KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới
Tin đăng ngày: 8/5/2020 - Xem: 52
 

Nguyễn Thị Minh Tú

Upload

Toàn cảnh thành phố Vinh ngày nay

Nghệ An là một tỉnh lớn của cả nước về quy mô diện tích, dân số và cả về vị trí địa chính trị, địa chiến lược. Vì tính chất đó, ngày 30/7/2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Đây là văn kiện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bộ Chính trị đối với quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh; định hướng, tạo động lực giúp tỉnh vươn lên phát triển xứng đáng với vị thế, tiềm năng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Năm 2015, Đại hội tỉnh đảng bộ Nghệ An lần thứ 18 đã thông qua Nghị quyết về định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020. Sau gần 5 năm, Nghệ An đã có những bước phát triển khá về nhiều lĩnh vực, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh. Cụ thể một số kết quả:

  1. Kinh tế phát triển khá toàn diện

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) giai đoạn 2016 - 2019 tăng bình quân 7,94%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2019: nông lâm ngư nghiệp 22,41%, công nghiệp, xây dựng 28,35% và dịch vụ 44,16%. Quy mô GRDP của tỉnh đứng thứ 10/63 tỉnh, thành của cả nước; GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 43,08 triệu đồng. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế GRDP của tỉnh bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 48,74%. Thu ngân sách năm 2019 đạt 16.354 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2019 đạt 235.012 tỷ đồng, gấp 1,3 lần so với giai đoạn 2011 - 2015.

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp được quan tâm, đẩy mạnh; áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hóa và các giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất; hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung, quy mô trang trại gắn với công nghiệp chế biến. Các mô hình sản xuất công nghệ cao trong chăn nuôi tiếp tục phát huy hiệu quả. Công tác quản lý, bảo vệ rừng và trồng rừng nguyên liệu, độ che phủ rừng năm 2019 đạt 58%/mục tiêu 57%. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại được chú trọng phát triển. Tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm, thủy sản bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 4,52%/năm.

Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học ở một số khâu quan trọng của sản xuất nông nghiệp như giống, kỹ thuật canh tác, nuôi và bảo quản sau thu hoạch. Diện tích canh tác nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ đạt trên 22.808 ha (chiếm gần 7,5% diện tích canh tác nông nghiệp), giá trị sản xuất bình quân của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ 200-250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp truyền thống. Thu hút được các doanh nghiệp đầu tư chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như: Chè, tinh bột sắn, mía đường, cây ăn quả, sản phẩm gỗ, thủy sản,... tạo sức lan tỏa lớn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tốc độ cơ cấu lại sản xuất của ngành.

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) đạt nhiều kết quả quan trọng. Diện mạo nhiều vùng nông thôn khởi sắc, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn hiện đạt trên 22,6 triệu đồng/năm (năm 2015: 19,6 triệu đồng). Toàn tỉnh đến nay có 265 xã đạt chuẩn NTM, đạt 61,48%; 04 huyện đạt chuẩn NTM gồm TP Vinh, Thị xã Thái Hòa, Nam Đàn và Yên Thành; 674 thôn, bản được công nhận đạt chuẩn NTM.

Công nghiệp xây dựng tiếp tục là động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016- 2019 đạt 13,5%/năm. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng ngày càng cao (khoảng 77%) trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Các ngành công nghiệp đồ uống, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp công nghệ cao, dệt may, sản xuất và phân phối điện, nước đều có bước phát triển. Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tiếp tục được quan tâm chỉ đạo phát triển, đến nay toàn tỉnh có 164 làng nghề và gần 450 làng có nghề, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho gần 20.000 lao động.

Hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam, các khu công nghiệp được quan tâm đầu tư đồng bộ. Từng bước hoàn thành hạ tầng Khu công nghiệp Nam Cấm, VSIP, WHA giai đoạn 1, Hoàng Mai 1, Đông Hồi với tổng diện tích 1.593 ha. Quy hoạch phát triển, 52 cụm công nghiệp, trong đó có 32 cụm công nghiệp đã thực hiện các bước đầu tư.

Phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến gắn với khai thác tiềm năng lợi thế của tỉnh tạo ra nhiều sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh cao trong nước và quốc tế như xi măng, tôn thép, đá trắng, đá granite, dệt may, điện, dược liệu, bia, sữa, mía đường. Đã thu hút được những dự án có quy mô, hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao, công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng. Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn được xây dựng, nâng cấp, đổi mới thiết bị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và bảo vệ môi trường.

Dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng, rộng khắp trên các lĩnh vực, vùng miền với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt 6,58%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 tăng 13,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2019 đạt 1,1 tỷ USD, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Khai thác có hiệu quả các loại hình du lịch có thế mạnh như du lịch biển đảo, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, du lịch nông thôn; phát triển đa dạng các dịch vụ du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Năm 2019, có 6,5 triệu lượt khách du lịch, trong đó, khách lưu trú đạt hơn 4,7 triệu lượt, khách quốc tế đạt hơn 146 ngàn lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 8.890 tỉ đồng, trong đó, doanh thu du lịch đạt 4.581 tỉ đồng. Sản phẩm du lịch đã có bước chuyển biến mới đa dạng hơn, hình thành một số điểm du lịch mới thu hút số lượng lớn du khách đến tham quan. Hình thành, phát triển các tour, tuyến du lịch mới trong tỉnh gắn với liên kết các điểm du lịch liên tỉnh, liên vùng thông qua hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp du lịch lớn.

Kinh tế vùng biển và ven biển đóng góp lớn vào quy mô kinh tế của tỉnh (khoảng 56% GRDP). Công nghiệp chế biến hải sản, đóng mới, sửa chữa tàu biển, dịch vụ cảng, kho bãi phục vụ kinh tế biển phát triển khá. Nhiều ngành đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh như: Du lịch biển, dịch vụ cảng, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy, hải sản.

Với lồng ghép, nhiều nguồn vốn để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng mang tính chiến lược, đột phá quan trọng để tạo sự kết nối thuận lợi cho phát triển như: Đường N5, cầu Yên Xuân, đường Tây Nghệ An giai đoạn 2, đường nối Quốc lộ 1 - Hoàng Mai - Thái Hòa (Quốc lộ 48D), các cầu vượt đường sắt, sân bay Vinh; đưa vào khai thác, sử dụng Cảng xăng dầu DKC, cảng chuyên dùng Vissai phục vụ vận chuyển xi măng. Hệ thống đê sông, đê biển, công trình phòng chống bão, lụt, tiêu thoát được quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ kịp thời. Hạ tầng đô thị được xây dựng, cải tạo, nâng cấp theo hướng văn minh, hiện đại. Hệ thống hạ tầng thông tin phát triển nhanh, đồng bộ, hiện đại và đang trở thành một trong những trung tâm thông tin truyền thông của cả nước, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử. Chỉ số thương mại điện tử (EBI) tỉnh Nghệ An năm 2019 xếp thứ 15 trên 54 tỉnh, thành cả nước, đứng đầu các tỉnh khu vực Bắc Trung bộ.

Phát triển các vùng trọng điểm tích cực: Phát triển thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò - các huyện Đông Nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh. Phát triển vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An với khu công nghiệp Hoàng Mai, Đông Hồi, phát triển các ngành công nghiệp động lực có quy mô lớn như: Sản xuất tôn thép Hoa Sen, xi măng Tân Thắng, chuẩn bị điều kiện cho nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập, khu công nghiệp cảng Đông Hồi, xi măng Hoàng Mai II... Tiếp tục đầu tư, xây dựng các cơ sở du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, phục vụ các khu công nghiệp và nhân dân các vùng lân cận. Phát triển kinh tế vùng miền Tây Nghệ An với trọng điểm vùng là Tân Kỳ - Con Cuông - Nghĩa Đàn - Thái Hòa - Quỳ Hợp. Đã hình thành một số vùng sản xuất cây nguyên liệu, chăn nuôi tập trung quy mô lớn gắn với phát triển công nghiệp chế biến.

Doanh nghiệp và kinh tế tập thể phát triển nhanh về số lượng, đa dạng các ngành, nghề, lĩnh vực, địa bàn. Giai đoạn 2016 - 2019 thành lập mới 6.969 doanh nghiệp, tăng bình quân 9,1%/năm, quy mô vốn đăng ký bình quân năm 2019 là 8,8 tỷ đồng/doanh nghiệp, gấp 2 lần so với năm 2015. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký là 21.539 doanh nghiệp, trong đó có 12.399 doanh nghiệp đang hoạt động (chiếm 57,6% tổng số đăng ký), đóng góp khoảng 48 - 50% tổng thu ngân sách toàn tỉnh, tạo việc làm cho trên 202 ngàn lao động. Kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã bước đầu có chuyển biến tích cực; có nhiều mô hình hợp tác xã nông nghiệp tham gia chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.

Upload

 

Những thế mạnh kinh tế Nghệ An

  1. Văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực

Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo, trong đó tập trung chuẩn bị triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, hội nhập. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2019 đạt 72,68% (1.104 trường). Chất lượng giáo dục phổ thông được khẳng định, số học sinh thi đại học đạt điểm cao, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhiều năm xếp trong tốp đầu cả nước, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. Công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông được quan tâm thực hiện. Mạng lưới, quy mô đào tạo nghề được tăng cường, hiệu quả gắn kết giữa cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2016 - 2019, toàn tỉnh đã tổ chức tuyển sinh đào tạo cho 291.535 lượt người; trong đó, số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề là 26.327 người. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt khoảng 78,6%. Thực hiện các giải pháp đồng bộ để tăng cường giải quyết việc làm, giai đoạn 2016-2019 đã giải quyết việc làm cho 150.958 người (trong tỉnh 51.961 người, ngoại tỉnh 44.972 người, xuất khẩu lao động 54.025 người). Xuất khẩu lao động vào các thị trường có thu nhập cao và ổn định, lượng kiều hối gửi về hàng năm đạt từ 400-500 triệu USD.

Công tác bảo tồn, tôn tạo, phục dựng và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được chú trọng. Ưu tiên đưa văn hóa về phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới.

Mạng lưới khám chữa bệnh được mở rộng, củng cố, phát triển. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên rõ rệt. Xây dựng, phát triển một số cơ sở y tế thành trung tâm y tế kỹ thuật cao, từng bước hiện đại hoá theo hướng chuyên sâu. Ứng dụng các kỹ thuật mới, cao trong điều trị. Triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đạt kết quả tích cực.

Thực hiện tốt chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Triển khai đồng bộ các giải pháp, chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững. Cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 4%. Thực hiện tốt công tác dân tộc, triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách dân tộc. Quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt chính sách xã hội, người có công.

Khoa học và công nghệ đã đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều đề tài khoa học phát triển sản phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến thị trường tiêu thụ, ứng dụng công nghệ cao, góp phần tăng thu nhập cho người dân và thực hiện chương trình một xã một sản phẩm (OCOP). Khoa học, công nghệ đã mang lại hiệu quả ứng dụng các đề tài, dự án khoảng 89,16%. Nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ ngày càng tăng, công tác xã hội hóa trong hoạt động khoa học và công nghệ bước đầu được đẩy mạnh. Công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư đổi mới, đạt mức khá so với cả nước; giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%. Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh đã được hình thành, có nhiều khởi sắc. Công tác đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ngày càng được quan tâm.

Upload

Văn hóa - xã hội ngày càng được quan tâm

3. Đẩy mạnh cải cách thế chế kinh tế, trọng tâm là cải cách hành chính, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Giai đoạn 2016 - 2019, thu hút được 532 dự án/ tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 67.308 tỷ đồng, trong đó: Lĩnh vực công nghiệp chiếm 30,77%; dịch vụ chiếm 49,34% và nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 8,07% số lượng dự án. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có uy tín, tiềm lực ở trong và ngoài nước đã đến khảo sát, đầu tư tại Nghệ An; nhiều dự án quy mô lớn, có tính chất tạo động lực phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết nhiều việc làm, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được cải thiện rõ qua từng năm, hiện đứng thứ 19 cả nước, đứng đầu 6 tỉnh Bắc Trung bộ; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công tỉnh Nghệ An (PAPI) đứng thứ 4/63 tỉnh, thành (tăng 40 bậc so với năm 2017).

  1. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững

Hoạt động đối ngoại được triển khai bài bản, đồng bộ, toàn diện. Phát huy, giữ vững mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt với 6 tỉnh nước bạn Lào, đặc biệt là 3 tỉnh có chung đường biên giới với tỉnh Nghệ An. Mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương, tổ chức đối tác trong và ngoài nước, thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển du lịch, thương mại, đóng góp rất quan trọng vào thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

  1. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, thẳng thắn nhìn lại phát triển kinh tế xã hội của tỉnh vẫn ở mức trung bình, chưa phát huy được lợi thế vốn có, thiếu tính đột phá vượt trội so với khá nhiều tỉnh trên cả nước. Một số tồn tại như:

Chọn mô hình tăng trưởng và phát triển dễ, khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp - công nghệ không cao, chưa chú trọng phát huy lợi thế so sánh - khác biệt (đất rộng, kết nối tốt, nguồn nhân lực có năng lực đổi mới, sáng tạo), gắn với xu thế thời đại về công nghệ và về thể chế, về năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp Nghệ An. Không định vị rõ quan hệ tỉnh với vùng Bắc Trung bộ để phát huy năng lực và lợi thế. Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp. Chuyển dịch cơ cấu trong nội ngành, lĩnh vực chưa phát huy được lợi thế, tiềm năng của từng vùng. Dàn trải nguồn lực với quá nhiều đề án, chương trình phát triển trong một giai đoạn, trong khi nguồn lực hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chưa thật sự bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ còn nhỏ bé. Phát triển công nghiệp còn khó khăn, chưa tạo ra được ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò dẫn dắt. Năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của một số sản phẩm dịch vụ còn thấp. Sản xuất theo chuỗi giá trị chưa được nhiều. Hiệu quả sử dụng đất chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Quy mô doanh nghiệp đa số còn nhỏ và siêu nhỏ, thiếu nguồn vốn, chậm đầu tư đổi mới công nghệ; trình độ quản trị, năng lực cạnh tranh và thương hiệu hàng hóa trên thị trường còn hạn chế. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư, nhất là vùng miền Tây. Doanh nghiệp tỉnh vốn dĩ đã nhỏ và yếu, nhưng chưa có chương trình phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp mới dừng lại đào tạo tập huấn đội ngũ doanh nhân, nhưng hiệu quả chưa cao. Chính sách hỗ trợ vẫn có nhưng rời rạc, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Doanh nghiệp đói vốn, tiếp cận đất đai khó khăn.

Thành phố Vinh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra; chưa trở thành đô thị có trình độ và năng lực vượt trội so với các đô thị trong khu vực Bắc Trung bộ như khả năng kết nối vùng, đào tạo nhân lực chất lượng cao, hoạt động nghiên cứu - phát triển, khởi nghiệp - sáng tạo,… Nhiều tiềm năng của vùng miền Tây Nghệ An như tài nguyên khoáng sản, du lịch sinh thái, chăn nuôi đại gia súc, kinh tế rừng, chế biến nông lâm sản chưa được khai thác tốt và phát huy hiệu quả.

Chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác xã hội hóa một số lĩnh vực còn bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là trong hoạt động khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao... Hiện tượng đạo đức, văn hóa xã hội xuống cấp trong gia đình, học đường và xã hội gây bức xúc trong xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao hơn mức bình quân chung cả nước.Trong tỉnh vẫn còn nhiều khu vực khó khăn, số huyện, xã nghèo còn lớn, chênh lệch giàu nghèo còn cao. Mức sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp. Hoạt động của các tổ chức, đối tượng phản động, cực đoan, chống đối còn tiềm ẩn.

Công tác cải cách hành chính và năng lực chỉ đạo điều hành, phối hợp của một số cấp, ngành chưa thực sự quyết liệt, hiệu quả. Quy trình xử lý công việc ở một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, chồng chéo.

  1. Một số đề xuất định hướng phát triển thời gian tới

Trên thế giới và trong nước đang trong bối cảnh mới, đó là những cam kết hội nhập sâu của Việt Nam vào kinh tế thế giới: kinh tế số, kinh tế chia sẻ; Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ 4.0 cùng với xu thế dịch chuyển các chuỗi sản xuất toàn cầu và dịch chuyển các dòng đầu tư quốc tế. Đặt ra đòi hỏi nền kinh tế chuyển sang phát triển mới về chất và đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào hội nhập, công nghệ cao và bản sắc riêng. Với những cơ hội về công nghệ, toàn cầu hoá, xu hướng chuyển dịch đầu tư, chuyển dịch chuỗi sản xuất dịch vụ, chuyển hướng chiến lược của các nền kinh tế lớn, chuyển dịch thị hiếu tiêu dùng sang sản phẩm gần gũi thân thiện với thiên nhiên. Bên cạnh đó không ít những thách thức như sản phẩm cạnh tranh, công nghệ trình độ thấp, thâm dụng lao động trình độ thấp tràn vào; chiến tranh thương mại giữa các nước có nền kinh tế lớn; xu hướng toàn cầu hoá đi liền với chính sách bảo hộ sản xuất trong nước… Trước bối cảnh, cơ hội và thách thức đó giai đoạn tới Nghệ An tập trung để phát triển nhanh, bền vững với mô hình tăng trưởng đi vào chiều sâu, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh, dựa vào nền kinh tế định hướng công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch mang đậm bản sắc riêng, hiện đại và an toàn, kết hợp hài hòa đời sống đô thị, nông thôn. Tập trung phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường. Cụ thể:

(1). Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng gồm hạ tầng giao thông, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng thủy lợi, hạ tầng công nghệ thông tin và một số công trình của các lĩnh vực khác tạo nền tảng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế.

(2). Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất của các ngành, lĩnh vực, dựa trên ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lao động.

Phát triển nông nghiệp đặc sắc bản địa, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, sinh thái hữu cơ, gắn với chế biến và thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khai thác lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái. Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị thông qua mô hình sản xuất liên kết chặt chẽ giữa nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã với doanh nghiệp, thị trường và khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích tích tụ ruộng đất để tạo điều kiện xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Phát triển sản phẩm đặc sản địa phương thành hàng hóa. Bảo tồn quỹ gen, bảo đảm đa dạng sinh học và các mô hình bền vững cho bảo tồn đa dạng sinh học. Hình thành và đưa vào hoạt động khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao về lĩnh vực lâm nghiệp.

Chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Hình thành cơ sở sản xuất công nghiệp có quy mô lớn, chế biến sâu gắn với chuỗi giá trị trong khu kinh tế, khu công nghiệp. Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm và đồ uống gắn với vùng nguyên liệu để hình thành chuỗi giá trị sản phẩm khép kín. Phát triển công nghiệp hóa chất, công nghiệp dược nhằm khai thác tiềm năng nguồn nguyên liệu dược khu vực miền Tây Nghệ An.

Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, đa dạng, trọng tâm là du lịch biển đảo, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, du lịch nông nghiệp. Hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc trưng và chủ lực của địa phương gắn với đa dạng hóa các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và phát triển các dịch vụ chất lượng cao nhằm thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú; tăng mức chi tiêu của khách du lịch.

(3). Tiếp tục tập trung phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh: thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò, các huyện Đông Nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh, phát triển đô thị theo hướng hiện đại và bản sắc. Vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An với công nghiệp động lực và công nghiệp phụ trợ. Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An tập trung kinh tế rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, dược liệu, chăn nuôi gia súc, các sản phẩm đặc sản. Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo hướng hình thành một số sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có thương hiệu như sữa, chè, các sản phẩm gỗ, cây ăn quả, dược liệu.... Phát triển liên kết vùng hành lang đường mòn Hồ Chí Minh theo hướng xa lộ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

(4). Xây dựng chương trình phát triển lực lượng doanh nghiệp tỉnh, từ đó xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tỉnh. Đổi mới công tác thu hút đầu tư một cách chuyên nghiệp và đi vào chiều sâu. Trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội cần thu hút có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc một số đối tác nhà đầu tư chiến lược để tạo sự bứt phá, lan tỏa, là đầu kéo lực lượng doanh nghiệp. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu. Sớm hình thành Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

(5). Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tập trung tác động theo chuỗi giá trị để phát triển các sản phẩm chủ lực và đặc sản địa phương. Lấy doanh nghiệp làm chủ thể. Hỗ trợ khuyến khích đổi mới sáng tạo, trọng tâm là sản phẩm sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh. Gắn nghiên cứu, ứng dụng với sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu sản phẩm mang danh Nghệ An. Chú trọng thu hút, phát triển các ngành sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, đặc biệt trong sản xuất, chế biến, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ; xây dựng hạ tầng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ cao, các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ điện - điện tử, tự động hóa. Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Xây dựng Vinh thành thành phố thông minh và đổi mới sáng tạo. Tăng nguồn lực Quỹ phát triển KH&CN, xã hội hóa nguồn lực, chuyển dần hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo sang cơ chế hỗ trợ sau đầu tư. Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất liên kết doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp phục vụ doanh nghiệp, cụm ngành; liên kết doanh nghiệp với nông dân trong đó quan tâm mô hình phát triển hợp tác xã lấy doanh nghiệp làm nòng cốt. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phục vụ công tác tổng kết thực tiễn, lý luận và dự báo trong xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học quản lý.

(6). Bảo vệ tài nguyên môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo tồn, khai thác, phát triển quỹ gen quý, có giá trị kinh tế ở miền Tây Nghệ An. Quan tâm môi trường công nghiệp, đô thị, nông thôn.

(7). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng, quyết tâm đổi mới, sáng tạo phát triển; phát triển đội ngũ nhân lực lãnh đạo, quản lý và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao; quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp, đội ngũ kỹ thuật có tay nghề. Xây dựng các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và thị trường lao động trong và ngoài nước. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với xây dựng con người văn hóa Nghệ An phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

(8). Cải cách thể chế hành chính, kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị. Cải thiện môi trường đầu tư, chính quyền kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp. Tăng cường phản biện xã hội. Xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cơ quan trong hệ thống chính trị, các hoạt động dịch vụ công và hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Phát triển và quản lý xã hội bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

(9). Tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng. Mở rộng có trọng tâm, trọng điểm các kênh hợp tác với đối tác có tiềm năng. Thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc phòng, củng cố và bảo đảm vững chắc an ninh, trật tự an toàn xã hội.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ 18, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
  2. Nghị quyết 26 phát triển Nghệ An.
  3. Niên giám thống kê 2016 - 2019.
  4. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội các năm 2016, 2017, 2018, 2019.
  5. Cổng thông tin điện tử Nghệ An.
KHXHNV & Đời sống khác:
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
Ngày 30/4 qua những bức ảnh lịch sử (29/4/2020)
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An (28/4/2020)
Nghệ An: Lợi thế, tiềm năng và một số đề xuất phát triển du lịch xanh (22/4/2020)
Giỏi và Nghèo (16/4/2020)
Những thàn tựu về xây dựng nông thôn mới ở Quỳnh Lưu - Đôi điều trăn trở (10/4/2020)
Liên minh công - nông: Thắng lợi đầu tiên của Đảng (26/3/2020)
Đặc sắc văn hóa người Mông ở Nghệ An (25/3/2020)
Dịch bệnh trong bối cảnh toàn cầu hóa: Chủ quan là tự sát (19/3/2020)
Hải Vân sơn trong thơ vua Minh Mệnh (10/2/2020)
Chăm lo xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Nghệ An (6/2/2020)
Đảng qua một bài thơ (3/2/2020)
Bác Hồ với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng (3/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,559 | Tất cả: 2,272,465
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp