DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc?
Tin đăng ngày: 11/6/2020 - Xem: 55
 

Phong Lê

Thay vì trả lời cho một phỏng vấn, tôi xin được trình bày vấn đề đặt ra theo dạng một bút ký hoặc tiểu luận; và với thói quen nghề nghiệp, tôi muốn nhìn nó theo con mắt lịch sử..

Không là chuyên gia triết học, kinh tế học, luật học hoặc văn hóa học, chỉ là người nghiên cứu văn học, tôi có thể làm được gì với câu chuyện này, nếu trước hết không biết tìm đến những tác phẩm lớn có sự sống trường cửu trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt, bởi sự kết tinh những giá trị bất hủ trong lịch sử văn hóa, văn chương, học thuật Việt. Đó là bộ ba Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

Xin bắt đầu bằng Bình Ngô đại cáo - bản Tuyên ngôn chấm dứt 20 năm ách thống trị của giặc Minh (1407 - 1427): “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác”. Văn hiến phong tục là gì nếu không phải là văn hóa? Tiếp đến: “Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau. Song hào kiệt đời nào cũng có”. Hào kiệtCon người; mà Con người ở đây là Con người với phẩm chất tinh thần, Con người Văn hóa. Một khẳng định không chỉ đúng với thời điểm tác phẩm ra đời, mà đúng cho cả lịch sử và lịch sử văn hóa Việt cho đến hôm nay.

Truyện Kiều với 3254 câu - “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”, xứng đáng được các thế hệ hậu sinh suốt 200 năm sau tôn vinh là “thiên thu tuyệt diệu từ”, sản phẩm của một người viết có “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. Một tác phẩm có sự sống trong lòng mọi thế hệ người dân Việt, không phân biệt cao thấp, sang hèn. Một tác phẩm mà bất cứ ai là người đọc, người nghe cũng đều có thể vận vào mình; rồi qua mình mà tìm đến sự cảm thông với bao phận người khác, qua mọi thăng trầm xã hội.

Tuyên ngôn độc lập với người soạn thảo và tuyên đọc trên Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sau ngót 80 năm thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp và một nghìn năm xã hội phong kiến. Một Tuyên ngôn gợi nhớ Bình Ngô đại cáo làm gắn nối hiện đại với truyền thống. Một Tuyên ngôn được bắt đầu bằng dẫn trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, đưa dân tộc Việt Nam vào nhân loại như một người đồng thời.

Ba áng văn - đối tượng khảo sát của khoa nghiên cứu văn học và cũng là của triết học, sử học, văn hóa học, của ba tác giả từng được thế giới tôn vinh là Danh nhân văn hóa vào các năm 1965, 1980, 1990 và 2015(1).

Chỉ riêng ba tên tuổi trên đã đủ chất liệu cho một khảo sát về văn hóa Việt; để từ đó mà khơi nguồn và tỏa rộng cảm hứng cho câu chuyện văn hóa Việt, văn chương học thuật Việt với lịch sử của nó; một lịch sử có độ dài ước tính là 4000 năm - “Bốn nghìn năm ta lại là ta” (Tố Hữu).

Không cần phải ở địa chỉ là cái nôi của một nền văn minh nào đó - như văn minh Hy-La, văn minh Lưỡng Hà, văn minh Trung Hoa, văn minh Ấn Độ... mà chỉ nằm trong vùng ảnh hưởng, vùng phủ sóng của nó, những dân tộc yếu và nhỏ như dân tộc Việt Nam vẫn cần, và có thể xây dựng một nền văn hóa riêng, tức là xác định một gương mặt riêng trong sự tồn tại nhiều nghìn năm của nó.

Không phủ nhận là Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa; và có mối quan hệ bền chặt với khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Với Đông Nam Á, đó là một nền văn minh bản địa có từ nhiều nghìn năm về trước, tồn tại từ trước thời Bắc thuộc và ngay cả trong 1000 năm Bắc thuộc - định hình khá rõ trong văn hóa dân gian, trong các tập quán, phong tục được lưu giữ bền vững trong tâm thức dân gian. Với Đông Bắc Á, Việt Nam cùng với Hàn Quốc, Nhật Bản là ba nước “đồng văn”, “đồng chủng” cùng chịu áp lực mô hình văn minh Trung Hoa như là một “mẫu mẹ”, ít nhất là trong hai nghìn năm, bắt đầu từ thời Bắc thuộc, với chín cuộc khởi nghĩa; và trong 1000 năm tự chủ luôn đứng trước hiểm họa bị phương Bắc xâm lược. Trong một tình thế lịch sử đặc thù như vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam phải học cách tiếp cận văn minh Trung Hoa trong xây dựng thể chế Nhà nước, tiếp nhận kinh điển Nho gia, để xây dựng những nền tảng cho văn hóa, giáo dục, văn chương, học thuật dân tộc.

Không phủ nhận việc giới trí thức dân tộc, những kẻ Sỹ đã tìm đến văn minh Trung Hoa như một khuôn mẫu để học tập, đối sánh, thi đua. Thế kỷ XVIII, nhà bác học Lê Quý Đôn so văn chữ Hán của người Việt với văn của người Trung Quốc, thấy “không khác gì cổ nhân”; và nhận xét về hai triều Lý Trần “tinh anh nhân tài, khí cách văn chương không khác gì Trung Quốc”... Thế kỷ XIX trong bài Tựa sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: “Nước Việt ta, từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của đời ấy. Đến nhà Lê kiến thiết kỹ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hóa, nhân tài đều thịnh, không kém gì Trung Hoa”.

Nhưng, nếu một mặt việc tiếp nhận Nho học, và tìm đến khuôn mẫu Trung Hoa cho văn hóa, văn chương, học thuật Việt là khó tránh, thì mặt khác, việc cưỡng lại để xác định một gương mặt riêng, một bản lĩnh riêng cho văn hóa Việt cũng là một thực trạng có lúc nổi bật và bao trùm. Tìm đến chữ Hán, để có một phương tiện cho kẻ Sỹ học tập và giao tiếp, cũng là một lối thoát, một cách giải quyết, khi dân tộc chưa có chữ; nhưng chính bằng vào chữ Hán, nền văn chương - học thuật Việt Nam đã đạt được những giá trị cao nhất trong thể hiện chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, bắt đầu từ bốn câu thơ Nam quốc sơn hà nam đế cư, qua Hịch tướng sĩ đến Bình Ngô đại cáo... Cũng chính chữ Hán là phương tiện để xây dựng một nền văn chương - học thuật Việt Nam, qua các áng văn lớn trải dài theo lịch sử, như Thiền uyển tập anh, Lĩnh Nam chích quái, Vũ trung tùy bút, Truyền kỳ mạn lục... Qua các bộ sử như Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Việt sử ký toàn thư... Và văn hóa sử, có giá trị bách khoa như Vân Đài loại ngữ, Lịch triều hiến chương loại chí... Thế nhưng, đồng thời với việc sử dụng chữ Hán, cha ông ta vẫn khoắc khoải di tìm chữ Nôm - như một cách giải Hán hóa, để từ thế kỷ XIII đã có một áng văn Nôm đầu tiên, qua thế kỷ XV với Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông làm nên sự bùng nổ của văn chương Nôm, rồi ba thế kỷ sau mà đến với đỉnh cao rực rỡ những tuyệt phẩm Nôm như Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, Cung oán ngâm khúc, bản dịch Chinh phụ ngâm… trong văn chương dân tộc.

Tình hình diễn ra như trên trong một lịch sử dài ngót 1000 năm, nếu tính từ khởi nghĩa Ngô Quyền năm 938 đến hết thế kỷ XIX, khi kết thúc phong trào Cần vương chống Pháp năm 1897, nền văn chương - học thuật dân tộc đã phát triển trên hai loại chữ viết là Hán và Nôm, và với những đặc trưng riêng của thời trung đại. Trong yêu cầu của câu chuyện đương bàn, để tìm đến mối quan hệ giữa văn học Việt và văn hóa Việt, tôi muốn xuất phát từ một đặc trưng chung của văn chương trung đại - đó là tính nguyên hợp, nó là sự phối kết, hòa quyện giữa ba phương diện văn-sử-triết trong một tác phẩm, mà những văn bản như Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo là những biểu trưng trọn vẹn. Nói văn chương là đấy. Nói khoa học nhân văn, khoa học xã hội là đấy. Và nói văn hóa cũng là đấy. Dần dần về sau, trong sự trưởng thành và mở rộng của ý thức và tâm thức dân tộc sẽ là sự phát triển rồi đi tới chuyên biệt, để có sự phân biệt một bên là văn chương, một bên là học thuật (hoặc trước thuật) - cả hai đều được thực hiện bởi một lớp người có tên chung là kẻ Sỹ, trong bộ tứ: sỹ, nông, công, thương, làm nên cộng đồng cư dân Việt. Một tầng lớp trí thức là chủ thể, là tác giả của cả một kho tàng văn chương và học thuật được sản sinh trong hàng ngàn năm, trên hai loại chữ Hán và Nôm; nó chính là pho sử của trí tuệ Việt, tâm hồn Việt, với hai nội dung làm nên hai dòng, hai trào lưu xuyên suốt, vừa song song, vừa tiếp nối - đó là trào lưu yêu nước - chống lại mọi âm mưu đồng hóa và xâm lược đến từ phương Bắc, chủ yếu bằng chữ Hán, và trào lưu nhân đạo, đứng về phía nhân dân để chống lại sự suy thoái, hư hỏng, phản động của chính quyền phong kiến, sau những thời kỳ hưng thịnh, chủ yếu bằng chữ Nôm...

Chuyển sang thời hiện đại, tính từ thập niên mở đầu thế kỷ XX với ba phong trào Duy tân, Đông du Đông Kinh nghĩa thục. Đó là ba phong trào làm nên gương mặt mới của dân tộc và văn hóa, văn chương - học thuật dân tộc trong thập niên đầu thế kỷ XX. Một thế kỷ tạo nên sự  khu biệt với một thiên niên kỷ trải dài của chế độ phong kiến trước đó, bởi hai mục tiêu: Văn minhDân chủ. Hai mục tiêu rồi sẽ xuyên suốt thế kỷ XX, qua một cuộc Cách mạng và ngót 40 năm chiến tranh chống ba đế quốc - cho đến thập niên 1990, đưa dân tộc vào thời hiện đại, và đi vào quỹ đạo của văn minh nhân loại.

Qua Tân thư của Trung Quốc, giới trí thức Nho học trong phong trào Duy tân với đại diện là Phan Châu Trinh, sẽ được tiếp xúc với những tư tưởng khai sáng ở phương Tây thế kỷ XVIII - tức thế kỷ Ánh sáng; và qua tấm gương Nhật Bản, trong phong trào Đông du mà Phan Bội Châu là lãnh tụ, giới trí thức sẽ thấy những anh em đồng văn đồng chủng với mình vượt qua sự trì trệ, hủ lậu của phương Đông mà tiến kịp phương Tây như thế nào? Cả một thế hệ nhà Nho Canh tân đã dấn thân vào con đường này bằng những hoạt động thiết thực nhằm chấn hưng dân khí, khai thông dân trí; và việc xây dựng một nền giáo dục mới - để thanh toán cái học hủ lậu mà hướng tới ánh sáng của văn minh phương Tây trở thành một cuộc vận động sôi nổi trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Đông Kinh nghĩa thục(1), phỏng theo mô hình Khánh ứng nghĩa thục (Keio Giguku) của Phúc trạch dụ cát (Fukuzawa Yukichi) năm 1858 ở Nhật Bản. Với Đông Kinh nghĩa thục - lần đầu tiên những tư tưởng khai sáng đến với trí thức xứ ta qua những cái tên lạ mà hấp dẫn như A-lí-sĩ-đa-đức (Aristote), Tư-cách-lạp-đề (Socrate), Bá-lạp-đề (Platon), Bồi-căn (Bacon), Đích-tạp-nhi (Descarte)… Rồi Lư Thoa (Rousseau), Mạnh-đức-tư-cưu (Montesquieu), Phúc-lộc-đắc-nhĩ (Voltaire)…

Chuyển từ nền học cũ sang nền học mới, Đông Kinh nghĩa thục chủ trương dạy cả ba loại chữ: Pháp, Hán, Quốc ngữ; trong đó Pháp đương nhiên là được lòng chính quyền, nhưng sự thật cũng là rất cần để cho giới trí thức trực tiếp đến với nền văn minh chính quốc, sau con đường gián tiếp qua Tân thư. Hán, thì mặc dù đã có người quyết liệt phản đối như Phan Châu Trinh (“Bất phế Hán tự bất túc dĩ cứu quốc” - Không bỏ chữ Hán không cứu được nước), nhưng vẫn cần học để không cắt đứt với văn hóa truyền thống. Còn Quốc ngữ thì đương nhiên ở vị trí ưu tiên: “Chữ Quốc ngữ là hồn của nước”, “Chữ ta ta phải thuộc làu”. Ba loại chữ cho cả ba bậc học: tiểu, trung và đại học và cho cả hai hệ học sinh nam và nữ - một hiện tượng cực kỳ mới mẻ - chưa từng có trong lịch sử giáo dục và khoa cử ở xứ ta.

Gọi là trường Đông Kinh nghĩa thục, nhưng thực chất là một phong trào, bởi quy mô hoạt động của nó là gồm đến bốn ban: Ban Giáo dục, Ban Tài chính, Ban Cổ động, Ban Tu thư nhằm chăm lo cho sự tồn tại và mở rộng hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục, theo một hành trình gồm ba bước - từ khởi động là giáo dục với mục tiêu cải tạo và nâng cao dân trí mà chuyển sang văn hóa, với mục tiêu là chấn hưng và canh tân đất nước, để đi đến cái đích cuối cùng là chính trị - giải phóng dân tộc.

Điều dễ hiểu là Đông Kinh nghĩa thục đã phải chịu một cuộc đàn áp cực kỳ dã man, dẫu tất cả những người tham gia là các nhà Nho trong tay không một tấc sắt. Bởi với giác quan của kẻ đi xâm lược, chính quyền thực dân đã “ngửi” thấy một cái gì thật bất an đang nhen nhóm, còn nguy hiểm hơn bất cứ mọi cuộc khởi nghĩa nào trước đó. Trong gắn nối với phong trào Duy tân và Đông du, và trong sự bùng nổ vào năm 1908 phong trào chống thuế ở Quảng Nam, cuộc bạo động của Đề Thám và vụ đầu độc Hà Thành, Đông Kinh nghĩa thục đã bị đóng cửa sau 9 tháng hoạt động. Và tất cả những ai có liên quan và đóng góp cho Đông Kinh nghĩa thục đều bị bắt, rồi bị giam cầm, đầy ra Côn Đảo, với những cái án giam hàng chục năm, có người là chung thân, hoặc “trảm giam hậu” (tội chém nhưng chưa phải chém ngay)…

Qua hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục ta hiểu, một bộ phận trí thức Nho học canh tân đã rất sáng suốt trong nhận thức vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cứu nước và giữ nước.

Cũng qua Đông Kinh nghĩa thục, ta hiểu mọi kẻ thù của dân tộc - đến từ phương Bắc (như trong 1000 năm Bắc thuộc, và 20 năm Minh thuộc), hoặc đến từ phương Tây (ngót 80 năm Pháp thuộc) đều không mơ hồ chút nào trước sức mạnh của văn hóa - như một vũ khí tinh thần cực kỳ lợi hại.

Sau thế hệ các nhà Nho canh tân mà đại diện là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Đông Kinh nghĩa thục sẽ là sự tiếp tục của hai thế hệ mới - thế hệ các trí thức có cả Hán học và Tây học, rồi thế hệ Tây học, để làm thành một bộ ba tạo nên diện mạo văn hóa, văn chương - học thuật Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX. Công cuộc hiện đại hóa, nếu đã được khởi động từ phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục, rồi sẽ được thực hiện với bước đi rất nhanh gấp, để có gương mặt hiện đại của nó trong thời kỳ 1930-1945, thời kỳ đạt những đỉnh cao trong các sáng tác văn chương và học thuật. Thời kỳ được thực hiện bởi những tên tuổi làm nên một Thế hệ Vàng, bắt đầu từ “Vĩnh, Quỳnh, Tố, Tốn” (1); qua Tản Đà, Ngô Tất Tố, Vũ Đình Long, Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng… đến nhiều chục tên tuổi trong ba trào lưu văn học sẽ cùng đồng hành từ 1930 đến 1945. Ba trào lưu văn học - đó chính là thành quả ngoạn mục của tiến trình hiện đại hóa diễn ra chỉ sau 30 năm, nhằm đáp ứng các yêu cầu mới, cấp thiết của lịch sử dân tộc. Đó là cứu nước - đặt ra cho trào lưu văn học cách mạng. Là đứng về phía nhân dân lao động - “những người khốn khổ” để phơi bày các bất công xã hội - văn học hiện thực. Và, giải phóng cá nhân - dẫu chỉ là cá nhân trong xã hội phong kiến - thuộc địa - văn học lãng mạn. Ba trào lưu văn học, với các đại diện ưu tú của nó - đó là kết quả của sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Một cuộc tiếp xúc chỉ trên dưới 30 năm mà tạo nên “một thời đại trong thi ca” - nói như Hoài Thanh; cả trong văn xuôi, trong kịch nói, và trong khảo cứu - nghị luận - phê  bình…; không chỉ khơi rộng mà còn tạo nên một dòng chảy mới trong sinh hoạt văn hóa, văn chương, học thuật Việt.

Như vậy là sau 1000 năm trung đại, văn chương - học thuật Việt đã chuyển sang thời hiện đại, trong một cuộc chuyển đổi mô hình chỉ diễn ra trên dưới... 30 năm, qua ba thế hệ. Và với thế hệ thứ ba - thế hệ Tây học, từ 1930 đến 1945, cùng với thành tựu của ba trào lưu văn học, là sự hình thành khoa học văn chương, với những tên tuổi lớn trên cả ba khu vực: nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, như Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh… làm nên một mùa gặt ngoạn mục, với các tên sách tiêu biểu: Việt Nam văn học sử yếu, Việt Nam văn hóa sử cương, Văn học khái luận, Nhà văn hiện đại, Thi nhân Việt Nam…

*   *   *

Cuối cùng để trở lại một câu chuyện có liên quan đến bản thân tôi: Năm 2018 này là năm Kỷ niệm 65 năm thành lập Ban Văn Sử Địa (1953 - 2018), được xem là tiền thân của Viện Hàn lâm khoa học xã hội ngày nay. Điều đáng nói ở đây là, từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu Việt Bắc, Đảng Lao động Việt Nam đã có một tầm nhìn xa, khi cho thành lập Ban Văn Sử Địa (1953) sẽ là tiền thân của Ủy ban Khoa học Nhà nước (1959), trong đó 2 Ban Văn Sử, sẽ được nâng lên thành Viện Văn học và Viện Sử học (1960); rồi Ủy ban Khoa học Xã hội (1967) cho đến nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội… với một dàn sáng lập, gồm những tên tuổi lớn, không chỉ có vị trí học thuật cao, mà còn có uy tín rộng rãi trong toàn xã hội, như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Huy Thông, Trần Phương…, như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Vũ Ngọc Phan…

Chắc chắn là trong việc kiểm điểm 65 năm hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có nghiên cứu văn học, chúng ta sẽ nhận ra nhiều thành tựu đóng góp cho sự nghiệp cách mạng nói chung, và sự nghiệp khoa học nói riêng. Một đóng góp trong khai thác, phát huy truyền thống yêu nước và chủ nghĩa nhân văn trong kho tàng lịch sử nhiều nghìn năm gắn với những tên tác giả, tác phẩm không chỉ xứng đáng với một dân tộc anh hùng, văn hiến mà còn có tầm nhân loại, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh...

Thành tựu lớn trong 65 năm nghiên cứu của Ban Văn Sử Địa, và sau đó, của Viện Văn học, theo tôi là đã tiến hành từ rất sớm việc nghiên cứu lịch sử văn học, qua nhiều bộ sử, nhiều chuyên đề về các giai đoạn, các trào lưu, các tác gia lớn làm nên một lịch sử đáng tự hào trên hai chủ đề là Chủ nghĩa yêu nướcChủ nghĩa nhân văn rất dồi dào bản sắc riêng trong suốt 1000 năm văn học Trung đại, cùng với thành tựu của văn học thế kỷ XX trước yêu cầu hiện đại hóa và cách mạng hóa… với hàng trăm tác giả, hàng nghìn tác phẩm tiêu biểu mà nếu liệt kê ra thì sẽ rất nhiều, rất dài.

Trên hành trình 65 năm cũng còn để lại những bất cập, những khoảng trống, trong đó đáng lưu ý nhất, đó là còn thiếu một bộ lịch sử văn học có chất lượng cao cho sự học trong nhà trường, và sự đọc của toàn dân. Một vài bộ sử như thế thật ra cũng đã có, nhưng chưa đạt một chất lượng cần thiết, theo yêu cầu và trình độ của công chúng, của thời cuộc. Cùng với lịch sử văn học thì lý luận văn học dẫu đã có nhiều cố gắng trong khoảng hai chục năm gần đây, nhưng vẫn còn xa mới theo kịp thế giới. Còn phê bình văn học thì chưa thực sự nhịp nhàng với sáng tác.

Một điều đáng lưu ý thêm: Các công trình lớn trước đây của cha ông để lại đều là sản phẩm của cá nhân, còn của chúng ta hôm nay hầu hết là của tập thể (nhiều người hoặc nhiều chục người; thậm chí hàng trăm người). Không kể Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên… cho đến Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú… các thế kỷ trước, ngay đầu thế kỷ XX này, các công trình như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm… vẫn để lại những giá trị mẫu mực cho các thế hệ sau…

Tản mạn một ít lịch sử và một vài tâm sự nghề nghiệp như trên, tôi nghĩ, khi nói đến văn hiến, văn hóa, văn chương học thuật Việt Nam, với một niềm tự hào chính đáng, cũng tức là nói đến đóng góp của khoa học xã hội - nhân văn có truyền thống lâu dài, với sự kết nối của nhiều niên đại, nhiều thế kỷ.

Vấn đề là làm sao cho các thế hệ trẻ hôm nay và tương lai tiếp nối được con đường của tiền nhân và đáp ứng được yêu cầu của dân tộc trong một thế giới đang thay đổi với gia tốc cực lớn khi đi vào cuộc Cách mạng 4.0.q

 

Chú thích

(1). Nguyễn Du được Hội đồng hòa bình thế giới tôn vinh năm 1965 và UNESCO tôn vinh năm 2015; Nguyễn Trãi được UNESCO tôn vinh năm 1980; Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh năm 1990.

(2). Khai mạc tháng 3-1907; đóng cửa tháng 12-1907.

(3). Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn; trong bộ tứ: Tứ hổ Tràng An.

Diễn đàn khác:
Giải pháp thúc đẩy công bố quốc tế trong KHXH&NV? (8/7/2020)
Trăn trở trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Nghệ An hiện nay (6/7/2020)
Đất nước đang cần báo chí giám sát và phản biện xã hội mạnh mẽ (6/7/2020)
Cơ cấu việc làm và những thách thức của các gia đình trẻ (26/6/2020)
Bàn tiếp việc phục hồi Văn miếu Nghệ An (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
Khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp gì trong việc xây dựng và phát huy tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc? (11/6/2020)
Hiệp định EVFTA đối với nông nghiệp Nghệ An - Cơ hội song hành cùng thách thức (11/6/2020)
Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ? (8/5/2020)
50 năm thực hiện mong muốn của Bác Hồ “… Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” (8/5/2020)
Tiếp cận đại dịch Covid - 19 dưới góc nhìn xã hội học (7/5/2020)
Vang mãi khúc ca toàn thắng Bài 1: Cuộc đối đầu lịch sử (29/4/2020)
Thời Covid-19, tính linh hoạt của con người và biết đâu điều khả dĩ (22/4/2020)
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An (16/4/2020)
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang (16/4/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 542 | Tất cả: 2,324,338
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp