KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chính sách của triều Lê - Trịnh đối với người nông dân Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII
Tin đăng ngày: 11/6/2020 - Xem: 198
 

Trịnh Thị Hà

Thế kỷ XVII - XVIII, Nghệ An là một trong những địa phương đặt dưới sự quản lý của triều đình Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài. So với các địa phương khác, nơi đây có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng cũng là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, có vị trí chiến lược quan trọng, từng là “phên dậu” của đất nước khi cùng hỗ trợ các địa phương trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ngay từ thời Bắc thuộc. Đặc biệt, trong buổi đầu Lê Trung hưng người dân Nghệ An đã hưởng ứng Lê Trang Tông khởi binh đánh Mạc Đăng Dung góp phần rất quan trọng vào việc tái thiết vương triều Lê. Trong cuộc nội chiến chống chúa Nguyễn ở Đàng Trong của triều Lê - Trịnh (1627 - 1672), Nghệ An lại trở thành “căn cứ địa” quan trọng khi diễn ra nhiều cuộc giao tranh ác liệt.

Sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên, cùng với những cuộc giao tranh về chính trị, quân sự xảy ra liên tục trong nhiều thập kỷ đã tác động không nhỏ đến đời sống xã hội của mọi giai tầng, trong đó có người nông dân. Hiểu rõ được vị thế quan trọng của vùng đất Nghệ An, đồng thời mong muốn góp phần cải thiện, ổn định đời sống cư dân, chính quyền Lê - Trịnh đã ban hành và thực thi một số chính sách cứu trợ xã hội và kinh tế dành cho người nông dân.

Upload

 

Phủ chúa Trịnh

  1. Đời sống của nông dân Nghệ An thế kỷ XVII, XVIII

Trong suốt thế kỷ XVII và XVIII, cũng như nhân dân cả nước, người nông dân Nghệ An đã phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề bởi những cuộc đấu tranh giành quyền lực của các tập đoàn quân chủ, trong đó cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài 45 năm đã khiến cho vùng đất Nghệ An luôn bị tàn phá, bất ổn định khi nơi đây luôn trở thành chiến địa diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt giữa đội quân của hai dòng họ Trịnh - Nguyễn, nhất là trong giai đoạn 1655 -1663(1). Các cuộc chiến sự xảy ra tại Nghệ An không chỉ tàn phá xóm làng, đồng ruộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế của người dân, mà đó còn là nguyên nhân làm cho hiện tượng “binh dịch” tăng lên khi người nông dân còn bị bắt gia nhập quân đội, tham gia chiến trận.

Người dân Nghệ An còn chịu sự bóc lột của tầng lớp cường hào địa chủ ở địa phương về mặt kinh tế. Tuy chính sử không ghi chép cụ thể cuộc sống cơ cực, lầm than của người dân Nghệ An trong giai đoạn lịch sử này, nhưng những dữ kiện lịch sử ghi chép về cảnh mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp cho người dân của cả nước trong thế kỷ XVIII đã phần nào phản ánh hệ lụy của các yếu tố chiến tranh, sự thiếu quan tâm của Nhà nước, sự bóc lột của tầng lớp quan lại ở địa phương đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến đời sống người dân.

Trước hết, người nông dân Nghệ An bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các hiện tượng thiên nhiên xảy ra thường xuyên và liên tiếp. Trong suốt thế kỷ XVIII, Nghệ An cũng như nhiều địa phương khác của cả nước đã phải gánh chịu hậu quả của các trận lũ lụt và hạn hán xảy ra vào các năm 1713, 1721, 1724, 1728, 1749, 1755, 1756, 1768. Trong đó có những trận lụt lớn như năm 1756: “Nghệ An mưa to, nước lụt, lúa ruộng bị ngập hết”(2). Hoặc đại hạn lớn như năm 1768 khiến cho nhiều người dân Nghệ An chết đói. Hạn hán, lũ lụt đã làm cho hoạt động sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, đồng ruộng bỏ hoang hoặc ngập lụt, cây lúa và cây hoa màu không sống được..., khiến cho các hiện tượng mất mùa, đói kém, dịch bệnh xảy ra thường xuyên ở Nghệ An. Không những vậy, người dân Nghệ An còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, thời tiết tai ương. Như vào năm 1714, Nghệ An phát sinh chứng dịch; hoặc vào năm 1777 xảy ra động đất tại Nghệ An... Các thiên tai bất dị cùng nạn đói xảy ra trong thời gian dài khiến cho nhiều người chết đói “Dân đói phải ăn rau cỏ sống, nấu củ nâu lên ăn cũng không sống nổi. Họ dắt nhau đi đầy đường, thây chết đói chồng chất”(3).

Người dân Nghệ An còn phải nộp nhiều loại thuế khác nhau: thuế thân (tiền quý), thuế điền, phép dung, tô với mức độ nhiều ít khác nhau. Chính sự bóc lột nặng nề về đời sống kinh tế đã khiến cho đời sống xã hội của người nông dân khổ cực, từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến phát triển đến đỉnh điểm, một số cuộc khởi nghĩa nông dân do các thủ lĩnh đứng đầu đã có lúc lui về Nghệ An lập căn cứ địa hoặc xây dựng lực lượng và được nhân dân nơi đây ủng hộ. Chiến tranh loạn lạc lại gây ra sự bất ổn định về mặt xã hội của người nông dân trong thời gian dài.

Trước các thực trạng đó, triều Lê - Trịnh đã thi hành một số chính sách quan trọng về kinh tế và xã hội nhằm cải thiện đời sống kinh tế của người dân Nghệ An, qua đó góp phần quan trọng vào việc ổn định trật tự xã hội.

  1. Chính sách giảm tô thuế, binh dịch, cứu đói

Tô thuế, binh dịch, lao dịch là những nghĩa vụ bắt buộc mà người nông dân vùng Đàng Ngoài nói chung, nông dân Nghệ An nói riêng phải thực hiện với Nhà nước đương thời. Nghĩa vụ nộp thuế gồm hai bộ phận là thuế ruộng đất (thuế điền) và thuế nhân đinh (thuế đinh). Mức thu thuế cụ thể của người nông dân Nghệ An quy định như thế nào, tư liệu không ghi cụ thể nhưng qua lệ tiền thuế quy định năm 1625 của triều Lê - Trịnh dành cho cư dân thuộc các xứ bên ngoài kinh thành, trong đó có xứ Thanh Hoa và Nghệ An cho biết tiền thuế thân của các hạng dân được phân từng hạng khác nhau. Theo quy định, đối với hạng dân: mỗi người phải bỏ ra 1 quan 2 mạch 30 văn tiền quý, không có tiền quý thì chuẩn nộp cho 2 quan 5 mạch tiền gián(4). Đối với thuế quan điền đều phỏng theo thuế thân, thu 7 phần, tha 3 phần để tỏ ý khoan dung thương xót. Theo quy định năm 1730, đối với tiền điệu thì do người dân tự đưa nộp, nhưng với thuế tô ruộng nộp vào tháng trọng đông (tháng 11) tại kho công ở Vĩnh Doanh (đặt tại Vinh).

Tuy nhiên, do đời sống người dân gặp nhiều khó khăn nên không phải lúc nào người nông dân cũng nộp các khoản thuế đúng hạn quy định của Nhà nước, mà thường tồn đọng qua năm này đến năm khác. Thậm chí, vì nghèo đói, tại rất nhiều làng quê trong cả nước xảy ra hiện trạng người dân rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa đi phiêu bạt khắp nơi để kiếm kế sinh nhai nên nợ thuế càng chồng chất hơn. Tính chung ở vùng Đàng Ngoài năm 1730, cư dân của 527 làng xã phiêu tán gần hết. Năm 1741 số làng phiêu tán tăng lên là 3.691 làng. Cuối thế kỷ XVIII, trong tổng số 11.767 xã thuộc các trấn vùng đồng bằng và Thanh, Nghệ có đến 1.488 làng xã bị phiêu tán(5). Trước thực tế đó, nhiều lần triều Lê - Trịnh đã ban hành các chỉ dụ sai các quan thăm hỏi đời sống nhân dân, thực hiện việc giảm, miễn, xá các loại thuế nợ của người dân, trong đó có cả xứ Nghệ An. Việc giảm thuế cho người dân tiếp tục được Nhà nước duy trì thực hiện vào các năm kế tiếp: 1709, 1713, 1725, 1728, 1730, 1735, 1739, 1755, 1758, 1767, 1768, 1771. Song tùy vào từng năm, phụ thuộc vào thiệt hại mùa màng do thiên tai, hạn hán nhiều hay ít mà Nhà nước quy định miễn, xá thuế có mức độ. Như năm 1713, triều đình căn cứ vào việc lúa mất hoàn toàn hay mất một nửa để miễn thuế nhiều hay ít, nếu lúa bị mất hoàn toàn thì thuế vụ hạ đều được miễn cả, hạng mất một nửa chỉ được tha cho 5/10 (tức một nửa).

Vào năm 1724, xác định vị thế quan trọng của vùng Thanh Nghệ là ấp thang mộc, trong đó Nghệ An đã từng là nơi Ứng nghĩa (chỉ việc dân Nghệ An hưởng ứng theo Lê Trang Tông đánh Mạc Đăng Dung), nên chúa Trịnh đã chủ trương thực hiện chính sách nới nhẹ và khoan dung về vấn đề tô thuế, điệu dịch. Trong đó về thuế điệu xứ Nghệ An và Thanh Hóa sẽ đóng góp theo lệ như vùng Tứ trấn; còn tô ruộng đều được giảm một nửa và cho miễn thuế dung(6). Đến năm 1730, trong khi thực hiện phép sửa đổi phép điệu và phép tô (thuế ruộng), Nguyễn Công Hãng đã xin triều đình cho giảm thuế tô ở hai xứ Thanh Hoa và Nghệ An, và được chuẩn cho chỉ thu bằng một nửa số ở Tứ trấn, công điền thì được miễn hoàn toàn. 

Nghĩa vụ binh dịch với Nhà nước cũng tác động không nhỏ đến đời sống của đông đảo người dân Nghệ An. Việc duy trì một số lượng quân đội lớn, vừa đảm bảo quốc phòng an ninh, vừa để trấn áp các cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân đã gián tiếp đẩy người nông dân - nguồn cung ứng binh đinh cho Nhà nước càng trở nên khốn đốn hơn. Nhiều người dân đã trốn để không bị bắt làm lính, hoặc khi vào lính tìm cách trốn bỏ như năm 1742, do tình hình đói kém nên số binh lính của xứ Nghệ An và Thanh Hoa bỏ trốn đến hơn vạn người. Để đảm bảo quân số binh dịch, các hiện tượng “quan cai quản bắt đòi, quan Trấn thủ tróc nã” trở nên phổ biến trong làng xã xứ Nghệ An, trực tiếp phiền nhiễu đến đời sống của người dân. Trước thực trạng này, triều đình đã thi hành nhiều giải pháp khác nhau như cho giảm ngạch bắt lính, hoặc như lời tâu của Tham tụng Nguyễn Quán Nho năm 1705 xin cho “đình chỉ ngay cái lệ cho Binh phiên bắt bớ để giảm phiền phí; nơi nào thực sự nghèo khổ thì cho Trấn quan mật tâu lên, đợi lệnh sẽ thi hành”(7). Năm 1721, chúa Trịnh Cương cho định rõ lại ngạch lính ở các địa phương, riêng hai xứ Nghệ An và Thanh Hoa thì cho giảm bớt ngạch tuyển lính thay vì cứ 3 suất đinh lấy một người lính, đến đây (năm 1721) lệnh cho quan địa phương tra xét số hộ, số khẩu nơi nào tăng lên, nơi nào sút kém, chia ra từng hạng, khi tuyển lính đều được theo điển lệ khoan hồng, định lệ 5 suất đinh lấy một người lính, và đó phải là người mạnh khỏe và là nhà vật lực(8). Năm 1742 theo lời tâu của Lê Hữu Kiều nên để quan địa phương của xứ Nghệ An thân hành đi hỏi dân tình, tùy nghi đòi hỏi lựa chọn, không được truy nã bắt bớ; triều đình ưng thuận đã cử Phạm Doãn Vỹ chia đi chọn lính. Đến năm 1743, triều đình sai Thống suất Nghệ An Nguyễn Gia Châu xếp đặt việc biên cương, tập hào mục và mộ binh đinh chia đồn giữ bảo vệ tình hình ở đây.

Chính quyền Lê - Trịnh đã nhiều lần sai quan đi thăm khám, thực hiện phát chẩn cứu đói dân nghèo, như năm 1726 Nhà nước chẩn cấp 40 bát quan thóc cho người dân Nghệ An gặp nạn đói(9). Năm 1728, vùng Thanh Hoa, Nghệ An và Tứ trấn vì nhiều lần trải qua lụt lớn và gió bão, đời sống nhân dân đói khổ, triều đình đã bỏ ra 6 vạn quan tiền trong kho nội phủ, sai các quan trong Tam ty chia nhau đi phát chẩn cho dân. Trong trận đói năm 1777, chúa Trịnh đã hạ lệnh cho Nguyễn Đình Diễn và Ngô Phúc Lâm lĩnh 15.000 quan tiền và 15 vạn bát thóc trong kho ra phát chẩn. Nhiều viên quan lại, nhân cơ hội dân đói kém để vơ vét của cải làm giàu. Nguyễn Đệ - con Nguyễn Nghiễm giữ chức Tham lĩnh xứ Nghệ An trong khi mua vét thóc lúa, cùng thủ hạ cậy thế làm càn nhân dân nhiều người ca thán nên bị triệu về giáng ba cấp. Năm 1776, triều đình mua thóc của nhà giàu Nghệ An để phát chẩn cho dân địa phương. Thậm chí, trong các năm 1768 và 1773, triều đình còn ban chỉ dụ huy động người giàu có trong các hạt thuộc Nghệ An nếu nộp gạo thóc để hỗ trợ cứu đói thì sẽ bổ cho họ chức quan. Hoặc trong nạn đói năm 1778, triều Lê - Trịnh đã hạ lệnh cho quan chức trong địa phương kê tên những người nghèo thành một danh sách, sau đó bắt những người có quyền thế, vật lực nhận lĩnh và lo chu cấp cho họ.

Về lâu dài, Nhà nước cũng rất chú trọng việc xây dựng các kho chứa thóc công ở Nghệ An, huy động thóc từ các nơi khác vận chuyển về để lưu trữ trong kho, tạo nguồn để kịp thời hỗ trợ người dân khi cần thiết. Năm 1768, triều đình còn sai quan Trấn ty cho dựng kho thóc công ở Vĩnh Dinh và Sa Nam (đều thuộc Nghệ An), “sai dân giàu có ở Thanh Hóa quyên thóc, vận chuyển vào kho Nghệ An rồi trao chức cho họ có thứ bậc”(10); đồng thời truyền cho các quan Trấn thủ cả hai xứ Thanh Hoa, Nghệ An và vùng Sơn Nam lấy thuyền biển vận tải thóc ở các kho Lạc Trường, Chân Ninh cùng thóc công ở đồn điền hai trấn Đông, Bắc hẹn đầu mùa xuân năm sau chở đến Nghệ An để việc dự trữ thóc được đầy đủ.

Ngoài ra, việc chiêu tập dân phiêu tán trở lại làng quê và tạo điều kiện cho họ sinh sống cũng được triều Lê - Trịnh chú ý, như quy định năm 1707 nêu rõ: nếu người phiêu tán trở về làng quê sẽ được xá phú thuế và lao dịch trong 5 năm; người trở về mà tình cảnh nghèo khổ sẽ được miễn thuế hộ trong ba năm(11). Năm 1729, triều đình cho họp bàn thi hành việc cứu vớt dân lưu xá, chia dân làm 4 hạng: Hạng thứ nhất dân phiêu tán mất tích; hạng 2: dân phiêu tán chỉ còn 1, 2 suất; hạng 3: dân nghèo khổ, vong mạng sắp đi đến phiêu tán; hạng thứ 4: dân chưa phiêu tán, chưa phải nghèo khó nhưng đã có tình trạng tệ hại(12) để có chính sách cứu trợ phù hợp. Trong nhiều năm, nhằm giảm sự khổ cực của người dân, triều đình đã cho miễn các loại tiền khoán, đây là loại tiền đóng góp của dân để sửa chữa cung điện hoặc tu bổ đường vua đi; cho hoãn hoặc đình chỉ các công việc xây dựng, sửa chữa các công trình, hoặc ra sức nghiêm cấm các nhà quyền quý và các nha môn cùng quan các ty, quan huyện không được lấy tiền của các hộ dân xã, thu lạm tiền của dân, không được hà hiếp, sách nhiễu dân trong vùng.

Như vậy, chế độ thuế khóa, binh dịch, thiên tai, địch họa là những yếu tố tác động trực tiếp dẫn đến sự bần cùng hóa và đói khổ của tầng lớp nhân dân. Vì vậy, việc triều đình Lê - Trịnh thực thi một số chính sách cứu trợ xã hội về thuế khóa, binh dịch, phát chẩn cứu đói đã có tác dụng nhất định trong việc giảm “gánh nặng” cho nhân dân.

  1. Chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển

Ngay từ buổi đầu dựng nước, trong đời sống kinh tế của cư dân Nghệ An đã có sự phân hóa theo địa vực, nhất là trong nông nghiệp khi cư dân tùy thuộc từng địa hình mà lựa chọn cây trồng, phương thức canh tác phù hợp. Ở vùng trung du và đồng bằng ven biển, nghề trồng lúa nước phát triển; trong khi ở những nơi gần núi, người dân đốt nương rẫy để trồng cây hoa màu, hoặc ở các bãi ven sông thuộc huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên cây hoa màu khá phát triển. Tuy nhiên, do địa bàn sinh sống ở những nơi khó khăn, bão lũ xảy ra thường xuyên nên đời sống kinh tế của họ cũng luôn bấp bênh. Trước thực trạng đó, với nhận thức sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào tình hình thời tiết, triều đình Lê - Trịnh đã ban hành và thực thi một số giải pháp, chủ yếu là vấn đề quản lý đê điều và công tác trị thủy.

Sự quan tâm của triều Lê - Trịnh đối với công tác đê điều được thể hiện cụ thể nhất ở việc nhiều lần sai các quan có trách nhiệm đi thăm khám hoặc đốc thúc nhân dân ở các địa phương (gồm cả Nghệ An) sửa chữa, tu tạo các công trình đê điều, sông ngòi được xây dựng trước đó hoặc xây mới mỗi khi xảy ra lũ lụt, vỡ đê. Việc làm này được thực hiện vào các năm: 1613, 1614, 1690, 1707, 1711, 1755, 1757, 1773, 1777. Trong đó, chỉ dụ năm 1614 yêu cầu cụ thể thời gian thăm khám của các quan là vào tháng 10 hàng năm. Sang thế kỷ XVIII, do hiện tượng lũ lụt xảy ra nhiều nên triều đình đã điều chỉnh lại quy trình thăm khám đê. Theo lệ định năm 1767, thì hàng năm cứ đến tháng 8, các quan huyện phải đi khám trước, trình lên Trấn ty và Thừa ty; sau đó đến tháng 9 quan Trấn ty đi khám lại, trình lên Chính đường (Triều đình) để xem xét; đến tháng 11 chia nhau đi khám lại, rồi mới khởi công xây dựng hoặc sửa chữa. Rõ ràng, quy trình khám đê đã được quy định cụ thể hơn về thời gian cũng như trách nhiệm của các cơ quan. Song từ lúc thăm khám cho đến khi thực hiện sửa chữa hoặc xây mới phải mất thời gian khá dài 3 tháng, cho thấy thủ tục nhiêu khê, ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Cùng với việc sửa chữa đê điều, việc nạo vét các con sông, con kênh dẫn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở Nghệ An cũng được triều đình chú ý đến. Trong hai thế kỷ XVII, XVIII triều đình đã huy động nhân dân nạo vét các sông như sông Hoàng Mai, sông Mơ thuộc huyện Quỳnh Lưu; kênh Mi (thuộc huyện Diễn Châu), kênh Sắt, kênh Gấm, kênh Đích...

Việc đắp đê do nhà nước và nhân dân cùng thực hiện, trong đó đối với các xứ có đê ven sông nếu là công trình nhỏ thì cho dân bồi đắp lúc rảnh nông nhàn. Đối với các công trình lớn, việc nặng, dân cùng làm nhưng cho trừ vào thuế điệu của dân(13). Trong quá trình xây dựng, Nhà nước cũng yêu cầu các quan không được sách nhiễu người dân, như chỉ dụ ban hành năm 1757 nêu rõ: “Đắp đê là để bảo vệ nghề nông. Nay chức hữu ty đặt ra phép tắc lại sách nhiễu hà lạm, làm hại nhà nông, sao cho xứng ý trên thương dân. Phải nên răn sợ chớ quen thói cũ”(14).

Để khuyến khích kinh tế nông nghiệp, triều đình Lê - Trịnh cũng chú ý đến việc khuyến khích quan cai nhậm ở các trấn chiêu mộ dân đi khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, tiến hành cày cấy, lập làng, lập xóm nhằm ổn định cuộc sống. Vào năm 1776, Nhà nước thực hiện chính sách “hỗ trợ” ruộng và nông cụ sản xuất cho người dân xiêu tán về làng. Theo đó, Nhà nước ban cấp cho mỗi người dân đi khai khẩn ruộng bỏ hoang 5 mẫu ruộng, cùng ngưu canh, điền khí trị giá 15 quan tiền, mỗi năm thu thóc 250 đấu, phần thóc thu này sẽ nộp vào kho thóc công tại trấn sở đó(15).

Ngoài ra, Nhà nước nhiều lần sai quan khuyến nông dạy dân trồng các giống lúa mới nhằm tăng năng suất cây trồng. Như năm 1777, triều đình yêu cầu quan dạy dân dùng lúa ba giăng, lúa bát nguyệt, lúa thi cấy cho kịp thời vụ. Tính chung thế kỷ XVIII, cả Đàng Ngoài người nông dân đã gieo trồng được 27 giống lúa mùa, 8 giống lúa chiêm, 29 giống lúa nếp(16). Riêng vùng đất Nghệ An, nông dân cũng đã có kỹ thuật gieo trồng phù hợp: “Đất 12 tổng huyện Đồng Thành, trấn Nghệ An đều là đất cát. Dân huyện ấy, theo tục truyền, cứ đến tiết mang chủng (tua rua mọc) thì khởi công cày bừa, gieo thóc rất dày; ngay ngày gieo giống, lại bừa luôn lần nữa, thóc giống với cát lẫn lộn. Không bao lâu, thóc mọc mầm, mưa xuống thấm ướt, màu đất bồi bổ cho lúa, lúa mọc lên tốt như cỏ; lại bừa lần nữa, mặc dù là đã có lúa. Bừa thế đã không hại lúa mà còn trừ được cỏ... Một nhà có một con trâu, cày được 10 mẫu ruộng không tốn công”(17).

Ngoài những biện pháp kinh tế, cứu trợ xã hội trên đây, trước những hiện tượng tai dị bất thường, thời tiết khô hạn, các chúa Trịnh yêu cầu các địa phương thực hiện nghi thức lập đàn cầu đảo. Chẳng hạn vào năm 1714, ở Nghệ An phát sinh chứng dịch, triều Lê - Trịnh hạ lệnh cho hai ty Thừa chính và Hiến sát lập đàn tràng ở nơi sạch sẽ, hội đồng bách thần trong hạt để cầu đảo. Biện pháp mang yếu tố tâm linh này ít nhiều cũng có hiệu quả nhất định trong việc khắc phục hạn hán, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân. Chính nhờ các giải pháp đó, mặc dù đã từng là một trong những địa phương có nạn đói kém xảy ra thường xuyên, người dân phải phiêu tán hoặc chết đói, song cũng có một số năm nhân dân Nghệ An được mùa lớn, trở thành một trong những địa phương được Nhà nước thu mua thóc gạo để cứu đói cho các địa phương khác. Chính sử cho biết, năm 1741 Thanh Hoa và Nghệ An là hai xứ được mùa, trong khi các vùng khác nhân dân mất mùa, đói kém. Lúc này triều đình sai sứ Nghệ An đong 200 vạn quan bát (mỗi bát đong được 84.000 hạt thóc) và Sơn Nam đong 150 vạn quan bát. Cứ 50 quan bát giá 1 quan tiền(18).

***

Như vậy, triều đình Lê - Trịnh đã thực hiện nhiều chính sách khác nhau cả về kinh tế - xã hội, gồm các chính sách về khuyến khích nông nghiệp phát triển, miễn giảm thuế, binh dịch, phát chẩn cứu đói đối với người nông dân của Nghệ An. Trong đó có những giải pháp được Nhà nước quy định cụ thể (chỉ dành riêng cho xứ Nghệ An), nhưng cũng có những biện pháp được lồng chung với chủ trương áp dụng cho nhân dân cả nước. Dù được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp nhưng nhìn chung, các chính sách của triều Lê -Trịnh đã thực thi trong hai thế kỷ XVII, XVIII dành cho người dân Nghệ An đều nhằm mong muốn cải thiện, ổn định cuộc sống của người nông dân, giúp họ vượt qua những khó khăn về thiên tai, địch họa, bệnh tật, đói kém, từ đó góp phần thực hiện chính sách ổn định xã hội. Qua các chính sách này cho thấy, triều Lê - Trịnh vẫn tiếp tục đề cao nông nghiệp “dĩ nông vi bản”, do đó người nông dân vẫn được Nhà nước coi trọng, giữ vị trí nhất định trong các chính sách của Nhà nước đương thời.

Mặc dù các chính sách về kinh tế, cứu trợ xã hội mà triều Lê - Trịnh dành cho người nông dân Nghệ An được thực hiện xuyên suốt trong cả hai thế kỷ XVII, XVIII nhưng thực tế đời sống người dân Nghệ An trong cả thời kỳ lịch sử này không thực sự ổn định, càng về sau (nhất là từ nửa sau thế kỷ XVIII) càng bấp bênh, khổ cực hơn khi họ phải gánh chịu nhiều nạn đói do hạn hán, mất mùa. Điều đó cho thấy, các chính sách của Nhà nước chỉ mang tính giải pháp tình thế, tạm thời mà chưa tìm ra được vấn đề cốt lõi, nguyên nhân chủ yếu của bất ổn trong đời sống người nông dân Nghệ An, đó là hậu quả của các cuộc nội chiến triền miên, rồi tình trạng đất nước bị chia cắt. Bản thân họ cùng một lúc chịu nhiều sự trói buộc về binh dịch, thuế khóa, lao dịch... Mặt khác, sự bất bình đẳng trong việc thực thi chính sách kinh tế, hoặc việc xử phạt giữa các giai tầng xã hội của Nhà nước đã tạo cơ sở để những tệ nạn tham nhũng có điều kiện phát triển, gây không ít phương hại cho Nhà nước trong quản lý xã hội.

Dù vậy, vượt lên trên những hạn chế đó, các chính sách mà chính quyền Lê - Trịnh đã ban hành và thực thi đối với người dân Nghệ An nói riêng, người nông dân cả nước nói chung đã có sự tiến bộ, hợp lòng người, đã góp phần củng cố và duy trì sự thống trị của vương triều cũng như góp phần thúc đẩy sự ổn định xã hội trong một thời gian dài gần hai thế kỷ. 

 

 Chú thích

(1). Trong 18 năm (1655 - 1663), nhiều cuộc giao tranh của quân đội hai bên Trịnh - Nguyễn đã xảy ra tại các huyện của Nghệ An, gồm: Kỳ Hoa, An Trường, Chân Phúc (sau là Nghi Lộc), Đông Thành, Nam Đàn, Hương Sơn, Lận Sơn (Nghi Xuân).

(2). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.255.

(3). Ngô Thì Sĩ trong Ngô gia văn phái, dẫn trong Ban nghiên cứu Lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh, Lịch sử Nghệ Tĩnh, Tập 1, Sđd, tr.149.

(4). Tiến quý (Cổ tiền), Tiền gián (Sử tiền) là hai đơn vị tiền thời cổ. Mỗi tiền 60 đồng là cổ tiền, mười tiền cổ tiền là 1 quan, bằng 600 đồng. Mỗi tiền 34 đồng là sử tiền mười tiền sử tiền là 1 quan, bằng 340 đồng.

Một mạch tương đương 1 tiền, một mạch cổ tiền là 60 đồng, một mạch sử tiền là 34 đồng. Dẫn từ: Điển chế và pháp luật Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nxb KHXH, HN, 2011, tr.540.

(5). Ngô gia văn phái tuyển tập, dẫn qua Ủy ban KHXH Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb KHXH, 1971, tr.321

(6). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.95.

(7). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.57 -58.

(8). Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Nxb Giáo dục, 1998, tr.429.

(9). Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Sđd, tr.455.

(10). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.323.

(11). Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Sđd, tr.394

(12). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.111.

(13). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.254.

(14). Đại Việt sử ký tục biên 1676 -1789, Sđd, tr.257.

(15). Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Sđd, tr.729.

(16). Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, trong Lê Quý Đôn toàn tập, Tập II, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1962, tr.181.

(17). Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, Sđd, tr.181.

(18). Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Tập 2, Sđd, tr.542.

KHXHNV & Đời sống khác:
“Xô viết Nghệ Tĩnh mãi mãi là niềm tự hào và kiêu hãnh, tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho Nghệ An hội nhập và phát triển” (11/9/2020)
Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 - Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam (1/9/2020)
Cách mạng tháng Tám 1945 - Giá trị lan tỏa lịch sử và hiện nay (1/9/2020)
Nhân kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) Vai trò to lớn của Bác Hồ trong Cách mạng tháng Tám (1/9/2020)
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống (7/8/2020)
Văn hóa nhà ở của người Việt (5/8/2020)
Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (29/7/2020)
10 tài năng trẻ KH&CN nhận giải Quả cầu vàng (29/7/2020)
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX (29/7/2020)
Lịch sử, ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 (22/7/2020)
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 757 | Tất cả: 2,470,197
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp