KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Văn học dân gian dân tộc Thái ở Con Cuông - Di sản văn hóa đặc sắc
Tin đăng ngày: 11/6/2020 - Xem: 134
 

 

Linh Nhi

Upload

Cũng giống như đồng tộc của mình ở Nghệ An, người Thái ở Con Cuông cũng có nền văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú, bao gồm nhiều thể loại như: Sử thi, truyện kể, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, đồng dao,... Trừ một số tác phẩm dân gian được ghi chép bằng chữ Thái, thì hầu hết truyền thuyết, truyện kể đều được lưu truyền chủ yếu thống qua truyền miệng, qua trí nhớ của người dân. Nội dung của các truyện kể là việc giải thích về nguồn gốc loài người, về các anh hùng dân tộc, về quá trình lập bản, dựng mừng, về cuộc đấu tranh giữa cái thiện với cái ác, giữa cái tốt với cái xấu, giữa giàu với nghèo,... trong xã hội.

Truyện kể dân gian: Truyện kể dân gian Thái bao gồm các thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn và truyện cười là một kho tàng khá phong phú, cho đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch ra tiếng phổ thông và giới thiệu, xuất bản hầu như vẫn chưa được bao nhiêu so với kho tàng, tiềm năng vốn có của nó.

Nội dung của truyện kể dân gian người Thái thường kể về việc khai phá xây dựng bản Mường, đời sống và sinh hoạt ở bản Mường, quan hệ xã hội ở bản Mường. Ý nghĩa và nội dung của loại truyện này giải thích được nguồn gốc phi tín ngưỡng ban đầu, là bài học về nhận thức vũ trụ, con người; bài ca lao động để chế ngự thiên nhiên và sức mạnh của con người trên trái đất.

Truyện “Chàng Khạ và nàng La Vua Len” sưu tầm ở Con Cuông và Tương Dương là một ví dụ quá trình đấu tranh chống lại những kẻ tham lam, độc ác trong xã hội. Chúng là những chúa đất, chúa bản, chúa mường,... Chúng chỉ muốn bóc lột sức lao động của người khác, bắt những người hiền lành, nghèo khổ đem sức lao động tìm của lạ vật quý, tìm vàng, tìm bạc, tìm gái đẹp về dâng, nộp cho bọn chúng. Chàng Khạ nằm mơ gặp nàng là La Vua Len, con gái chúa Kỳ Đà. Chàng thật thà kể lại giấc mơ với chúa mường. Thế là chúa mường giao cho chàng Khạ hai nén bạc trắng và bắt chàng lên đường đi tìm gấp. Chẳng biết nàng La Vua Len ở đâu, chàng Khạ thất thểu bước đi tìm. Khạ nghe nói ở bản nọ có người bắt được con kỳ đà. Chàng đến đó. Đêm đó ngủ lại ở nhà người bắt được kỳ đà, nghe con kỳ đà than vãn, chàng liền bỏ hai nén bạc ra mua. Nào ngờ đó chính là nàng La Vua Len. Khi nàng bỏ lốt kỳ đà thì đó là một cô gái có nhan sắc tuyệt đẹp. Cô đưa Khạ về nhà. Cha mẹ nàng La Vua Len đồng ý cho hai người được kết hôn với nhau. Thấy chàng Khạ đưa nàng La Vua Len xinh đẹp trở về, dân bản đến chúc mừng. Chúa mường liền bắt Khạ phải đưa nàng La Vua Len đến ngay cho hắn. Khạ không nghe. Hết dụ dỗ đến dọa nạt không được, hắn cho người đến bắt nàng La Vua Len. Khạ vô cùng đau khổ, nhưng nàng bình tĩnh bảo chàng cứ yên tâm. Đến nhà chúa mường, nàng La Vua Len đưa cái “áo da” ra và bảo: “Đây là báu vật nhà em, mặc cái áo này thì thành vợ thành chồng, tai qua nạn khỏi, sống lâu, không sợ gì nữa”. Chầu mường bèn lấy áo mặc thử, không biết là đã mắc mưu nàng, lập tức hóa thành con kỳ đà. Kỳ đà vừa chạy ra đường lập tức bị xồ ra cắn chết. Nàng La Vua Len trở về sống yê vui  cùng chàng Khạ. Với viên ngọc quý mẹ cho, nàng đã đem lại sự giàu có và hạnh phúc cho cuộc sống của hai vợ chồng.

Ngoài những thể loại truyện trên còn có những truyện về mối quan hệ trong gia đình, truyện về tình yêu trai gái, như: “Truyện Tạo Cuốốc”, bộ truyện về thằng Khạ “Khạ Chim Chích”, “Khạ mài dao”, “Khạ đi lấy cái đục”, “Khạ ốc bươu”,... với nhân vật Khạ mồ côi, hiền lành, đời sống bần hàn, cơ cực, nhưng nhờ trí thông minh là lấy được vợ đẹp, con nhà quan. Kết thúc những câu truyện này thường có hậu, nhân vậ mồ côi được hưởng hạnh phúc, có nhà cao cửa rộng, có vợ đẹp.

Ở Con Cuông còn lưu truyền những truyện kể giải thích tên gọi sự vật tự nhiên, địa bàn cư trú của đồng bào. Xuất phát từ nhu cầu muốn giải thích tên gọi của núi, của sông, con dốc, cảnh vật,... bà con đã huyền thoại hóa những sự vật tự nhiên ấy thành những truyện kể để cắt nghĩa sự hình thành, sự hiện diện của nó. Dù còn thô sơ nhưng thể hiện tình yêu quê hương, về quá trình đấu tranh với các thế lực huyền bí của tự nhiên, của những kẻ độc ác trong dựng bản lập mường. Truyện thuyết dân gian về Eo Vực Bồng, Suối Nước Mọc (Tạ Bó), Hang Nàng Màn (Thẳm Nàng Màn), dốc Pù Ông,...

Tuy nội dung của truyện kể dân gian miền núi Nghệ An chưa thật mạch lạc, lời thơ kể pha trộn, xen kẽ, mang yếu tố thần linh nhưng đó là tư tưởng, quan niệm, là thế giới quan, nhân sinh quan, là những ghi nhận về quá trình diễn biến của dân tộc mình và còn là những bài mo để cúng của bà con dân tộc Thái ở Con Cuông.

Tục ngữ, ca dao: Người Thái là một trong số rất ít các dân tộc thiểu số ở tỉnh ta có chữ viết riêng. Các tài liệu chữ Thái đã truyền lại những cuốn sử chép tay, những bản trường ca, những truyện thơ dài, những câu ca dao, tục ngữ, những luật tục... như là những viên ngọc quý, nhưng đáng tiếc rằng ngày càng ít đi những người tâm huyết, biết đọc thông viết thạo chữ Thái để bảo tồn và phát huy giá trị.

Không có sự khu biệt nào về tục ngữ, ca dao của người Thái ở Con Cuông với các huyện miền núi khác ở Nghệ An, có khác chăng chỉ là những câu tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện kể có đề cập đến địa danh, con người, sự việc ở Con Cuông.

Tục ngữ: Tục ngữ Thái thể hiện rất rõ quan niệm, ý thức của người Thái về kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệp đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội được họ vận dụng vào đời sống và ứng xử hàng ngày.

Tục ngữ về kinh nghiệm thời tiết thông qua các hiện tượng, sự vật:

- Sao mời trời hạn, sao sáng trời mưa

(Đao chôm xi lánh, đao chanh xi phồn)

- Cây mây nở hoa, trời hết sấm

Cây nấm nở hoa, trời ra oai sấm nổ

(Cô vải pồng nhọt, phạ hạt xiềng nạt

Bọc nạt phông phạ, lống lăng má giảm)

 Về kinh nghiệm sản xuất, bà con dân tộc Thái có câu tục ngữ:

- Tháng năm trỉa lúa rẫy

Tháng sáu trỉa lúa mùa

(Nậm hảy thang nẳm

(Đắm úa thang thâu).

 - Tháng Giêng trồng mét

Tháng Tám trồng nứa

Bươn chiếng pục mạy pẹt

Bươn pẹt pục mạy hịa.

Tục ngữ Thái còn khuyên mọi người nên xem trọng gia đình, anh em ruột thịt sống hòa thuận, yêu thương, đoàn kết lẫn nhau, sống phải kính trên nhường dưới:                            

- Anh em xấu tận cùng không bỏ

Chồng vợ xấu, một giờ sau thành người dưng

(Ài nọng hại xút xền bò xía

Púa mia hại chơ đẻo pến pưởn).

- Anh em ruột thịt như nước với thuyền

Vợ chồng thì như áo quần đang mặc

Ai nọng khư nừng nặm tâng hia

Púa mia khư nừng xồng tâng xìa

Trong dạy dỗ, giáo dục con cái, người Thái cũng có những câu tục ngữ khuyên răn phải mềm mỏng, kiên trì:

- Dạy con gái khi con gái chưa biết thẹn

Dạy con trai khi con trai chưa biết chơi rông bản

(Bọc lực nhinh chơ lực nhinh nhăng bảy hụ hang hái

Bọc lực chai chơ lục chai nhăng bảy hụ pản bàn)

- Dạy con dạy từ nhỏ

Dạy tôi tớ từ ngày mới về nhà

(Bók lụ bók té nọi

Bók khỏi, té mưa hính má)

Ngoài ra, tục ngữ Thái còn giáo dục con người cách đối nhân xử thế với nhau, thận trọng khi ứng xử tránh gây tổn thương cho người khác, chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau,...; phê phán những thói hư tật xấu của nhưng người lười nhác, tham lam, ích kỉ,...

Ca dao: Giống như tục ngữ, ca dao của người Thái cũng nói về kinh nghiệm sản xuất, thời tiết, về đức tính cần cù của người nông dân Thái, về mối quan hệ gia đình, xã hội, về tình yêu đôi lứa...

Phần nhiều ca dao Thái nói về tình yêu đôi lứa, những lời hẹn hò của trai gái trong lúc lao động, những lời tỏ tình đắm say, đặc biệt là lời của người con trai bao giờ cũng mãnh liệt, táo bạo hơn:

                   - Anh gặp em như tấy gặp cá

                   Như con quạ gặp trứng ven đường

                   Như sóc gặp bắp trên nương

                   Như gấu trên rừng, bắt gặp tổ ong

                   Nhưng em ơi,

                   Tấy ăn cá nhiều ngày kêu ngán,

                   Gấu uống mật ong lắm nhiều ngày cũng nôn

                   Còn anh yêu em

                   Trăm lần chưa chán

                   Ngàn lẫn vẫn còn yêu.

Hay như:

                   Nếu em hóa thành nước sông

                   Anh nguyện làm thân con cá

                   Nếu em hóa thành ruộng

                   Anh nguyện làm thân cây lúa tốt xanh

                   Nếu em hóa thành rượu trấu ủ trong chum sành

                   Anh nguyện làm cần để cắm

                   Nếu em biến thành cây rau thơm, rau ghém

                   Anh mãi mãi thành rổ rá đựng rau

                   Luôn bên em chẳng ngại đói nghèo.

Nói về sự siêng năng, cần cù của người nông dân, người Thái có bài “Nhìn rẫy của em”:

                   Anh trèo lên lèn cao nhìn rẫy

                   Anh leo lên dốc cao ngó rẫy

                   Thấy chỗ nào cũng có rẫy của em

                   Miếng rẫy trên em tỉa nếp đen

                   Miếng rẫy dưới em trồng khaafu mon hản đỏn

                   Có cả khẩu ỏn ời, mệ nàng nở ra  bông trắng

                   Nhìn những miếng rẫy quanh đồi em tỉa khầu táo

                   luồn, khầu ngân, khầu kăm panh

                   Nhìn những miếng rẫy trên đỉnh núi em trồng khầu mua

                   khầu pẹt, khầu mừng lá đang còn xanh

                   Những miếng rẫy của em đủ mọi giống lúa

                   Bàn tay em bao ngày chặt cây, lặt đá...

Upload

Người Thái Đen xưa

Còn rất nhiều bài ca dao của người Thái nói về tình yêu đôi lứa gắn với thiên nhiên, với bản mường, với những sự vật gần gũi như con suối, nương rẫy, cái nhà sàn, khung dệt cửi, bếp lửa,... Tất cả đều được thể hiện bằng hình ảnh thân quen, hồn nhiên, tràn đầy tinh thần lạc quan.

Đồng dao: Đồng giao, tiếng Thái gọi là “Quam lếch nọi” - những bài hát của trẻ em. Những bài hát này các em sáng tác trong quá trình vui chơi, có vần có điệu, phản ánh tâm hồn trẻ thơ trước núi rừng, sông suối, làng bản; phản chiếu thế giới xung quanh và ước mơ được khám phá thế giới đó của các em.

Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em... Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi. Nhìn chung, đồng dao trong các trò chơi thiếu nhi ở các vùng miền đều khá giống nhau ở nội dung, chỉ khác tiếng địa phương.

Theo nhà nghiên cứu Quán Vi Miền, đồng dao của người Thái có 7 chủ đề, gồm: Gọi bướm (Quam tạ bờ), Gọi trăng sao (Tạ bướn đáo), Cầu mưa (Xó phốn), đếm hoa nong (Án lai đùng), Hát đố, Trốn tìm (Chù vì chù vít/bít), Ru em (Ư ưi nọng).

Ví dụ như bài đồng dao “Thả Bươn” - Đố Trăng, thì vào những buổi tối trăng sáng trên bãi cỏ rộng, các em nắm tay nhau nhìn trời và cùng hát vang: 

“Ông trăng ơi trăng vàng - Hai cô nàng giã gạo; Hai già cho lợn ăn - Hai con rắn bện thường, Hai con Rồng cổ vằn - Châu chấu biết bừa ruộng, Gà còn biết ru con ngủ ngày - Sâu đóm bò trên cầu vẽ bản, Anh mời thần đánh trống - Anh mời thông gia uống rượu, Đánh sắt đánh đồng - dắt trâu lên bản thượng - rước đưa dâu rộn ràng, ma cà rồng đậu trước cửa sổ - ma chồn bay đậu cầu thanh - ong vò vè đậu nóc nhà”.

Hay khi thời tiết vào xuân, mua hoa đua nở, cây cối đâm chồi nảy lộc, vạn vật sinh sôi, là mùa bướm nở, bay lượn dập dợn, tìm hoa hút mật là lúc trẻ em hát những bài “gọi bướm”, “nhử bướm” để lại bắt. Bắt được bướm, các em dùng để chơi, vừa chơi vùa hát các bài đồng giao “Bướm ca đích ơi”: “Ca đích, ca đích ơi/ Ca đích anh đuôi tỏa/ Ca đảng chàng đuôi buông/ Đuôi mày xòa bằng cối bằng máng (gạo)/ Cắn chắt lúa cho ông bà mày ăn/ Ca đích ơi”,... Ngoài ra còn có các bài như “Bươm cây gai ơi”, “Bướm đỏ ơi”, “Bướm nàng ơi”,...

Vào khoảng tháng 3 âm lịch trở đi, mở đầu thời kỳ phát rẫy, tra hạt, cày ruộng,.. nếu trời không mưa thì người lớn làm lễ cầu mưa (ban ngày), còn ban đêm trẻ em thường tụ tập nhau lại đi đến đầu nhà sàn để hát xin mưa. Chủ nhà nghe các em hát, ra đứng ở đầu nhà sàn đóng vai ông trời, thần sấm, thần sét, hoặc “rồng” để làm mưa bằng cách quẹt than củi đỏ, đốt ống nứa nổ rồi hắt nước trong thau, trong ống nứa nổ xuống. Được “mưa” các em hò reo vui vẻ. Có 7 bài đồng dao “Cầu mưa” , ví dụ: “Cao tít mây/ Trên đỉnh mây/ Chót ngọn mây/ Lá sả lại chọc cục mây/ Cục mây kêu “hụm, hụm” (sấm)/ Cục mây bằng cái cối/ Hòn mây bằng máng gạo/ Đánh cồng vang đầu sàn “xả xả”/ Ô lùm ơi ô là,...”.

Ngoài ra còn rất nhiều bài đồng dao Thái về Hát đố, Trốn tìm, Ru em... Những bài đồng dao này đi vào cuộc sống một cách hồn nhiên, mộc mạc, chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, không chỉ có lũ trẻ thường nghêu ngao hát mỗi khi chăn trâu cắt cỏ và mà còn được hát trong lễ hội, ngày tết, trong hát ru.   Nhà nước cần thiết có chính sách đầu tư  cho việc sưu tầm, lưu giữ, phát huy vốn di sản Văn học nghệ thuật - Văn hóa dân gian đồ sộ, quí, đặc sắc đó để phục vụ cho công cuộc xây dựng đời sống mới đồng bào các dân tộc miền núi miền Tây. 

KHXHNV & Đời sống khác:
“Xô viết Nghệ Tĩnh mãi mãi là niềm tự hào và kiêu hãnh, tiếp thêm niềm tin, sức mạnh cho Nghệ An hội nhập và phát triển” (11/9/2020)
Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9 - Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam (1/9/2020)
Cách mạng tháng Tám 1945 - Giá trị lan tỏa lịch sử và hiện nay (1/9/2020)
Nhân kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) Vai trò to lớn của Bác Hồ trong Cách mạng tháng Tám (1/9/2020)
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống (7/8/2020)
Văn hóa nhà ở của người Việt (5/8/2020)
Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (29/7/2020)
10 tài năng trẻ KH&CN nhận giải Quả cầu vàng (29/7/2020)
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX (29/7/2020)
Lịch sử, ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 (22/7/2020)
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
Giới thiệu sách: Hồ Chí Minh biểu tượng của hòa bình, tình hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới - Symbol of peace, friendship Between Vietnam and the world
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 795 | Tất cả: 2,470,235
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp