ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Bác Hồ - Tấm gương tự học và học tập suốt đời
Tin đăng ngày: 15/5/2020 - Xem: 302
 

Nguyễn Văn Tài[1]

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về tấm gương vươn lên trong học tập và ý chí tự học, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ đó, đã giúp Người từng bước tiếp cận, lĩnh hội tinh hoa văn hóa dân tộc, phương Đông. Từ nền tảng của giáo dục và văn phương Đông, Người tiếp tục nỗ lực vươn lên học tập và tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây cũng như toàn nhân loại. Tấm gương không ngừng vươn lên trong học tập và rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý nghĩa và giá trị to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên và góp phần xây dựng nguồn lực con người vừa “hồng”, vừa “chuyên” nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

  1. Đặt vấn đề:

Thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cuộc cách mạng này đã và đang mang lại cho Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng nhiều thời cơ thuận lợi, song bên cạnh đó cũng đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ. Liệu Việt Nam có bắt kịp với xu thế phát triển của nhân loại và “sánh vai với các cường quốc năm châu” và Nghệ An có trở thành “tỉnh khá” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời hay không? Điều đó phụ thuộc rất lớn vào sự nỗ lực học tập và rèn luyện của thế hệ thanh niên ngày nay.

Trong suốt cuộc đời hoạt động yêu nước và cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kỳ vọng, tin tưởng vào lực lượng thanh niên. Người viết: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ”[2]. Người căn dặn, Đảng phải luôn quan tâm bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ: “Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên"[3].

Lúc sinh thời, Bác luôn là một tấm gương tự học, tự giáo dục, không ngừng tiếp thu, trau dồi kiến thức cũng như đạo đức cách mạng vì lý tưởng giải phóng dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình vươn lên, từ chiếm lĩnh tinh hoa văn hóa dân tộc, phương Đông sang học tập và tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây và toàn nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng trong việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên. Từ đó, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nguồn lực con người vừa “hồng”, vừa “chuyên” nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

2. Nội dung:

2.1. Nguyễn Sinh Cung với giáo dục và văn hóa dân tộc, phương Đông

Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà Nho giàu lòng yêu nước, cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc là một trí thức đỗ đạt của giáo dục khoa cử Nho học. Cho nên, từ thuở nhỏ, Nguyễn Sinh Cung đã sớm được học chữ Hán. Người được tắm mình trong nền giáo dục Nho giáo truyền thống của dân tộc cũng như của nhiều dân tộc khác ở Á Đông. Trường học đầu tiên trong của đời Bác chính là gia đình mình, từ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, từ thân mẫu bà Hoàng Thị Loan và từ cả người chị gái Nguyễn Thị Thanh, anh trai Nguyễn Sinh Khiêm. Tại trường học đầu đời này, Bác luôn là người con, người e hiếu thảo, siêng năng, thông minh và ham học hỏi. Vì vậy, từ thuở nhỏ, bác luôn được gia đình, bà con nhân dân ở làng Sen, Kim Liên thương yêu, quý mến và kỳ vọng.

Lên 10 tuổi, Người được học từ thầy Vương Thúc Quý tư tưởng yêu nước thương dân và chí làm trai phải giúp ích cho đời, cho dân, cho nước. Thuở ấy, người còn được học về thời cuộc qua những cuộc đàm đạo của những sĩ phu yêu nước thường lui tới nhà thầy và nhà thân phụ

Tại quê nhà, Nguyễn Sinh Cung được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân. Các thầy đều là những người yêu nước, thường dân. Qua các cuộc đàm đạo, trăn trở về thời cuộc của các bậc tiền bối, Nguyễn Sinh Cung dần dần hiểu được sự day dứt, trăn trở của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Trong những người mà cụ thân sinh Nguyễn Sinh Sắc thường gặp gỡ có cụ Phan Bội Châu. Cũng giống nhiều nhà Nho, sỹ phu yêu nước lúc bấy giờ, cụ Phan cũng rất day dứt trước thế sự của đất nước và thân phận của đồng bào mình. Người sĩ phu yêu nước, đầy nhiệt huyết cùng quê hương xứ Nghệ ấy trong lúc uống rượu vẫn thường ngâm hai câu thơ của Viên Mai:

Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,

Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương.

Hai câu thơ ấy của cụ Phan đã tác động lớn đến nhận thức của Nguyễn Sinh Cung, góp phần định hướng cho người thiếu niên ý chí ham học và sớm có hoài bão lớn.

Ngày ngày, cậu bé Nguyễn Sinh Cung được chứng kiến cảnh lầm than của người dân trên quê hương mình nên sớm thấm thía thân phận khổ đau của đồng bào bị mất nước. Đó là nạn thuế khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt đi lính, đi làm phu làm đường trong tỉnh, làm đường từ Cửa Rào đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc. Những cuộc ra đi ấy hầu hết không có ngày về, nhân dân lầm than, ai oán. Mùa xuân năm 1903, Người được theo cha đến xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây Nguyễn Tất Thành tiếp tục được nghe chuyện thời cuộc đất nước của các sĩ phu yêu nước đến đàm đạo với cụ Nguyễn Sinh Sắc. Đến cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, khi cụ Sắc đến đây để dạy học. Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của chí sỹ Phan Đình Phùng, thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp để hiểu thêm về thực tiễn, về thời cuộc bấy giờ.

Chính sự dịch chuyển qua nhiều không gian văn hóa làng và được lắng nghe những trăn trở về thời cuộc của các bậc cha chú cộng thêm những phẩm chất thông minh, ham học hỏi và hiểu biết vốn có của cậu bé Nguyễn Sinh Cung nên như một lẽ tự nhiên, Người đã nhanh chóng nắm bắt được những giá trị cốt lõi của giáo dục và văn hóa truyền thống cũng như tình yêu quê hương, đất nước và đồng bào mình trong cảnh nước mất, nhà tan. Như vậy, ngay từ thuở thiếu thời, Người đã có sự am tường về nền giáo dục của Khổng Tử. Nho giáo có những tư tưởng tích cực với chủ trương “lấy nhân dân làm gốc”, làm trai phải “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, theo chí người quân tử mà phò vua giúp nước, hành đạo giúp đời, đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, coi quan lại là công bộc của dân. Sau này, Người còn nhắc lại lời của Mạnh Tử: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, và cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân... Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”[4].

2.2. Nguyễn Tất Thành với giáo dục và tinh hoa văn hóa phương Tây

Có thể nói, giáo dục truyền thống là nền tảng hết sức quan trọng cho Nguyễn Tất Thành tiếp tục vươn lên tiếp thu, lĩnh hội những giá trị của giáo dục phương Tây. Cuối năm 1905, hai anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành được cụ thân sinh ông Nguyễn Sinh Sắc xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - Việt ở thành phố Vinh. Tại ngôi trường này, lần đầu tiên người thiếu niên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu của cuộc đại cách mạng Pháp 1789: “Tự do - Bình Đẳng - Bác ái”. Đây là sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Bác, có tác động rất lớn đến nhận thức, tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa nên văn hóa truyền thống Việt Nam với nền văn minh phương Tây. Sau này, vào năm 1923, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”[5].

Mặc dù mang trong mình truyền thống văn hóa người Việt, văn hóa phương Đông, nhưng ở Nguyễn Tất Thành không có sự mâu thuẫn hay bác bỏ, loại trừ nền văn hóa, văn minh đến từ phương Tây. Hơn nữa, ở Nguyễn Tất Thành còn có một sự tò mò và hứng thú với giáo dục và văn hóa phương Tây. Với phẩm chất cần cù, siêng năng và ham hiểu biết của mình, Nguyễn Tất Thành đã tìm đọc và nghiền ngẫm những tác phẩm thuộc văn minh phương Tây.

Tháng 5 năm 1906, Nuyễn Sinh Cung theo cha vào Huế lần thứ hai. Đây là sự dịch chuyển từ văn hóa làng ra văn hóa kinh đô có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với Người. Huế lúc bấy giờ là thủ phủ của Nam triều và Chính phủ bảo hộ ở Trung kỳ. Huế đầu thế kỷ XX đã và đang được tắm mình trong làn sóng “Tân thư, Tân văn” và hội tụ nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, thức thời. Tại đây, Nguyễn Tất Thành được học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba. Ngay khi đến vùng đất mới này, Người không chỉ tìm hiểu, tiếp thu nền giáo dục Nho học truyền thống mà còn bước đầu tiếp thu nền văn hóa, giáo dục mới thông qua học tiếng Pháp và tiếp xúc với những người ngoại quốc. Được học với những thầy giáo tân học như Lê Văn Miến, thường giành thời gian nói chuyện với học trò về nền dân chủ và văn minh phương Tây, kích thích lòng ham hiểu biết của học sinh. Nhờ ảnh hưởng của những thầy giáo tân học và sự tiếp xúc với báo chí tiến bộ nên ý muốn đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại đã từng bước lớn dần lên trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành.

Năm 1907, Bác thi đỗ và học ở Trường Quốc học Huế, được thân phụ Nguyễn Sinh Sắc gửi theo học thầy giáo Lê Văn Miến. Đây là người thầy đầu tiên Bác theo học, cũng là người bạn của cụ Nguyễn Sinh Sắc, cùng quê ở Nghệ An. Sự kiện Bác được thân phụ gửi gắm cho thầy Lê Văn Miến năm 1907 đã để lại nhiều ấn tượng đặc biệt trong lòng hai thầy trò: “Thầy Lê Văn Miến đứng dậy, cha con ông Nguyễn Sinh Huy cùng đứng lên. Thầy chắp tay trước ngực nói: Xin chúc mừng quan bác có một người con: Nguyễn Tất Thành - sẽ tất thành. Tôi sẽ có vinh dự được làm một người thầy của học trò Nguyễn Tất Thành”[6]. Thầy Miến thường dành thời gian nói chuyện với học trò về nền dân chủ và văn minh phương Tây, càng kích thích lòng ham hiểu biết, khám phá vùng đất văn minh phương Tây trong lòng học trò Nguyễn Tất Thành. Nhờ ảnh hưởng của người thầy giáo tân học như Lê Văn Miến, người thầy làm tấm gương sáng về chí khí, cốt cách người trí thức nước Nam. Dù ở bên Tây, ăn cơm Tây, nói tiếng Tây nhưng ở không thấy thầy đã bị trừ đi một phần nào cốt cách của dân tộc[7]. Được sự dạy dỗ, dìu dắt của người thầy như vậy kết hợp với việc được tiếp cận với tư tưởng của các triết gia Pháp đã khởi xướng các thuyết nhân quyền, dân quyền, tự do, bình đẳng, bác ái như J.J. Rousseau, Ch. De Montesquieu, Fr. Voltaire... càng thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành muốn đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại. Khát vọng, mong muốn này đã từng bước và ngày càng lớn dần lên trong tâm trí của người thanh niên yêu nước, giàu ý chí, nghị lực Nguyễn Tất Thành. Bác không chỉ là người ham học, ham tìm hiểu và khám phá những trào lưu mới, tư tưởng mới, vùng đất mới mà còn là người giàu lòng yêu nước và sớm tham gia vào phong trào yêu nước của nhân dân.

 2.3. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vươn lên học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin

Năm 1911, trải qua thời gian hơn 20 năm sống và học tập, tiếp thu thực tiễn của đất nước, từ việc được giáo dục nền văn hóa Nho giáo truyền thông dân tộc, được theo học người thầy tan học Lê Văn Miến, được tiếp xúc với báo chí, trào lưu tư tưởng dân chủ phương Tây đã nuôi dưỡng khát vọng sang phương Tây của Nguyễn Tất Thành. Người muốn sang phương Tây, dừng chân tại Pháp, xem người Pháp và các cường quốc làm như thế nào để về giúp đỡ đồng bào mình giải phóng dân tộc. Hơn nữa, người còn muốn hiện thực hóa ý muốn khám phá đằng sau những từ hoa mỹ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của cách mạng Pháp 1789 thực chất là gì? Xuất phát từ khát vọng, chí hướng đó, ngày 5/6/1911 bằng một lòng yêu nước nồng nàn, ý chí phi thường và tầm nhìn vượt thời đại, Nguyễn tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Đây là sự kiện lịch sử lớn lao, mở đầu cho hành trình tìm kiếm và thực hiện con đường giải phóng dân tộc mới, cứu nguy cho cả dân tộc trước sự thử thách tồn vong. Sự kiện này cũng đánh dấu sự vươn lên liên tục nhằm tiếp thu giáo dục và văn hóa phương Tây của Người.

2.3.1. Quá trình Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến tiếp nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin

Trước sự khủng hoảng về đường lối chống Pháp, khác với các sỹ phu, trí thức yêu nước và các thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX hướng về các nước ở phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Nguyễn Tất Thành lại có lựa chọn riêng của mình: không sang phương Đông mà quyết định sang phương Tây, dừng chân tại Pháp - kẻ thù chính của dân tộc lúc bấy giờ. Phương Tây lúc bấy giờ là cái nôi của nhiều trào lưu tư tưởng, triết học tiến bộ, mạng đậm tính dân chủ nhân văn, lòng yêu thương con người và khát vọng giải phóng con người. Phương tây còn là quê hương của các vị lãnh tụ thiên tài của phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới là Ph. Ăngghen, Karl Marx, V. I. Lênin. Phương Tây cũng là nơi phát triển phồn thịnh của chủ nghĩa tư bản.

Từ năm 1911 đến năm 1920, người đã đến nhiều nơi ở khắp châu Phi, châu Mỹ, châu Á, lao động, làm nhiều nghề khác nhau để sống và học tập, tìm hiểu thực tiễn. Do được lao động, học tập, sống gần gũi với các tầng lớp nhân dân lao động, Người ngày càng khám phá được đằng sau khẩu hiệu cách mạng văn minh của người Pháp “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” thực sự là gì. Nguyễn Tất Thành từng bước thấy được bản chất của chủ nghĩa đế quốc cũng như hạn chế của con đường cách mạng tư sản. Từ học tập, trải nghiệm thực tế, Người đã rút ra được nhận xét quan trọng. Người đã nhận rõ đâu là bạn, là thù của dân tộc Việt Nam. Đây chính là cơ sở quan trọng giúp Nguyễn Tất Thành dễ tiếp thu quan điểm về giai cấp và giải phóng giai cấp của Chủ nghĩa Mác - Lênin sau này.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin”. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng vì Luận cương chỉ cho người thấy con đường giải phóng dân tộc. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, nỗ lực nghiên cứu và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin. Tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản quốc tế đầu tiên của Việt Nam. Như vậy, Nguyễn Ái Quốc từ một người dân yêu nước, được giáo dục bởi nền văn hóa Nho giáo truyền thống đến khát vọng gải phóng dân tộc, hiện thực hóa khám phá chân lý của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây như “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” đến quyết định lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc là một quá trình sàng lọc nghiêm khắc từ am hiểu lý thuyết đến khám phá tường tận thực tiễn của Người.

Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình nhận thức và hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ ngĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”[8]. Công lao to lớn đầu tiên của Người đối với dân tộc là bằng nỗ lực nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nên đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cho cách mạng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX.

2.3.2 Quá trình Nguyễn Ái Quốc vươn lên học tập, nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng

Sau khi tiếp nhận, lựa chọn con đường cách mạng vô sản, tin theo lãnh tụ của phong trào công nhân quốc tế V. I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục lao động, vừa học tập, nghiên cứu và tìm cách truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Người tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời một chính đảng vô sản tiên phong ở Việt Nam.

Khi hoạt động cách mạng ở Pháp, Người  đã vượt qua mọi gian khổ và điều kiện sông hết sức khó khăn để học tập, tự học. Nguyễn Ái Quốc chỉ thuê phòng trọ nhỏ của một khách sạn rẻ tiền, mỗi buổi sớm, Bác nấu cơm bằng một cái nồi nhỏ để trên ngọn đèn dầu. Bữa cơm của Người chỉ với một con cá mắm hay một ít thịt, chỉ ăn một nửa còn  nửa kia để dành đến chiều. Có khi với Ngưởi chỉ  một miếng bánh mì với một miếng pho-mai là bữa ăn cả ngày. Mùa đông lạnh giá ở Pari, buổi sáng trước khi đi làm, Người để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn, chiều về lấy ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ lạnh. Thường thì Nguyễn Ái Quốc làm việc buổi sáng để kiếm tiền, đến buổi chiều đi đến thư viện hoặc dự những buổi nói chuyện. Buổi tối thì Người tham dự các buổi mít-tinh và thường xuyên phát biểu ý kiến, khéo lái những vấn đề thảo luận sang vấn đề thuộc địa. Bác còn tiếp xúc, làm quen với những nhà chính trị, nhà văn để nâng cao trình độ chính trị, văn học của bản thân. Hơn nữa, đây cũng là những dịp tốt để Người làm phong phú thêm vốn từ ngữ mới và cũng là điều kiện để vận dụng những từ đã học, trau dồi thêm vốn hiểu biết của mình về ngoại ngữ.

Cũng tại Pháp, Người tham gia vào các hoạt động của Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà yêu nước ở Algeria, Tunisia, Maroc… Thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo Người cùng khổ. Người tích cực tổ chức các buổi diễn thuyết, viết bài đăng trên báo Người cùng khổ, báo Nhân đạo, Báo đời sống công nhân… Năm 1925, xuất bản tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Tất cả những hoạt động của Người cùng các tài liệu trên đều nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, thức tỉnh đồng bào trong nước. Đồng thời, người luôn luôn gắn việc hoạt động cách mạng với việc tự học, tự nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin.  Lúc bấy giờ, hầu hết các tài liệu, sách báo, tạp chí về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đều được dịch, xuất bảng bằng tiếng nước ngoài như tiếng Liên Xô, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh… Do đó, điều kiện tiên quyết để học, hiểu, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải thông thạo ngoại ngữ, nắm vững nhiều thứ tiếng của các nước phương Tây. Là một người mang đậm truyền thống văn hóa phương Tây, được giáo dục nền văn hóa Nho học, Hán học nên ở Bác, việc sử dụng thông thạo nhiều ngoại ngữ của người phương Tây là một việc hết sức khó khăn. Dù vậy, Người vẫn kiên trì tự học ngoại ngữ để vừa phục vụ cho cuộc sống, vừa phục vụ việc nghiên cứu về Chủ nghĩa Mác - Lênin và sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Bằng chính đôi bàn tay, khối óc của mình, Nguyễn Ái Quốc vừa lao động, tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân các nước để vừa kiếm sông vừa thông qua đó để tự học ngoại ngữ. Đồng thời, Người còn tìm mọi cách và tận dụng mọi lúc, mọi nơi để tự học, nhất là học tiếng nước ngoài. Có lần tâm sự  với thanh niên, Bác tâm chia sẻ rằng: Khi còn ở độ tuổi thiếu niên hoạt động cách mạng ở nước ngoài, để học được ngoại ngữ, phải kiên trì mỗi ngày học được ít nhất mười từ. Hằng ngày, trước khi thức dậy, Bác viết những từ mới vào một mảnh giấy, dán vào chỗ hay nhìn thấy nhất, có khi viết lên cánh tay để khi vừa làm vừa nhẩm học, cho đến khi chữ bị mờ hết thì cũng đã thuộc. Lại cả những lúc đi đường, Bác cũng nhẩm bài học. Buổi tối, khi chưa ngủ, Người lấy tay viết các từ khó xuống chăn cho kỳ nhớ mới thôi và thế là đã học thêm được vài từ mới. Trong quá trình học tập ngoại ngữ, Người đặt ra một nguyên tắc là, học đến đâu thì phải luyện tập và thực hành đến đó, học được chữ nào là tìm cách ghép câu để dùng ngay. Bởi  quá trình kiên tì tự học ngoại ngữ như vậy, sau một khoảng thời gian  Người không chỉ dịch nghĩa, hiều được và nghiên cứu được về lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Người còn  viết được nhiều bài  báo, sách bằng tiếng nhiều thứ tiếng của nước ngoài. Sau khi lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, Người đi khắp các nước từ Châu Âu đến Châu Á, vừa lao động, trải nghiệm, vừa tự học ngoại ngữ của các nước để phục vụ cho sự nghiệp nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin phục vụ cho tiền đồ cách mạng Việt Nam về sau. Quá trình lao động, kiên trì tự học đó đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc sử dụng thông thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài, đồng thời người còn viết được nhiều sách báo bằng nhiều ngoại ngữ phục vụ cho việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước.

Khoảng thời gian ở liên Xô tháng 6/1923 đến cuối năm 1924, nhờ quá trình kiên trì tự học ngoại ngữ đã phục vụ tích cực cho Nguyễn Ái Quốc tham dự có hiệu quả nhiều hội nghị quốc tế như Hội nghị quốc tế Nông dân, Đại hội V của Quốc tế Cộng sản… Điều này hỗ trợ rất lớn cho Nguyễn Ái Quốc trong việc học tập, nghiên cứu về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người còn viết bài cho các báo như Sự thật, Tạp chí thư tín Quốc tế… Như vậy, thời gian ở Liên Xô, Người vừa không ngừng việc tự học ngoại ngữ, vừa tiếp tục nghiên cứu về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp tục phát triển và hoàn thiện về tư tưởng cách mạng vô sản và con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Người có công lớn trong việc xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

Bằng quá trình tự học ngoại ngữ, nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin bằng ngoại ngữ, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra được những quan điểm quan trọng về vị trí chiến lược của cách mạng thuộc địa, về mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc với cách mạng thuộc địa, về vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây là đóng góp, cống hiến to lớn của Nguyễn Ái Quốc vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng của Người cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô sang Trung Quốc, tại đây, người vừa tiếp tục nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam, vừa viết sách, báo phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam sau này.

Những hoạt động của Người sau khi tiếp nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự chuẩn bị tích cực về chính trị, tư tưởng, tổ chức, lực lượng cho sự thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam năm 1930 - Tổ chức tiên phong, lãnh đạo thắng lợi cách cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sau này. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với của những năm tháng Nguyễn Ái Quốc không ngừng vươn lên học tập, nghiên cứu, tiếp thu tinh hoa văn hóa Đông - Tây đồng thời có sự sàng lọc nghiêm khắc qua trải nghiệm trực tiễn của Người. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra bước ngoặt to lớn đối với cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, sự ra đời của Đảng gắn với công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người đã  bôn ba khắp bốn phương vừa không ngừng lao động, tự học ngoại ngữ, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa tự nghiên cứu, trải nghiệm thực tiễn để tìm kiếm con đường cứu nước cho dân tộc, hiện thực hóa con đường đó đến thắng lợi cuối cùng.

Sau khi Thành lập Đảng vô sản ở Việt Nam, người đã trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước, vừa xây dựng, củng cố, phát triển quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế gới. Dù thời gian của người chủ yếu để phục vụ, chăm lo cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cho đời sống của nhân dân trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, thử thách hiểm nghèo nhưng Người vẫn không ngừng học tập, tìm hiểu về tất cả các lĩnh vực để phục vụ cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn cán bộ lâu năm rằng: “Tôi năm nay bảy mươi mốt tuổi, nhưng vẫn cố gắng học thêm, còn sống thì còn phải học”.

          III. Kết luận:

Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn với tinh thần, hành động và là tấm gương “học tập suốt đời” của Người. Trải qua những năm tháng từ thời thơ ấu, thời niên thiếu đến thanh niên và phục vụ cách mạng Việt Nam, Người đã không nghững học tập, nghiên cứu với một ý chí, nghị lực lớn lao. Đó là những năm tháng dù khó khăn, gian khổ nhưng Người vẫn vừa lao động vừa học tập, nghiên cứu để thực hiện khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc. Quá trình học tập của Người là Quá trình Người không ngừng vươn lên tiếp nhận cái mới, đồng thời ở người không có sự phủ định lẫn nhau giữa cái cũ và cái mới mà Người đã sàng lọc nghiêm khắc, vừa kế thừa vừa chọn lọc, vừa tiếp thu cái mới vừa phát triển cái tích cực.

Tự học và học tập suốt đời  là bài học, tấm gương sáng của chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho các thế hệ sau, nhất là đối với thế hệ học sinh, sinh viên. Ở Bác, tinh thần, ý chí và nghị lực tự học đóng  vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tạo nên trí tuệ, nhân cách con người. Tấm gương tự  vươn lên vượt qua hoàn cảnh khó khăn để học và học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại nhiều bài học và những kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ noi theo.

Quá trình học tập, tìm kiếm con đường cứu nước của Nguyễn Ái quốc là quá trình Người vừa củng cố tri thức vừa tiếp nhận tri thức mới và phát triển những cái đã có. Vì vậy, những gì người học tập, nghiên cứu, tiếp nhận được ở trước luôn là nền tảng, tạo tiền đề, bệ đỡ cho người tiếp nhận, nghiên cứu và học tập cái sau. Đó là quá trình Người vươn lên tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ, phù hợp của thế giới để phục vụ thực tiễn trong nước. Đó là quá trình Người đi từ truyền thống văn hóa dân tộc đến tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tiến đến tiếp nhận, nghiên cứu, vận dụng và phát triển, làm phong phú thêm kho tàng của Chủ nghĩa Mác - Lênin; là quá trình Người vươn lên từ  chủ nghĩa yêu nước đến Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thực tiễn cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng, lao động và học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tự học tập, tự nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tự rèn luyện và vươn lên không ngại khó khăn gian khổ, vươn lên trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Tấm gương này của Bác cũng chứng tỏ ý chí, nghị lực và khát vọng lớn lao ở Người. Đó là lý tưởng, là khát vọng vì quốc gia dân tộc, vì đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đồng thời, qua quá trình tổng hợp kinh nghiêm thực tiễn qua chính cuộc đời trải nghiệm của bản thân, Bác đã nhắc nhở các thế hệ sau nhiều bài học quan trọng về việc học, tinh thần tự học và học tập suốt đời. Người căn dặn rằng: Mỗi người chúng ta phải học tập với thái độ nghiêm túc, khiêm tốn, thật thà, biết đến đâu nói đến đó, không được tự cho bản mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Bác cũng nghiêm khắc phê bình  tệ giấu dốt, lười biếng trong học tập, tự cao, tự đại. Trong việc học “phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem có hợp với thực tế không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Phải suy nghĩ chín chắn”[9].

Đó là những bài học rút ra từ tấm gương của Người. Những bài học đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thời đại. Việc nghiên cứu tấm gương tự học, tự rèn luyện vươn lên của người có giá trị lý luận to lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng… nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Có như vậy mới đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” và đưa Nghệ An trở thành một “tỉnh khá”, tỉnh kiểu mẫu như tâm nguyện của Người.

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2011), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Toàn văn Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (2008), Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Đỗ Hoàng Linh (2012), Người đi tìm hình của nước (Giai đoạn 1911 – 1930), Nhà xuất bản Hồng Bàng.

4. Đỗ Hoàng Linh (2012), Hồ Chí Minh hành trình 79 mùa xuân, Nhà xuất bản Hồng Bàng.

5. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 1, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 8, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7. Phạm Sanh (2009), Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Sự thật.

8. Song Thành (2010), Hồ Chí Minh – Tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

9. Sơn Tùng (2008), Bông sen Vàng, Nhà xuất bản Thông Tấn.

10. Sơn Tùng (1981), Búp sen Xanh, Nhà xuất bản Kim Đồng.

11. Nguyễn Thị Vân (2007), Lê Văn Miến – Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Vinh.

 

Chú thích

[1] Viện Sư phạm Xã hội - Trường Đại học Vinh

[2] Toàn văn Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, Tr. 33

[3] Toàn văn Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh,  Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, Tr. 33

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 276.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 477.

[6] Sơn Tùng, Búp sen xanh, Nxb Kim Đồng, 1981, tr. 97.

[7] Nguyễn Thị Vân, Lê Văn Miến - Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Vinh, 2007, tr. 55-57.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 9.

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, Tr. 500

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Bác Hồ - Tấm gương tự học và học tập suốt đời (15/5/2020)
Bác Hồ với nhà khoa học Nguyễn Xiển (8/5/2020)
Người Thổ Nghệ An (7/5/2020)
Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (28/4/2020)
Tầm nhìn phát triển du lịch sinh thái Yên Thành (10/4/2020)
Hai thập kỷ người Nghệ chinh phục Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật (2000 - 2019) (31/3/2020)
Bà Quận chú - Vị tổ sư của nghề bện võng Hoàng La (26/3/2020)
Lịch sử và kiến trúc đền Chín Gian ở Quế Phong (25/3/2020)
Đền Thần trù Hồng Long và các sắc phong thần (25/3/2020)
Lê Đông - người thổi hồn rượu men lá đồng bào Thái Con Cuông (24/3/2020)
Cuộc đời và sự nghiệp của Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế (19/3/2020)
Kỷ niệm 990 danh xưng Nghệ An: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - Tri châu Nghệ An (6/3/2020)
Nguyễn Thị Tích - Người được Bác Hồ tin cậy (25/2/2020)
Tiến sĩ Phan Nhân Tường (25/2/2020)
Trang phục truyền thống của phụ nữ Thái (24/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,530 | Tất cả: 2,272,436
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp