ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Người Khơ Mú Nghệ An
Tin đăng ngày: 2/6/2020 - Xem: 82
 

Gia Huy

Theo số liệu điều tra từ cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc năm 2009, người Khơ Mú ở Việt Nam có 72.929 người, cư trú tại 44 trên tổng số 63 tỉnhthành phố. So với các tỉnh thành khác trong cả nước, Nghệ An là nơi tập trung đông dân tộc Khơ Mú nhất với 35.670 người, chiếm 48,9% tổng số người Khơ Mú trong cả nước.

Theo Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương trong "Người Kư Mụ ở Nghệ An" thì người Khơ Mú ở Nghệ An có nguồn gốc từ Lào di cư sang cách đây khoảng 200 năm. Do các tỉnh miền Tây Nghệ An nối liền về địa hình - văn hóa với các tỉnh Xiêng Khoảng, Hủa Phăn của Lào nên việc di cư của dân cư của hai bên diễn ra khá dễ dàng. Các đợt thiên di của người Khơ Mú sang Nghệ An diễn ra theo nhiều đợt khác nhau, đợt đầu tiên trong cuộc đấu tranh chống lại phong kiến Xiêm La, thực dân Pháp và bọn địa chủ cường hào, người Khơ Mú đã ở lại và sinh sống tại các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, trong đó tập trung đông nhất tại huyện Kỳ Sơn, sau này còn có nhiều đợt di cư rải rác khác. Theo các nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Nguyễn Đình Lộc thì khi di cư sang Nghệ An, người Khơ Mú phải sống trong lãnh địa của người Thái, chịu sự cai quản và chi phối của người Thái. Do bị chèn ép, hầu hết người Khơ Mú đã di cư lên các vùng đồi núi cao, dốc để sinh sống, tạo nên đặc điểm cư trú hiện nay của người Khơ Mú.

Về mặt nhân chủng học, người Khơ mú thuộc loại hình trung gian giữa nhóm Inđônêđiêng và Nam Á, thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme. Tộc danh Khơ Mú là tên gọi chung thống nhất cả nước mang tính pháp lý từ khi có bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam do Tổng Cục thống kê công bố năm 1979. Trước đây, dân tộc này có nhiều tên gọi khác nhau, đó là các tên tự gọi, tên do các dân tộc khác gọi ở những vùng và những thời kỳ khác nhau. Ở Lào, người Khơ Mú được gọi là bằng các tên như Xá Khao, Khạ, Bit hoặc được gộp chung vào các nhóm tộc người ở rẻo giữa khác được gọi là Lào Thênh, Lào Thơng. Còn ở Thái Lan họ còn được gọi bằng cái tên Kamú, Phu Thênh, Kha Mu, Kham Mu.

Trước đây, người Thái gọi người Khơ Mú là “Tây Tênh”. Tên gọi này có nghĩa là dân tộc ở trên cùng quả bầu được chui ra đầu tiên. Theo giải thích của nhiều người Thái thì tên gọi này hàm ý tôn trọng người Khơ Mú. Một thời gian về sau, người Thái lại gọi người Khơ Mú bằng một cái tên mới là “Tây Thênh”, sau tên gọi “Tây Thênh” là tên gọi “Xá” hay “Xà” tuỳ theo giọng phát âm của từng vùng. Cho đến nay, nghĩa đen của từ “Xà” có nghĩa là “cái giàn gác bếp" vì giàn gác bếp thường là rất đen cho nên họ thường gọi người có da đen là “Xà” với ý đen như gác bếp (đắm khư xà, đắm khư thênh) đó là câu nói cứa miệng của người Thái. Tuy nhiên từ khi các tộc Môn - Khơme nói chung, trong đó có người Khơ Mú, lệ thuộc vào người Thái thì tộc danh “Xá” hay “Xà”, càng mang hàm ý miệt thị.

Đến năm 1960, khi nhà nước tiến hành cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ nhất, người Khơ Mú được gọi là Tày Hạy, còn ở Lai Châu, Sơn La vẫn được gọi là lá Xá (Xà). Từ tên gọi Xá, người Khơ Mú được các dân tộc khác gọi bằng những tên khác nhau như Xá Cẩu (Thái), Khá Klẩu (LaLa), Klẩu (Kháng), Mãng Cẩu (Hmông). Ở một số địa phương người Khơ Mú còn được gọi bằng các tên khác nữa như Tềnh (Mộc Châu), Pu Thênh hay Tày Hạy (Thanh Hoá, Nghệ An), Mứn Xen (Lai Châu), hay còn được gọi là tên Việt Cang. Tất cả các tên gọi như đã nêu đều có nghĩa là người Xá có tục bối tóc ngược. Nhưng cái tên Tềnh, Pu Thênh có nghĩa là người ở trên (núi) cao. Tày Hạy có nghĩa là người chuyên làm rẫy. Mứn Xen có nghĩa là người có tục ăn trầu hay nhổ nước bọt. Việt Cang có nghĩa là người Việt ở lưng chừng núi.

Ở Nghệ An, người Khơ Mú được người Thái ở đây gọi là Tày Hạy. Tên Tày Hạy được đồng bào người Khơ Mú và người Thái ở đây coi là một tên chính thống thân quen, gần gũi. Thậm chí có những người Khơ Mú (chủ yếu là giới trẻ) họ không biết, không hiểu họ là dân tộc Khơ Mú nữa mà chỉ biết họ là những người Tày Hạy - một dân tộc gần gũi với người Thái, đối với người Khơ Mú họ thích gọi là người Tày Hạy hơn là Khơ Mú. Bởi tên gọi Khơ Mú trong đó có từ “mú” có thể nói đây là từ không thân thiện thậm chí còn mang tính miệt thị, vì “mú” nghĩa là lợn. Tuy nhiên, người Khơ Mú thích và tự gọi mình là Khmụ, Kưm Mụ, Cư Mụ vì khi phát âm cũng như khi viết thì có nghĩa là "người", thể hiện sự tôn trọng đối với bản thân và dân tộc họ.

Như vậy, tính đến nay ở Nghệ An dân tộc Khơ Mú đã có 7 tên gọi qua các thời kỳ lịch sử khác nhau: Cư Mụ, Khơ Mú, Mãng Cẩu, Pu Thênh, Kưm Mụ, Xà, Tày Hạy. Nhưng dù với gọi tên này hay tên khác đi nữa thì ngay từ ban đầu, dân tộc này đã có một ý thức dân tộc rõ ràng, thể hiện tính cách của một dân tộc thống nhất.

Đặc điểm hình dạng của người Khơ Mú là dáng người thấp, da đen, tóc xoăn, đầu dài, mũi to và dô. Đặc điểm hình dạng này gắn liền với truyền thuyết về “nguồn gốc loài gốc loài người sinh ra từ quả bầu” và di tích huyền thoại đó còn được ngộ định vào một tảng đá lớn tại bản Tẩu Pung (bản có tên là Quả Bầu Khổng Lồ) ở Mường Thanh - Điện Biên. Truyện quả bầu ở người Thái cũng kể rằng chính tổ tiên người Khơ Mú đã chui từ quả bầu khổng lồ ra trước theo lỗ dùi bằng sắt nung đỏ nên mới có nước da ngăm đen. Tổ tiên người Thái ra sau bằng lỗ dao khoét nên có nước da trắng hơn, nên tục ngữ Thái có câu: “pu tay ọc hu pa, pu xà óc hu chi” (có nghĩa người Thái chui từ quả bầu ra sau theo lỗ khoét của dao, còn người Khơ Mú (Xà) chui từ quả bầu ra trước theo lỗ dùi bằng sắt nung).

Lịch sử đấu tranh của người Khơ Mú còn gắn liền với truyện kể về vị anh hùng huyền thoại có tên là Chương Han là một vị tù trưởng anh hùng, tài giỏi, đã tập hợp và tổ chức được hàng nghìn binh mã, đánh đông dẹp bắc, chinh phục được nhiều vùng rộng lớn. Hình tượng vị anh hùng Chương Han đã trở thành biểu tượng của khát vọng tự do, niềm kiêu hãnh của đồng bào Khơ Mú, đi vào truyện thơ “Tạo Khủn Chương”.

Do đến muộn hơn nên địa bàn cư trú của người Khơ Mú thường là những nơi núi cao, đất dốc, rất khó khăn cho việc trồng trọt, do đó loại hình canh tác duy nhất của người Khơ Mú là nương rẫy (người Khơ Mú gọi nương là hơrê). Cây trồng chủ yếu của họ là lúa nương, ngoài ra họ còn trồng thêm các loại hoa màu khác như: ngô, sắn,… Do điều kiện sản xuất khó khăn, kỹ thuật thô sơ nên nguồn thu nhập từ sản xuất của người Khơ Mú rất thấp, khiến đời sống của bà con phần lớn là đói nghèo, dẫn đến việc du canh, du cư của đồng bào. Bên cạnh trồng trọt, người Khơ Mú chăn nuôi gia súc gia cầm, nhưng chủ yếu là tự cung tự cấp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng, chưa có ý thức phát triển thành chăn nuôi hàng hóa. Người Khơ Mú còn có các nghề thủ công truyền thống như rèn sắt, làm mộc, đan lát... Tuy không phong phú, song lại có những lĩnh vực rất tinh xảo, trong đó đặc hơn cả là nghề đan lát với các sản phẩm từ đan lát như: Giù, mâm, ghế, giỏ đựng cơm, hộp đựng kim chỉ, chiếc plum để đựng quần áo, cốt, bồ để đựng thóc lúa, các đồ dùng như nống, sàng, sẩy lúa gạo v.v... Đến nay, các nghề thủ công này vẫn được duy trì, phát triển như là vốn văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc Khơ Mú.

Người Khơ Mú không có chữ viết riêng như những dân tộc khác, nhưng lại tiếp xúc ngôn ngữ rất nhanh, họ chịu ảnh hưởng và tiếp thu tiếng Thái. Do đó, hiện nay hầu hết người Khơ Mú ở Nghệ An đều thông thạo tiếng Thái, họ dùng ngôn ngữ Thái để giao tiếp với các dân tộc khác. Nền văn hóa dân gian của người Khơ Mú khá phong phú và đặc sắc, họ có các điệu hát đặc trưng như: Hát Tơm, điệu múa Hòvor, Re ré,… với các nhạc cụ cồng chiêng, sáo đệm, khèn bè, khèn môi, pí tơm, các bộ gõ bằng tre nứa… Kho tàng truyện cổ tích, truyện kể tô tem của họ cũng rất phong phú và độc đáo, trong đó tiêu biểu là truyện thơ “Tạo Khủn Chương”.

Tín ngưỡng, tôn giáo của người Khơ Mú còn rất sơ khai, phức tạp, tuy nhiên lại không chịu ảnh hưởng của các loại tôn giáo khác như: Phật giáo, Công giáo. Họ tin ở đa thần và quan niệm “vạn vật hữu linh”, mọi vật đều có linh hồn và sự linh thiêng nên họ thờ và cúng những vật như cây đa, tảng đá, gốc cây to, con suối.v.v... Người Khơ Mú cũng quan niệm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ có Ma. Ma thì có con Ma ác và con Ma lành với nhiều loại ma như: Ma Trời, là loại ma to nhất, đáng tôn trọng nhất và cũng đáng sợ nhất, Ma đất, Ma rẫy, Ma rừng, Ma tổ tiên v.v... Họ cũng tin rằng mọi hoạt động đời sống hàng ngày của họ đều do các lực lượng “siêu nhiên” chi phối, lực lượng siêu nhiên này được gọi là hrôi (Ma). Chính vì thế mà người Khơ Mú cũng tin vào nhiều thủ thuật có thể đẩy thế giới “ma” ra khỏi thế giới con người, bằng nhiều cách khác nhau như: niệm thần chú, dùng dao hơ lửa cắt xung quanh người ốm hoặc vẩy nước, ngậm nước phun vào người ốm... Do quan niệm đó nên vị trí của thầy Mo hết sức quan trọng trong các nghi lễ.

Mặc dù đời sống kinh tế của người Khơ Mú còn nghèo đói, khó khăn, nhưng họ sở hữu một nền văn hóa đặc sắc, phong phú, đa dạng và giàu bản sắc. Tuy nhiên, ý thức bảo tồn, lưu giữ và phát huy của người Khơ Mú còn thấp, do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm, chú trọng của các cấp ngành liên quan trong công tác bảo tồn và lưu giữ, tránh sự mai một, đồng hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Làng Phúc Thọ quê hương tôi (8/7/2020)
Đồng chí Lê Mao (1903 - 1931) - Người cộng sản kiên trung, niềm tự hào của nhân dân Nghệ An (8/7/2020)
Nghệ An trấn trong Hoàng Việt địa dư chí (6/7/2020)
Nguyễn Khắc Viện - Một nhà báo lớn của thời đại (6/7/2020)
Văn cúng thiên đài của người xưa (23/6/2020)
Di tích lịch sử quốc gia Đền thờ và Mộ Phùng Phúc Kiều, phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (23/6/2020)
Đồng chí Lưu Quốc Long được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đào tạo tại Quảng Châu - Trung Quốc (18/6/2020)
Phủ Hòa Quân (12/6/2020)
Người thư ký cụ Phan, làm Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên cộng sản (12/6/2020)
Đền Chiêng Ngam - Ngôi đền linh thiêng của người Thái trên vùng đất phủ Quỳ (12/6/2020)
Lý Nhật Quang - Vị Tri châu đầu tiên của Nghệ An (11/6/2020)
Người Khơ Mú Nghệ An (2/6/2020)
Một số nghề thủ công truyền thống xưa ở Nghệ An (2/6/2020)
Bác Hồ - Tấm gương tự học và học tập suốt đời (15/5/2020)
Bác Hồ với nhà khoa học Nguyễn Xiển (8/5/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 555 | Tất cả: 2,324,351
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp