ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Lý Nhật Quang - Vị Tri châu đầu tiên của Nghệ An
Tin đăng ngày: 11/6/2020 - Xem: 75
 

Hồ Sỹ Hùy

Upload

Đền Quả Sơn thờ Uy minh vương Lý Nhật Quang

Tên tuổi Lý Nhật Quang rất đỗi quen thuộc với người dân Nghệ An xưa và người dân xứ Nghệ hiện nay. Ông là vị thần linh thiêng được thờ ở đền Quả, một trong 4 ngôi đền đẹp và linh thiêng nhất ở xứ Nghệ: Cờn, Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng. Đền nằm bên bờ sông Lam, thuộc địa phận làng Miếu Đường (vì thế còn có tên là đền Mượu), xã Bạch Đường, huyện Lương Sơn (nay là xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), cách thị trấn Đô Lương 3 km, cách TP Vinh 73 km. Tuy vậy, cho đến nay hầu như chưa có một tài liệu nào ghi chép tường tận  tiểu sử và sự nghiệp của ông. Bài viết này góp phần bổ sung và hệ thống hóa một số tư liệu.

 Uy Minh Vương Lý Nhật Quang威明王李日光 (? - 1057) con trai thứ 8 của Lý Công Uẩn 李公蘊 - tức vua Lý Thái Tổ李太祖 (974 - 1028), em trai cùng mẹ của vua Lý Thái Tông 李太宗 (vua sinh ngày 29 tháng 7, năm 1000, mất ngày 3 tháng 11, năm 1054; ở ngôi 1028 - 1054). Các thần tích xứ Nghệ còn chép tên ông là Lý Hoảng李. Theo cố GS Hà Văn Tấn thì đây là chép nhầm vì các chữ dính vào nhau(1). Mẹ là Linh Hiển Thái hậu họ Lê. Theo chính sử, năm 1039 Lý Nhật Quang được vua Lý Thái Tông cử vào trông coi việc tô thuế ở vùng đất Nghệ An, năm 1041 được bổ nhiệm làm Tri châu Nghệ An với tước hiệu Uy Minh hầu(2). Buổi đầu triều Lý, Nghệ An gồm Diễn Châu phía Bắc và Hoan Châu (Nam Nghệ An & tỉnh Hà Tĩnh hiện nay) là một vùng biên ải phía Nam của nước Đại Cồ Việt (tháng 11/1054 Lý Thánh Tông mới đổi quốc hiệu là Đại Việt), việc quản lý còn lỏng lẻo. Nhiều cuộc nổi dậy cát cứ ở địa phương khiến nhân dân khốn khổ, triều đình phải nhiều phen cất quân đánh dẹp. Đại Việt sử ký toàn thư (từ đây viết tắt là Toàn thư) chép: “Thuận Thiên năm thứ 3(1012)… Vua thân đi đánh Diễn Châu… Thuận Thiên năm thứ 17 (1026) xuống chiếu cho Khai Thiên Vương đi đánh giặc ở Diễn Châu… Năm Thiên Thành thứ 4, châu Hoan làm phản… Tháng 2 ngày mồng 1, vua thân đi đánh châu Hoan(3). Nhưng sau khi Lý Nhật Quang được cử làm Tri châu, tình hình xã hội ở châu Nghệ An dần dần ổn định, kỷ cương phép nước được lập lại. Đây là dấu mốc quan trọng khẳng định vai trò và ảnh hưởng to lớn của Lý Nhật Quang với vùng đất Nghệ An. Hơn nữa, tuy chính sử không nhắc đến sự quấy phá của người Chiêm Thành phía Nam và người Lão Qua (Lào) phía Tây nhưng thần tích lại nói đến việc Lý Nhật Quang đánh dẹp giặc Ô Châu (chỉ người Chiêm Thành), giặc Lão Qua, chứng tỏ vùng đất này còn không yên vì giặc giã. Danh xưng Nghệ An (châu) xuất hiện sớm nhất vào năm 1030(4). Đặt tên cho vùng đất biên ải phía Nam này là Nghệ An hẳn nhà Lý muốn gửi gắm mong ước vùng đất biên viễn này luôn luôn yên bình (Nghệ An乂安  nghĩa là thái bình vô sự!). Từ năm 1030 đến năm 1040 không thấy chính sử nhắc đến vị Tri châu nào cai quản vùng đất này nên có thể xem Lý Nhật Quang là vị Tri châu đầu tiên của Nghệ An. Theo chính sử, trong các năm này ông đã cho đặt trạm canh phòng ở những nơi hiểm yếu, lập trại Bà Hòa (ở sông Bà Hòa, nay thuộc xã Đông Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa - chú thích của các dịch giả Toàn thư - và “đặt điếm canh các nơi cất chứa lương thực đầy đủ” sẵn sàng phục vụ cho các cuộc hành quân. Năm 1044, vua Lý Thái Tông đem quân đánh Chiêm Thành, khi qua Nghệ An được đáp ứng quân lương kịp thời. Tháng 9 năm đó, chiến thắng trở về vua đã thăng Lý Nhật Quang từ tước “hầu” lên tước “vương” và ban cho ông quyền Tiết việt 鉞 (quyền thay mặt nhà vua định đoạt mọi chuyện chính sự tại Nghệ An, vùng đất biên viễn cực nam của nước ta bấy giờ - HSH chú)(5). Trong những năm 1039 - 1056 cai quản châu Nghệ An, Lý Nhật Quang là vị quan liêm khiết, thương dân, có công lớn giúp Nghệ An xây dựng kinh tế, nhất là khai khẩn đất hoang phát triển nông nghiệp. Lý Nhật Quang là nhà khai hoang nổi tiếng đầu tiên của nước ta, ông đã mở thêm được 5 châu, 22 trại, 56 sách ở Nghệ An(6). Sử cũ ghi chép về Lý Nhật Quang chỉ vẻn vẹn mấy dòng, nhưng công lao của ông lưu truyền rộng rãi đời này qua đời khác trong dân gian xứ Nghệ. Ông rất xứng đáng với tên gọi (Nhật Quang日光: ánh sáng mặt trời) sáng mãi trong lòng người dân xứ Nghệ xưa nay! Cũng cần nói thêm, ông làm Tri châu Nghệ An dưới triều vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) và vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) là thời kỳ Phật giáo Thiền tông nhập thế với tư tưởng cốt lõi là Phật tại tâm cực thịnh, hai vua này từng đi tu. Chính Thánh Tông là người có công trong việc lập ra phái Thảo Đường. Hoàn toàn có thể nói đây là thời thiên hạ thái bình, vua sáng tôi hiền. Toàn thư chép về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”; chép về vua Lý Thánh Tông: “Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu kẻ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt…(7). Chính Thái Tông là vị vua ban bộ luật Hình Thư (1042) một bộ luật nghiêm khắc mà khoan dung; lại chăm chỉ thực hiện lệ cày tịch điền, khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Lý Nhật Quang thật xứng đáng với sự tin cẩn của hai vua. Theo Quả Sơn linh từ sự tích: “Ông chủ trương khai thác quy mô đất Nghệ An. Vùng Vĩnh Hòa tức Khe Bố (nay thuộc xã Tam Quang, huyện Tương Dương, cách Cửa Rào 30 km về phía Đông Nam… HSH chú), vùng Cự Đồn (thuộc huyện Con Cuông bây giờ), vùng tổng Nam Kim thuộc Nam Đàn, rồi một số vùng khác ở Nghi Xuân, ở Thạch Hà, ở Kỳ Anh…, là do ông chiêu dân lập ấp và sử dụng tù binh để khai khẩn. Tại nơi trấn trị thuộc Đô Lương bây giờ ông lập ra đạo quân Nghiêm Thắng để giữ yên bờ cõi. Ông chủ trương  đào và nạo vét các đoạn sông Ða Cái, Bà Hòa để thuận lợi trong việc giao thông đường thủy. Ông khởi xướng việc đắp đê sông Lam tiền thân của đê 42 sau này. Ông còn tu sửa 2 con đường thượng đạo ở miền núi Nghệ An, một từ Đô Lương lên Kỳ Sơn, đặc biệt là con đường thượng đạo từ Nghệ An ra Thanh Hóa, rồi ra Ninh Bình để đến Thăng Long. Ông còn khuyến khích việc phát triển nông nghiệp, thường khuyên dân phải trồng dâu nuôi tằm, chăm lo cày cấy làm ăn…(8). Sách Bách thần sự tích chép lại những lời truyền tụng rộng rãi trong dân chúng: “Ngài ở châu 19 năm (đúng ra là 17 hoặc 18 năm tính từ 1039 năm ông vào phụ trách việc thu thuế đến năm 1055 theo Việt điện u linh hoặc đến năm 1056 theo Quả Sơn linh từ sự tích - HSH chú thêm) trừng trị bọn gian, khen thưởng người lành, khai khẩn đất hoang, chiêu mộ lưu dân, bọn vô lại phải im hơi, người dân được vỗ về yên nghiệp. Người thường qua lại vùng này, vùng khác, dạy nghề làm ruộng, chăn tằm, trồng cây cối, nuôi gia súc, có nhiều chính sách làm lợi cho dân, làm cho nhân dân đoàn kết, có người đến kiện tụng thì lấy liêm sỉ, lễ nghĩa giảng dạy, ai cũng được cảm hóa, không cần đến kiện cáo nữa… Hồi ấy người Ô Châu thường đến cướp phá vùng Kỳ Hoa, Thạch Hà, ngài bèn dẹp yên, lấy ân tín để phủ dụ. Ô Châu không còn dám gây tai họa nữa… Đến khi ngài qua đời, nhân dân lập đền thờ ngài(9). Trong tác phẩm Việt điện u linh - tập sách sưu tầm những chuyện huyền bí lưu hành trong dân gian, danh sĩ Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) ca ngợi Lý Nhật Quang: “Vương là người trung hiếu, cung cẩn, hành động quả cảm, gọi là Bát Lang Hoàng tử. Niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo năm đầu - tức năm 1039 - HSH chú) được chọn làm việc tô thuế ở Nghệ An, giữ chức mấy năm, sợi tơ sợi tóc của dân không hề xâm phạm, nổi tiếng liêm trực, vua rất yêu mến…Vương coi việc châu ấy mười sáu năm, tiếng lành ngày càng vang xa, nhân dân tin yêu. Nghe tin vương từ chức, dân tranh nhau níu xe, giữ ngựa, khóc lóc … Dân trong châu xin lập đền thờ, cầu tạnh cầu mưa, không gì không linh ứng, là một vị đại phúc thần của cả châu(10). Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Nhật Quang là con thứ 8 Lý Thái Tổ; khi nhậm chức ở Nghệ An, làm chính sự có ân huệ với dân. Đến lúc mất, người trong châu ấy lập đền thờ”. Sử thần nhà Nguyễn còn chua thêm: “Đền Nhật Quang ở xã Bạch Đường và xã Hội Thống thuộc tỉnh Nghệ An, bây giờ vẫn còn”(11). Nhà Nghệ An học, cố PGS Ninh Viết Giao (1933 - 2014) và một số nhà báo cho biết, ngoài đền chính Quả Sơn, từ Thanh Hóa vào Nghệ An, Hà Tĩnh (trước năm 1831, Nghệ An gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) còn có trên 50 nơi dựng đền đặt hiệu bụt thờ Lý Nhật Quang. Đặc biệt, có những đền cùng thờ nhiều vị thần nhưng Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được chọn làm vị thần chủ của đền (Chẳng hạn miếu Tam Tòa còn đến ngày nay ở xã Cẩm Lạc, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, ngoài việc thờ vị thần chủ Lý Nhật Quang, còn thờ Tứ vị Thánh Nương, thần Bản Thổ và Thần Nông…)(12). Riêng vùng Bạch Ngọc - nơi đã từng là lỵ sở trấn trị của châu đã có tới 8 đền thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang. Sách Lịch sử Nghệ An T1, từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám (tr.224, 225) từng nêu giả thiết: Nghệ An châu trại thời Lý Nhật Quang đến năm 1101 đổi là phủ Nghệ An (theo Việt sử lược) tương ứng với toàn bộ vùng đất xứ Nghệ ngày nay. Sử cũ thường nhắc địa danh Diễn Châu (từ nam Thanh Hóa đến hết huyện Yên Thành ngày nay) không thay đổi trong một thời gian khá dài nên dễ lầm tưởng là một đơn vị hành chính độc lập, thực chất từ thời Lý đã trở thành một bộ phận của Hoan Châu rồi từ 1030 là Nghệ An châu trại. Tôi tán thành giả thiết này và xin bổ sung: Cứ xem ảnh hưởng của ông đến toàn bộ vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh và cả nam Thanh Hóa và lị sở Nghệ An bấy giờ đặt ở Bạch Đường (thuộc huyện Đô Lương hiện nay) là trung tâm của cả xứ Nghệ thì có thể khẳng định điều này!

Ngoài ra, nhân dân Chiêm Thành nhớ ơn Lý Nhật Quang có công giúp vua Chiêm ổn định đất nước đã lập đền dưới chân núi Tam Tòa, cửa biển Thị Nại (nay thuộc phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), gọi là đền Tam Tòa (nay chỉ còn phế tích) để thờ ông. Đây là một trong số ngôi đền cổ có niên đại tương đương với đền Quả. Vì vậy, mọi người cũng gọi ông là Tam Tòa đại vương, Đức Thánh Tam Tòa. Như vậy, Lý Nhật Quang không chỉ là người có công lớn trong sự phát triển của Nghệ An mà còn góp phần vào sự thịnh trị của cả đất nước buổi đầu triều Lý(13). Với vị trí địa - quân sự quan trọng, Nghệ An luôn được coi là “thành đồng ao nóng và là then khóa của các triều đại” (Phan Huy Chú). Thời Lý - Trần, các vị quan trấn trị ở đây thường là những người trung thành, tài năng xuất chúng. Sau Lý Nhật Quang, cai quản Nghệ An từng có các đại thần tên tuổi lừng lẫy như Lý Ðạo Thành (? - 1081), Trần Quang Khải (1241 - 1294), Trần Quốc Khang (1237 - 1300), Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370)... Cùng với Thanh Hóa (Ái Châu), Nghệ An (Hoan Châu) luôn luôn là nguồn bổ sung quân đội hết sức quan trọng. Người lính vùng này nổi tiếng trung thành, thiện chiến. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần 2 (1285) để động viên tướng sĩ, vua Trần Nhân Tông từng viết:

會稽舊事君須記:Cối  Kê cựu sự quân tu ký

驩愛猶存十萬兵:Hoan  Ái do tồn thập vạn binh.

(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ/ Hoan Ái còn kia mười vạn quân)(14).

Tóm lại, Lý Nhật Quang là vị Tri châu Nghệ An đầu tiên và cũng là vị Tri châu tài đức vẹn toàn đầu tiên của Nghệ An. Hy vọng trong dịp kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An tên tuổi ông sẽ càng có dịp tỏa ánh hào quang  nhiều hơn nữa!

 

 Chú thích

(1). Không rõ dựa vào nguồn nào, Wikipedia chép Lý Nhật Quang sinh năm 995, và tác giả Nguyễn Thị Liễu (trong bài Đền Quả Sơn đăng ở sách Nghệ An Di tích Danh thắng, Sở Văn hóa Thông tin xb, 2001, tr.114) cho rằng Lý Nhật Quang sinh năm Mậu Tý (988), nhưng tất cả các tài liệu đều chép ông là em cùng mẹ vua Lý Thái Tông (vua sinh ngày 29/7/1000 - 1054), điều đó thật vô lý! Còn ý kiến của GS Hà Văn Tấn hẳn là chính xác vì các bộ chính sử đều chép tên ông là Lý Nhật Quang. Thử đặt 2 tên cạnh nhau thì thấy rất rõ nếu 2 chữ Nhật Quang 日光 mà viết dính nhau thì thành chữ Hoảng 晄 (còn viết là晃). Xin xem Hà Văn Tấn: Về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học trong sách Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm Nxb KHXH,H,1983, tr.110.

(2). Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Văn hóa - Thông tin. H.2003. T1, tr. 399, Khâm định Việt sử thông giám cương mục Nxb Giáo dục. 1998), T1, tr.295.

(3). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd. T1, tr. 362, 371, 385.

(4). Theo Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Giáo dục.2007. T1, tr.72; Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, NXB KHXH, 2004, tr.52; Còn Toàn thư, Cương mục & Đại Nam nhất thống chí đều chép năm 1036 mới đổi Hoan Châu làm Nghệ An châu trại. Ở đây chúng tôi tạm theo kết luận của cuộc tọa đàm ngày 11/1/2003 do Trung tâm KHXH&NV Quốc gia tổ chức tại Vinh chọn mốc 1030.

(5), (7). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd. T1, tr. 407; 382, 415.

(6). Theo Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (CB): Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, tái bản 2004, tr. 406

(8). Ninh Viết Giao (CB): Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1993. T1, tr.199 - 200.

(9). Bách thần sự tích, Thái Kim Đỉnh dịch và chú giải. Nxb Đại học Vinh, tr.21. Ô châu 烏州(tiếng Chăm Vuyar) là tên một châu của Chiêm Thành (vùng đất từ đèo Lao Bảo đến lưu vực sông Thạch Hãn phía Nam tỉnh Quảng Trị). Người Ô Châu ở đây chỉ người Chiêm Thành.

(10). Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh (bản dịch của Trịnh Đình Rư), Nxb Hồng Bàng, Gia Lai 2012, tr.6;61,62.

 (11). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục. 1998, T1, tr.302.

(12). Xem thêm: Trần Phi Công: Miếu Tam Tòa, Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh số 255. Tháng 10/2019, tr.9-14.

(13). Xem thêm: Nguyễn Thanh Lưu: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, vị thần tướng ít được lịch sử nhắc tới, Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ An https://bookhunterclub.com/uy-minh-vuong-ly-nhat-quang-vi-than-tuong-it-duoc-lich-su-nhac-toi/.

(14). Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học Xã hội, 1988. Sử chép ngày 26 tháng chạp năm Giáp Thân (tháng 1 - 1285), giặc đánh vào cửa ải Chi Lăng, Nội Bàng. Trước sức tiến quân ào ạt của 50 vạn quân Nguyên, thế quân ta bất lợi. Trần Quốc Tuấn cho lui quân về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông lập tức ngự thuyền ra Hải Đông gặp Hưng Đạo Vương, không kịp ngự thiện, mãi đến chiều người lính Trần Lai mới dâng cơm, được vua ban khen là trung. Hưng Đạo vương vâng mệnh chọn những người dũng cảm làm tiên phong, vượt biển vào Nam, thế quân lên dần. Các quân thấy vậy, không đạo quân nào không đến tập hợp. Vua làm hai câu thơ này đề ở đuôi thuyền. Hai câu này còn có dị bản: Cối Kê cựu sự quân tu ký/ Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
Phủ Hòa Quân (12/6/2020)
Người thư ký cụ Phan, làm Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên cộng sản (12/6/2020)
Đền Chiêng Ngam - Ngôi đền linh thiêng của người Thái trên vùng đất phủ Quỳ (12/6/2020)
Lý Nhật Quang - Vị Tri châu đầu tiên của Nghệ An (11/6/2020)
Người Khơ Mú Nghệ An (2/6/2020)
Một số nghề thủ công truyền thống xưa ở Nghệ An (2/6/2020)
Bác Hồ - Tấm gương tự học và học tập suốt đời (15/5/2020)
Bác Hồ với nhà khoa học Nguyễn Xiển (8/5/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 605 | Tất cả: 2,324,401
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp