KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định EVFTA - Những cam kết quan trọng cần lưu ý
Tin đăng ngày: 11/6/2020 - Xem: 58
 

Nguyễn Viết Hùng - Hồ Thị Thủy

Tháng 12/2015, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) chính thức hoàn tất đàm phán. Ngày 30 tháng 3 năm 2020 vừa qua, Hội đồng châu Âu cũng đã phê duyệt Hiệp định EVFTA, hoàn tất thủ tục pháp lý cuối cùng theo quy trình phê chuẩn nội bộ của EU. Theo đó, Hiệp định EVFTA chỉ cần được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo theo quy định của Hiệp định là sẽ chính thức có hiệu lực đối với cả EU và Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình nỗ lực chia sẻ, hợp tác không ngừng nghỉ suốt thời gian qua của hai bên, từ lúc bắt đầu đàm phán, ký kết, hoàn thiện thủ tục pháp lý và thông qua. 

Upload

Lễ ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVIPA) 

EVFTA là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có phạm vi cam kết rất rộng, không chỉ các lĩnh vực thương mại truyền thống (hàng hóa, dịch vụ,...) mà còn cả các lĩnh vực thương mại lần đầu tiên Việt Nam có cam kết (như doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công,...), thậm chí có cả các vấn đề phi thương mại nhưng gắn trực tiếp tới hoạt động thương mại (môi trường, phát triển bền vững,...). Đây được xem là bước ngoặt lớn của Việt Nam trong tiến trình hội nhập toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội, đặc biệt tạo cú huých rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Theo đó, EVFTA sẽ xóa bỏ hơn 99% số dòng thuế theo lộ trình, tạo thuận lợi cho các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu sang thị trường EU như: dệt may, da giày, nông - thủy sản, đồ gỗ...

Hiệp định EVFTA được coi là đòn bẩy cho tăng trưởng, mở ra cơ hội lớn để Việt Nam thâm nhập thị trường đầy tiềm năng với 508 triệu dân và quy mô GDP tới 18.000 tỉ USD của EU. Trong những năm qua, EU chính là đối tác thương mại quan trọng nhất Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu năm 2019 đạt 56,45 tỉ USD (trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỉ USD, nhập khẩu đạt 14,9 tỉ USD). Không những có cơ hội thâm nhập thị trường lớn, sau 7 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 91,8% số dòng thuế, tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các Hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

Theo tính toán của các chuyên gia, khi Hiệp định được thực thi, tổng sản phẩm nội địa hàng năm của Liên minh châu Âu sẽ tăng thêm khoảng 30 tỉ USD, còn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020, 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với việc không có Hiệp định.

Tuy nhiên, với phạm vi cam kết rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực, nên Hiệp định sẽ tác động lớn đến thể chế pháp luật và kinh tế nước ta. Một trong những vấn đề về thể chế được nhấn mạnh trong Hiệp định là vấn đề sở hữu trí tuệ, được nói đến tại Chương 12 với mục tiêu bảo hộ đầy đủ và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). Đây là chế định tập hợp của các nguyên tắc, yêu cầu về các tiêu chuẩn bảo hộ cũng như thực thi việc bảo hộ các quyền SHTT.

EU là khu vực xuất khẩu các sản phẩm SHTT hàng đầu thế giới, do đó nhu cầu tăng cường bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ rất lớn, đồng thời có chế độ bảo hộ đặc thù đối với chỉ dẫn địa lý và rất chú trọng việc bảo hộ loại quyền SHTT này. Từ góc độ nội dung, các cam kết trong Chương 12 về SHTT trong Hiệp định EVFTA, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) tóm tắt và phân thành các nhóm sau:

- Nhóm 1: Các cam kết về nguyên tắc chung trong bảo hộ các quyền SHTT của EVFTA:

+ Ghi nhận mục tiêu thúc đẩy sáng tạo, bảo hộ và thực thi các quyền SHTT, cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và người sử dụng.

+ Khẳng định các quyền và nghĩa vụ theo các thỏa thuận quốc tế, đặc biệt là TRIPS.

+ Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc.

+ Cam kết về chấm dứt quyền.

- Nhóm 2: Các cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ đối với từng loại đối tượng SHTT cụ thể:

+ Cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan.

+ Cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu.

+ Cam kết về các tiêu chuẩn bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

+ Cam kết về các tiêu chuẩn kiểu dáng công nghiệp.

+ Cam kết về các tiêu chuẩn về bảo hộ sáng chế.

+ Trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ mạng trung gian.

- Nhóm 3: Các cam kết về tố tụng dân sự thực thi quyền SHTT:

+ Cam kết về các biện pháp trong thực thi quyền SHTT (biện pháp tạm thời, các biện pháp khắc phục, các lệnh cấm, các biện pháp thay thế,...).

+ Cam kết về các vấn đề thuộc về tố tụng thực thi quyền SHTT (cung cấp bằng chứng, quyền được thông tin, nguyên tắc suy đoán quyền,...).

+ Cam kết về trách nhiệm vật chất trong tố tụng SHTT (bồi thường thiệt hại, chi phí pháp lý,...).

- Nhóm 4: Các cam kết về biện pháp thực thi quyền SHTT tại biên giới:

+ Phạm vi các biện pháp tại biên giới.

+ Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong thực thi quyền SHTT tại biên giới.

+ Hợp tác trong cải thiện chất lượng hành chính.

+ Các biện pháp thực thi khác: Khuyến khích các hiệp hội về SHTT xây dựng các Bộ quy tắc ứng xử; Hợp tác trong thực thi SHTT.

Việc phân nhóm các nội dung của Hiệp định về SHTT không chỉ giúp cộng đồng, doanh nghiệp, các cá nhân tiếp cận được với thông tin, nắm được nội dung và các quy định về SHTT mà còn giúp Việt Nam rà soát lại hệ thống pháp luật hiện hành với các cam kết cụ thể trong EVFTA về SHTT, làm cơ sở để xác định những chế định đặc biệt hoặc chưa tương thích của pháp luật nội địa với các cam kết EVFTA về SHTT, từ đó đề xuất các phương án sửa đổi, điều chỉnh hệ thống pháp luật để đảm bảo tuân thủ EVFTA.

Việt Nam là một nước đang phát triển, chỉ sở hữu một số lượng rất ít các sản phẩm SHTT so với đối tác EU, do đó, rất cần không gian cho phép các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tiếp cận các sản phẩm SHTT phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, khoa học, xã hội với chi phí thấp nhất có thể. Không phải ngẫu nhiên mà vấn đề SHTT, đặc biệt là chỉ dẫn địa lý, trở thành một trong những vấn đề đàm phán khó khăn, phức tạp nhất trong EVFTA, và Chương SHTT cũng là một trong những chương có dung lượng lớn nhất trong toàn bộ Hiệp định.

Như vậy, muốn hội nhập sâu rộng, tận dụng các cơ hội, ứng phó với những thách thức mà Hiệp định thương mại tự do EVFTA mang lại, thì Việt Nam cần tạo được hệ thống SHTT mạnh làm tiền đề để kiểm soát các hoạt động kinh doanh, bảo vệ thương hiệu; tạo môi trường cũng như hành lang pháp lý vững chắc để các cá nhân, tổ chức yên tâm phát triển ý tưởng sáng tạo, đưa ra thị trường những sản phẩm chất lượng, có tính ứng dụng cao. Để thực hiện được Việt Nam cần tập trung triển khai các giải pháp:

Từ phía Nhà nước, cần phát triển công nghiệp phụ trợ nhằm đảm bảo thỏa mãn yêu cầu về xuất xứ; Hoàn thiện thể chế và nâng cao nhận thức cộng đồng về lao động, môi trường; Phát triển năng lực công nghệ và quản lý chất lượng đến xây dựng nông nghiệp hữu cơ. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030, trong đó gồm nhiều giải pháp nhằm đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu ASEAN về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ vào năm 2030. Theo đó, hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam được phát triển đồng bộ, hiệu quả ở tất cả các khâu sáng tạo, xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gia tăng đóng góp tài sản trí tuệ vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ cũng như của xã hội, góp phần hoàn thành mục tiêu đưa Việt Nam thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Về phía doanh nghiệp, người dân cần chủ động tìm hiểu thông tin về Hiệp định EVFTA để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm. Đặc biệt cần nắm vững và đáp ứng các quy định về bảo hộ, khai thác, thực thi quyền sở hữu các tài sản trí tuệ và các quy định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của EU. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp, người dân phải chú trọng nâng cao nhận thức về lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng như không ngừng đổi mới sáng tạo, cải thiện năng lực công nghệ nội tại và năng lực hấp thụ công nghệ mới, tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Chỉ có như vậy, các doanh nghiệp mới có thể đứng vững khi bước chân ra biển lớn, tham gia cuộc chơi chung toàn cầu.

Chú trọng đảm bảo xuất xứ hàng hóa: Về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA có điều khoản về cộng gộp đối với một số nước đã có FTA với EU, điển hình như Hàn Quốc. Ví dụ với mặt hàng dệt may, khi Hàn Quốc đã có FTA với EU, các nguyên phụ liệu của ngành dệt may nhập khẩu từ Hàn Quốc được phép tính cộng gộp. Việc thúc đẩy giao thương với EU nhờ Hiệp định EVFTA, bên cạnh việc nỗ lực tận dụng những cơ hội mở ra, coi trọng công tác phòng vệ thương mại, chống lẩn tránh, gian lận xuất xứ hàng hóa nhằm khai thác bất hợp pháp các cam kết của hiệp định này cũng là điều quan trọng, cần đặc biệt lưu tâm.

Tuy nhiên, song song với lợi thế lớn là sự khó tính của thị trường EU, những yêu cầu cao về chất lượng, các quy định đối với sản phẩm nhập khẩu của các nước thuộc khối EU liên tục thay đổi khiến sản phẩm của chúng ta phải liên tục thay đổi để kịp thời đáp ứng. Điều này là một trở ngại lớn đối với nền nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ, sản xuất còn mang tính thủ công, truyền thống; doanh nghiệp chủ yếu là vừa và nhỏ như ở Nghệ An.

Bên cạnh đó, sự khó khăn do những rào cản phi thuế quan như chất lượng, an toàn thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ do thị trường này đặt ra, cũng sẽ là trở ngại không nhỏ khi doanh nghiệp, người dân Nghệ An muốn tham gia Hiệp định. Nhất là khi mà ở Nghệ An hiện mới chỉ có 1.142 đối tượng được cấp văn bằng bảo hộ, trong đó nhãn hiệu là 1.053; kiểu dáng 65; Giải pháp hữu ích 11; sáng chế 13. Và chỉ khoảng 27,4% doanh nghiệp cho biết họ có biết về thực hiện một số công việc liên quan đến Sở hữu trí tuệ (theo số liệu của Sở KH&CN Nghệ An, tháng 11/2019).

EVFTA được ví là “con đường cao tốc hướng Tây”, kết nối Việt Nam tới một không gian thị trường rộng lớn và có tiềm năng hàng đầu trên thế giới. Do đó, để tận dụng “cơ hội vàng”, ngoài việc thực hiện các cam kết khác, trong cam kết về sở hữu trí tuệ, Nghệ An cần chú trọng 4 vấn đề lớn, đó là:

Thứ nhất, về Chỉ dẫn địa lý: Cần nắm vững các tiêu chí chung đối với hệ thống đăng ký chỉ dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa (dệt may, thép..), chứng chỉ nguyên liệu (thủy sản, gỗ, dược liệu…) vì đây là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong SHTT của Hiệp định.

Thứ hai, về Sở hữu công nghiệp: Theo đó, về sáng chế, ngoài việc khẳng định quyền và nghĩa vụ theo Hiệp ước Hợp tác sáng chế (về thủ tục đăng ký sáng chế quốc tế), tiến tới đơn giản hóa thủ tục đăng ký. Đối với nhãn hiệu, Hiệp định yêu cầu các bên khẳng định quyền và nghĩa vụ theo Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, áp dụng Bảng phân loại Nice. Về kiểu dáng công nghiệp (KDCN), Hiệp định yêu cầu các Bên gia nhập Thỏa ước La Hay về đăng ký quốc tế KDCN trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Thứ ba, về Quyền tác giả: Hiệp định EVFTA tập trung vào việc đảm bảo sự bảo hộ hiệu quả các quyền này trong môi trường kỹ thuật số trên cơ sở yêu cầu các Bên gia nhập hai điều ước của Tổ chức SHTT thế giới - WIPO (WCT và WPPT) về quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trường Internet trong vòng 2 năm sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực; và quy định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong các vụ xâm phạm quyền SHTT trên Internet.

Thứ tư, Thực thi quyền SHTT tăng cường tính hiệu quả: Hiệp định EVFTA đặt ra thêm một số yêu cầu về thực thi dân sự và kiểm soát biên giới so với Hiệp định TRIPS, nhằm tăng cường tính hiệu quả của hoạt động thực thi quyền.

Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về nội dung, ý nghĩa của Hiệp định EVFTA tới các tổ chức, doanh nghiệp và người dân để nắm vững cam kết của Việt Nam và các thị trường đối tác quan tâm, tạo tâm thế chủ động khi tham gia Hiệp định; Bên cạnh đó, ngoài việc nâng cao hiểu biết và nhận thức của doanh nghiệp, tổ chức, người dân về vấn đề SHTT, cần đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ am hiểu về luật SHTT để chủ động tham gia quá trình kiện tụng, xử lý tranh chấp và bênh vực quyền lợi chính đáng cho người dân khi tham gia Hiệp định.

Việc thi hành các nghĩa vụ theo Hiệp định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp các nước, trong đó có cả doanh nghiệp Nghệ An có thể xác lập và bảo vệ thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo, từ sáng tạo đổi mới công nghệ, mẫu mã, bao bì đến nhãn hiệu sản phẩm và dịch vụ một cách dễ dàng và hiệu quả hơn. Và là một FTA thế hệ mới, Hiệp định EVFTA được kỳ vọng trở thành một tiêu chuẩn mới trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT, đáp ứng nhu cầu bảo hộ của chủ thể quyền, nhưng vẫn đảm bảo độ linh hoạt nhất định để một quốc gia đang phát triển như Việt Nam có thể hưởng lợi từ bảo hộ SHTT.

KHXHNV & Đời sống khác:
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
“Xạc húa” không chỉ là “Gội đầu” (12/6/2020)
Giao thương của người Nhật ở Nghệ An (11/6/2020)
Chính sách của triều Lê - Trịnh đối với người nông dân Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII (11/6/2020)
Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định EVFTA - Những cam kết quan trọng cần lưu ý (11/6/2020)
Văn học dân gian dân tộc Thái ở Con Cuông - Di sản văn hóa đặc sắc (11/6/2020)
Thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết ở vùng dân tộc thiểu số Nghệ An (11/6/2020)
Cầu ngầm Khánh Khê - Địa danh lịch sử không thể nào quên (10/6/2020)
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 533 | Tất cả: 2,324,329
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp