KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người
Tin đăng ngày: 8/5/2020 - Xem: 68
 

Hoàng Nam Hưng

Mở đầu

Nhân cách là một vấn đề phức tạp trong các vấn đề phức tạp của con người, vì thế đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách. Nhưng ngày nay, do thành tựu của nhiều ngành nhà khoa học nghiên cứu về nhân cách, người ta đã đưa ra một khái niệm có tính chất tổng hợp và đúng đắn về nhân cách như sau: “Nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng người với giới tự nhiên, với xã hội và bản thân”(1). Như vậy, khái niệm này nhấn mạnh đến hành động, nghĩa là nhân cách con người chỉ bộc lộ trong hành động thông qua quan hệ ứng xử giữa cá nhân với tự nhiên, xã hội và bản thân.

Hồ Chí Minh là người kế thừa và phát triển các quan điểm tiến bộ của nhân loại về vấn đề nhân cách để truyền bá, vận dụng nó trong quá trình xây dựng con người mới - con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, và đây cũng là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chiến lược xây dựng và phát triển con người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ, là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội ở hiện tại và tương lai, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011) đã ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta…”(2). Vì vậy, nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề nhân cách để chúng ta thấy rõ hơn giá trị nhân văn, nhân đạo khi đánh giá bản chất một cá nhân trong xã hội và cũng là cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan Đảng và Nhà nước đảm bảo tính hợp lý, phát huy được năng lực và sức cống hiến của họ.

Nội dung

Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, của Nho giáo, kết hợp với truyền thống của dân tộc ta để hình thành nên quan điểm của mình về nhân cách con người. Trong đó, việc tiếp thu quan điểm của Nho giáo được coi là có tính chủ đạo nhất.

Theo nhân sinh quan của tư tưởng Nho giáo, người quân tử được coi là người có những hành động ngay thẳng, công khai theo lẽ phải và không khuất tất vụ lợi cá nhân. Người quân tử là người có các đức tính trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, trong đó Nhân là yếu tố quan trọng nhất.

Nhân là người với người đối xử với nhau trên cơ sở tình thương yêu. Tình thương yêu được cụ thể hóa bằng những nguyên tắc sau:

Cái gì mà bản thân mình không muốn hoặc người khác không muốn thì không làm cho người. Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người.

Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì giúp đỡ cho người khác thành đạt.

Lễ: theo quan điểm của Nho giáo, Lễ bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thánh thần, trời Phật và cả những quy định có tính chất pháp luật, những phong tục, tập quán và kỷ luật tinh thần của cá nhân.

Nghĩa: chỉ làm và nên làm những việc nhằm duy trì đạo lý, lẽ phải.

Trí: tri thức để suy xét, hành động. Một trong những điểm quan trọng của Trí là phải nắm được mệnh trời.

Tín: việc làm nhất quán với lời nói, phải giữ lời.

Người nào quy tụ các đức tính trên, mà trong đó trung tâm là Nhân được coi là người có đức Nhân, tức là có tình cảm chân thật, ngay thẳng; hết lòng vì nghĩa; nghiêm trang, tề chỉnh; rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần mẫn. Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa, đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi ích cá nhân.

Vận dụng quan niệm của Nho giáo về người quân tử, Hồ Chí Minh cho rằng con người trong bất kỳ xã hội nào, giai cấp tầng lớp nào cũng đều có ba mối quan hệ cơ bản: Đối với bản thân, đối với công việc và đối với người khác. Cụ thể:

Đối với mình, không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa đổi cái dở của mình.

Đối với người, không nịnh người trên, không khinh kẻ dưới, thật thà, không dối trá.

Đối với việc, phải để việc công lên trên, lên trước. Việc thiện, nhỏ mấy cũng gắng hết sức mà làm; việc ác, dù nhỏ đến mấy cũng phải hết sức tránh.

Khi nêu quan điểm về nguồn gốc của nhân cách con người, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức không phải từ trên trời sa xuống, nó do rèn luyện hàng ngày mà hình thành, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Trong bài thơ “Nửa đêm” của Người đã phần nào giải đáp câu hỏi về nguồn gốc thiện và ác trong nhân cách của con người:

Khi ngủ ai cũng như lương thiện

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên

Nhà triết học Platon cũng đã nêu quan điểm: “Khi ngủ thì kẻ cướp cũng như thiên thần”. Ta thấy gần như có sự tương đồng giữa hai quan điểm, tức là đều nhấn mạnh đến hành động cá nhân, ý thức cá nhân chỉ được bộc lộ ra khi họ hành động.

Khi tiếp thu, vận dụng quan điểm tiến bộ của Nho giáo, Hồ Chí Minh đưa ra những chuẩn mực cơ bản của người cách mạng gồm 10 yếu tố: Hiếu, Dũng, Nhân, Trí, Thiện, Nghĩa, Cần Kiệm, Liêm, Chính. Trong đó, Thiện là yếu tố cơ bản nhất quyết định đến sự phát triển nhân cách con người, bởi vì Người cho rằng, việc thiện dù nhỏ đến mấy nhưng đem lại lợi ích cho dân, cho nước cũng nên cố gắng hết sức để làm; việc ác dù nhỏ cũng phải hết sức tránh. Người nhấn mạnh, trong xã hội có muôn việc nhưng được chia làm hai thứ: Chính và Tà. Làm việc Chính là người lương Thiện, làm việc Tà là Ác; siêng năng, cần cù, tiết kiệm là Thiện. Ngược lại, tham lam, lười biếng, xa xỉ là Tà. Người căn dặn, trong mỗi chúng ta đều có cả tính thiện và ác ở trong lòng, người cách mạng phải biết làm cho cái thiện nảy nở như hoa mùa xuân và cái ác ngày càng mất dần đi.

Nhân: là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng bào, đồng chí, vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại với Đảng, với nhân dân; sẵn sàng khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ.

Trí: là người không để cho việc tư túi làm cho mù quáng, nên đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm ra phương hướng; biết xem người, biết xét việc. Vì thế mà biết cất nhắc người hiền tài, đề phòng người gian.

Dũng: là dũng cảm, gan góc, dám hy sinh tính mạng cho Đảng, cho cách mạng; gặp việc có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa, gặp gian nan khổ cực có gan chịu đựng. Vì thế mà dám chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng.

Bàn về nhân cách của con người, Hồ Chí Minh nhấn mạnh thêm về vai trò của các đức tính, lối sống cần thiết hàng ngày của mỗi cá nhân:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức, thì không thành người.

Bốn đức tính mà Hồ Chí Minh nhắc đến ở đây là: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Người giải thích rõ:

Cần là siêng năng, chăm chỉ, lao động có kế hoạch, có tinh thần tự lực cánh sinh.

Kiệm là tiết kiệm thời gian, công sức, của cải… của nhà nước, của nhân dân, không xa xỉ, hoang phí, không liên hoan chè chén lu bù.

Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Phải trong sạch, không tham lam tiền của, địa vị, danh tiếng.

Chính, tức là thẳng thắn, đứng đắn.

Các đức tính này phải được hội tụ đầy đủ ở mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Họ là người thực hành trước để làm gương cho nhân dân “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hạn, nếu không giữ được cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(3).

Qua đây chúng ta thấy được nhiệm vụ cấp bách cho Đảng là lãnh đạo các ngành, các cấp, các cơ quan, đoàn thể thực hiện nâng cao trách nhiệm cá nhân, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cho thế hệ trẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tính cấp bách đó đã được Đảng ta cụ thể hóa bằng các nghị quyết sau: Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW (ngày 07/11/2006) về Tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhằm mục tiêu nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Tiếp đó, Chỉ thị số 03/CT-TW (ngày 14/5/2011) của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 05-CT/TW (ngày 15/5/2016) của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; cũng như bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, phong cách cho thế hệ tương lai.

Trong nhà trường nói chung và ở bậc đại học nói riêng, ngoài việc học tập chuyên môn nghiệp vụ thì đồng thời sinh viên cần phải được bồi dưỡng, rèn luyện về nhân cách, đạo đức cá nhân để khi rời ghế nhà trường họ có đủ bản lĩnh để đảm nhiệm công việc được giao. Chính vì vậy, Đại hội IX (4/2001) của Đảng nêu quan điểm: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn”(4).

Nhất quán với quan điểm của Đại hội IX, Đại hội XII của Đảng (1/2016) tiếp tục xác định việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu chiến lược: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”(5). Trong đó, việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm bồi dưỡng tinh thần và giá trị đạo đức cho thế hệ tương lai của đất nước. Đại hội XII nhấn mạnh: Tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Từ mục tiêu chiến lược chung của Đảng, Đại hội XII đã xác định nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 - 2020, đó là “xây dựng con người phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa(6).

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như việc quán triệt tinh thần Nghị quyết của Đảng về xây dựng nhân cách, đạo đức của người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ là nhằm ngăn chặn về trước mắt và lâu dài một thực trạng đáng buồn trong các cơ quan công quyền ở nước ta hiện nay mà báo chí đã phản ánh, đó là tình trạng cả họ làm quan, cha bổ nhiệm con, chồng bổ nhiệm vợ, bổ nhiệm cán bộ “thần tốc”, bổ nhiệm cán bộ nhà nước không đúng chuyên môn nghiệp vụ,… đã dẫn đến hậu quả tất yếu là sự buông lỏng quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này theo Hồ Chí Minh là chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu. Hồ Chí Minh cho rằng, đây là bệnh gốc sinh ra hàng trăm thứ bệnh như: tham ô, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, chia rẽ, tư túng, kiêu ngạo…. trong một bộ phận cán bộ, công chức; “Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cánh, tệ nạn bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ”(6), dẫn đến tình trạng gây mất đoàn kết trong cơ quan Đảng và Nhà nước.

Để từng bước loại trừ những hiện tượng sâu mọt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, vấn đề trên hết và trước hết là thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, xây dựng ý thức pháp luật và ý thức đạo đức cho mọi thành viên trong xã hội. Bởi vì, dân chủ hóa đời sống không chỉ là một quyền lợi, một đòi hỏi của nhân dân, mà còn là cơ sở, môi trường để nhân dân phát huy trách nhiệm của cá nhân đối với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội. Đồng thời, dân chủ hoá đời sống xã hội còn là cơ chế để mọi cá nhân đều có thể kiểm tra, giám sát việc thực thi trách nhiệm cá nhân của người cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị hoặc địa phương nơi cư trú.

Kết luận

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay và lâu dài đòi hỏi thế hệ trẻ, người lao động, đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức nhà nước phát triển cả đạo đức và nhân cách một cách toàn diện. Đó là đạo đức trung thực, đạo đức trong lời nói, hành động, tự giác trong lao động và học tập. Đạo đức, nhân cách của người cách mạng biểu hiện ở sự thống nhất cao giữa lời nói phải gắn liền với việc làm, giữa nhận thức và hành động. Đạo đức đó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội mới, là điều kiện cơ bản để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, hội nhập quốc tế.

 

Chú thích

(1). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Chính trị, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.85.

 (2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.88.

(3). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.252.

(4). Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.126.

(5). Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.127.

(6). Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.224.

KHXHNV & Đời sống khác:
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
Ngày 30/4 qua những bức ảnh lịch sử (29/4/2020)
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An (28/4/2020)
Nghệ An: Lợi thế, tiềm năng và một số đề xuất phát triển du lịch xanh (22/4/2020)
Giỏi và Nghèo (16/4/2020)
Những thàn tựu về xây dựng nông thôn mới ở Quỳnh Lưu - Đôi điều trăn trở (10/4/2020)
Liên minh công - nông: Thắng lợi đầu tiên của Đảng (26/3/2020)
Đặc sắc văn hóa người Mông ở Nghệ An (25/3/2020)
Dịch bệnh trong bối cảnh toàn cầu hóa: Chủ quan là tự sát (19/3/2020)
Hải Vân sơn trong thơ vua Minh Mệnh (10/2/2020)
Chăm lo xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Nghệ An (6/2/2020)
Đảng qua một bài thơ (3/2/2020)
Bác Hồ với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng (3/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,551 | Tất cả: 2,272,457
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp