô Sầm thay thế giữ chức Mán trưởng, cai quản quận (này) thông đến địa phận Ai Lao, nơi đất rộng người đông. (Từ đó Lư) bèn xây cung thất sở cứ Trình Quang, nơi hai bên khe suối, bốn mặt núi động, phía Nam trông ra Sông Sầm, Bắc dựa Khánh Đát, Đông giáp Bồ Chung Đình, Tây thông Chung Vong…

Cuối thời Vĩnh Hựu (1736 - 1740) Lê Duy Mật và người con thứ 10 của Dụ Tông xuất bôn tới Hoa Thạch Thành, chiếm cứ. Vào những năm đầu đời Cảnh Hưng (1749 - 1780) nhân trong nước nhiều việc rối ren, Tù trưởng hiệp cùng bọn thương lái, thổ binh miền thượng du Thanh Chương tao động, từ Cổ Lũng chạy lên chiếm cứ lầu vua, nơi hiểm yếu, tự thủ.

Minh Vương (Trịnh Doanh) chọn đội quân tinh nhuệ ở căn cứ địa đánh dẹp (tr45b), bèn lệnh cho Vực quận công Đàm Xuân Vực, Tán lý Xuân Nhạc hầu Nguyễn Nghiễm hợp 3 đạo quân quan tiến vào tập kích quét sạch sào huyệt lầu vua. Mật cùng vợ con và hơn 200 tàn quân lưu lạc tại Ai Lao lấy Trấn Ninh, nơi, đất tốt dân đông làm đất dụng võ, tụ hợp nhiều đảng nhóm  yểm tập Lư Sầm Hương cầm cự, đặt cung thất nội ngoại phủ treo cờ hiệu và  đặt máy bắn đá     ( = pháo) cố thủ khống chế một vùng  gồm các bản mường từ Lào đến các bản ven Hưng Hóa đến 7 tổng Trà Qùy hơn 10 năm.

Mãi tới cuối thời Lê, Tịnh vương (Trịnh Sâm) thân chinh lệnh cho Đốc soái Nghệ An Đoan quận công Bùi Thế Đạt; Đốc lịnh Thanh Hoa Nguyễn (tr46a) Phan; Đốc trấn Hưng Hóa Hoàng Đình Thể, ba quân binh mã cùng tiến. Đạo Nghệ An xuất phát từ Sa Hà, đạo Hưng Hóa từ Thanh Châu Phù Hoa tiến, đánh mấy trận thế giặc bị bẻ gãy và tiêu diệt gọn, báo tin thắng trận. Ngày 16 tháng 10, thừa thắng lấy đường đến Trấn Ninh, dò được một lối từ châu Khang Chính do Trịnh Ban mà tiến qua Nậm Ba đến Lào, 14 ngày đến động Trình Khâm qua mường Đán Hồ không còn đồn ngụy nào. Hai tháng sau, đến đạo Trình Quang, đường sá không còn hiểm trở, nơi nơi đều có  dân ấp lương thực. Nhân đó, dâng khải xin tiến quân. Ngày 25 tháng giêng năm sau, mới vây quanh vùng núi Trấn Ninh gồm 3 tháng 10 ngày.

Ngày 10 tháng 3 năm ấy, quân thứ Nghệ An đóng quân tại ngã ba sông, nơi, xưa có “Đền thờ Trần triều Nghệ An lưu thủ Lam Quốc” quyền nghi thác trí diêm trương (thăm dò khai thác Mỏ muối) (此處舊有陳朝乂安留守藍國祠). Ngày 3 tháng 10, lấy xứ ấy (46b). Hỏi thăm thổ dân theo đường tắt rẽ sang bên trái đến Mường Típ vượt qua núi Siển, núi Nưa đến Kiệm Tốn, từ đó đến đồn ngụy Trình Quang. Thổ dân đi mãi tới canh năm, đường gần mà dễ đi như vào chốn không người, bèn chỉnh đốn hàng ngũ hành quân.

 Tháng 11, đội quân Hưng Hóa đến Mai Châu, qua Nậm Hôn (địa phận Hưng Hóa) đến biên giới Trấn Ninh qua Lào đến Mường Cánh cùng quan binh tiền sai trú quân tại đó rồi tuyên cáo uy đức triều đình cho tù trưởng và dân sở tại rõ và thôi bắt bớ, phục dịch, cung ứng lương thực. Ngày Mồng một tháng 12, đạo quân Nghệ An đóng tại Cửa Đà (tr47a) quét sạch giặc. Thế giặc suy sụp không chống cự nữa.

 Mùa xuân năm Canh Dần (1770) 2 đạo quân Thanh Nghệ công phá ổ giặc cuối cùng. Ngày 25, Duy Mật tự tử, giao Trấn Ninh cho Cầm Uẩn, chắt của Cựu đà Cầm Hương, quản lý phủ sự phủ dụ dân lưu tán nối lại lệ cúng nộp như trước. Từ ấy vùng biên bỉ an ninh (47b).

 

Chú thích

  1. Thanh Hải, chắc là khắc chữ nhầm, đáng ra là Thanh giang (một tên khác của Lam giang - BVC).
Đất và người xứ Nghệ khác:
CEO Nghiêm Tiễn Viễn - chàng trai đam mê công nghệ với Giải Đặc biệt Sáng tạo KH&CN Nghệ An 2020 (27/9/2020)
Đồng chí Trịnh Thuyết - chiến sỹ cộng sản Xô Viết kiên cường, người con ưu tú của quê hương Thanh Chương (11/9/2020)
Lễ hội đón tiếng sấm của dân tộc Ơ Đu (24/8/2020)
Tục làm vía - Tín ngưỡng đặc sắc người Thái (5/8/2020)
Kỷ niệm 90 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh: Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (31/7/2020)
Cương Quốc công Nguyễn Xí với vùng đất Cửa Lò thời Lê sơ (29/7/2020)
Đồng chí Nguyễn Duy Trinh - Tấm gương người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc (29/7/2020)
Đồng chí Trần Thị Liên - Nữ chiến sĩ Xô Viết dũng cảm, kiên cường (22/7/2020)
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 975 | Tất cả: 2,472,037
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp