KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay
Tin đăng ngày: 8/5/2020 - Xem: 60
 

Vi Văn An

  1. Giới thiệu chung

Việt Nam và Lào là hai quốc gia có chung đường biên giới, vốn có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa: đa tộc người, đa ngôn ngữ, nhiều nghề thủ công phát triển (dệt vải, đan lát, làm gốm, sơn mài…); phổ biến tập quán ở nhà sàn; có truyền thống cộng đồng làng bản; duy trì những hình thức tín ngưỡng dân gian bản địa… Hai nước Việt - Lào vốn có quan hệ hữu nghị đặc biệt và đã trải qua hơn nửa thế kỷ (từ 1962). Ngày nay, cùng với các quốc gia Đông Nam Á khác, nhân dân hai nước Việt - Lào đều đang đứng trước những thách thức về giữ gìn bản sắc văn hoá trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển. Trên cơ sở đánh giá thực trạng về biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số vùng biên giới Việt-Lào, địa bàn tỉnh nghệ An, hy vọng, bài viết này sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề này.

  1. Thực trạng biến đổi văn hóa của các tộc người vùng biên giới Việt - Lào địa bàn tỉnh Nghệ An

2.1. Tình hình chung

Biên giới Việt - Lào thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An vốn là khu vực có địa hình chia cắt mạnh, khí hậu khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn. Trừ người Thái là cư dân chiếm đa số, còn lại Mông và Khơ-mú là những tộc người có dân số ít, cư trú rải rác, phân tán, đời sống khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao.

Có thể nói, từ  năm 1978 trở về trước, dường như người ta chỉ biết đến một cửa khẩu duy nhất từ địa phận tỉnh Nghệ An qua Lào là cửa khẩu Nặm Cắn-thuộc hạng tiểu ngạch-qua quốc lộ 7A, vốn do thực dân Pháp mở từ năm 1918, hoàn thành năm 1922-1925. Năm 1979, trên cơ sở Hiệp định hoạch định biên giới được ký giữa hai nước Việt - Lào, một số cửa khẩu tiểu ngạch được mở để người và hàng hóa lưu thông qua lại; chợ biên giới Việt-Lào từ đó cũng được tổ chức ở một số cửa khẩu thuộc các huyện giáp biên, trong đó có chợ biên Nặm Cắn - Nghệ An, nên hàng hóa của Lào, Thái Lan có điều kiện du nhập sang Việt Nam qua cửa khẩu này. Tuy nhiên, nền kinh tế của người dân hai bên biên giới cơ bản vẫn mang tính tự cung, tự cấp. Các hoạt động buôn bán, trao đổi qua lại chủ yếu là hàng nông sản, người dân khu vực biên giới chủ yếu thuần nông, đi mua nhiều hơn đi bán. Vì thế, có thể nói: cho đến trước công cuộc Đổi mới 1986, khu vực biên giới Việt - Lào địa bàn tỉnh Nghệ An cơ bản vẫn là một trong những khu vực nghèo nhất của nước ta về kinh tế.

Từ năm 1986, công cuộc Đổi mới của Đảng ta được khởi xướng, nhất là việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội chung của cả nước và các chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng miền núi, dân tộc như các chương trình, dự án: 327 (1992-2000), 135 (1998-2020), 134 (2004-2008); chương trình 30A (2008-2020)... Nhờ đó, bắt đầu từ những năm 1995-1996 cho đến những năm 2000 trở lại đây, do tác động của nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập khu vực, nhất là hiệu quả của các chương trình, dự án của Chính phủ nêu trên, đã từng bước làm thay đổi diện mạo của nông thôn miền núi nói chung, các dân tộc thiểu số khu vực biên giới (nhất là khu vực cửa khẩu) Việt-Lào, tỉnh Nghệ An nói riêng. Chính những thay đổi về cơ sở hạ tầng, về đời sống kinh tế là tác nhân cơ bản, dẫn tới những biến đổi về văn hóa của các tộc người thiểu số khu vực biên giới Việt - Lào, tỉnh Nghệ An nói trên.

2.2. Sự biến đổi của các dạng thức văn hóa

2.2.1. Biến đổi về văn hóa vật chất

- Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất về nhà cửa các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An là việc tiếp thu ảnh hưởng kiểu nhà nhiều mái của Lào. Theo đó, tại các bản làng người Thái, người Khơ-mú, người Mông, dọc các trục lộ như đường 7, đường 48 hướng lên cửa khẩu với Lào như: Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong... các ngôi nhà sàn, nhà xây gạch, xi măng cốt thép có nhiều tầng mái chồng lên nhau, hay mái thò, mái thụt, giống như kiểu mái nhà của người Lào, người Thái Lan khá phổ biến. Nhiều ngôi nhà sàn khu vực cửa khẩu biên giới thường không còn giữ nguyên vẹn kiểu nhà sàn truyền thống, mà thường được sáng tạo thêm về kiểu dáng như nhà hình chữ L, hình chữ U hoặc nối thêm lớp mái ngói phụ tại vị trí trên gầm sàn, đua ra chừng 60cm/3 hàng ngói. Thêm nữa, nếu như trước đây, các ngôi nhà trệt hay nhà sàn của các dân tộc vùng biên giới Việt-Lào thường không nối thêm mái hiên thì hiện nay, cả nhà sàn và nhà trệt đều phổ biến lắp nối thêm phần mái hiên bằng tôn, kéo ra phía mặt tiền ngôi nhà. Đương nhiên, đối với các ngôi nhà kiểu mới này, vật liệu và cách bố trí mặt bằng sinh hoạt cũng thay đổi theo.

Một điểm thay đổi nữa liên quan đến nhà cửa là, truyền thống cư trú mật tập dọc theo các trục lộ biên giới, cửa khẩu thường bị phá vỡ, chuyển sang hình thái cư trú kiểu đường phố. Các bản của người Thái ở cửa khẩu Nặm Cắn, Thông Thụ; làng của người Kinh ở cửa khẩu Thanh Thủy là những ví dụ. Số lượng nhà xây, nhà tầng bằng vật liệu gạch, xi măng, bê tông, cốt thép ngày càng chiếm ưu thế hơn những ngôi nhà cất dựng bằng gỗ, tre, lợp cỏ tranh, lá cọ.

- Điều dễ nhận diện nhất về sự thay đổi trong trang phục các dân tộc vùng biên giới, cửa khẩu Việt - Lào tỉnh Nghệ An là: trào lưu mặc các loại váy kiểu Lào, váy Thái Lan của hầu hết chị em phụ nữ các dân tộc như Thái, Khơ-mú, nhất là Khơ-mú và nhóm Tày Khăng. Cũng như thế, hầu hết phụ nữ Mông vùng biên giới, cửa khẩu Việt-Lào ở Kỳ Sơn, Quế Phong cũng chuyển sang mặc những bộ y phục (áo, váy, khăn...) kiểu người Mông có xuất xứ từ Lào. Các loại y phục: áo, váy, khăn cắt may bằng vải công nghiệp giá rẻ, nhẹ, nhiều màu sắc, dễ mua phù hợp với thị hiếu, tâm lý, sở thích của phụ nữ các tộc người thiểu số vùng biên giới.

Cùng với y phục, các loại quần áo, chăn, đệm và nhiều đồ gia dụng khác với đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ... được bày bán khá nhiều tại các quầy hàng, ki ốt hay trong các sạp hàng của chợ biên giới, cửa khẩu.

- Văn hóa ăn uống của các dân tộc khu vực biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An dường như không chịu tác động và ảnh hưởng của ẩm thực Lào là bao. Nguyên nhân của điểm này là do người dân hai bên biên giới có nhiều điểm tương đồng văn hóa, trong đó có cả ẩm thực. Thay đổi chủ yếu thể hiện ở tính sầm uất hay nghèo nàn của các dịch vụ hàng quán, buôn bán, nhà nghỉ, các ki ốt bán hàng tạp hóa, chợ phiên ở hai bên cửa khẩu cũng như khu vực biên giới. Theo đó, trừ cửa khẩu quốc tế Nặm Cắn, các cửa khẩu tiểu ngạch còn lại thường chỉ có vài quán ăn bình dân, vài ki ốt bán hàng tạp hóa của tư nhân, phục vụ nhu cầu người qua lại và người dân trong vùng hay vài tư thương thuê đất dựng nhà tạm để thu mua, gom buôn bán hàng nông sản nhập về nội địa hai bên biên giới. Ngoài những món ăn thể hiện đặc trưng vùng miền, địa phương (đồ nướng, chẻo, lạp...), sự thay đổi đáng kể trong văn hóa ăn uống của các dân tộc vùng biên giới, cửa khẩu Việt - Lào tỉnh Nghệ An chủ yếu thể hiện ở việc chế biến các món ăn hằng ngày giống như miền xuôi (xào, rán, lẩu...), nhất là trong tiệc cưới, liên hoan.

Một điểm mới nữa về biến đổi trong ăn uống của người dân ở vùng biên giới này là: sự trở lại và lên ngôi của các món ăn truyền thống, nhất là các món ăn truyền thống của người Thái như cá nướng, cá hấp, lạp, gỏi, cơm lam, thịt nướng, chẻo, măng, rau đồ. Cùng với các món ăn là các loại rượu trắng, rượu cần đều tự phong và dán mác đặc sản địa phương.

 2.2.2. Biến đổi về văn hóa xã hội

Tuy thiết chế bản-mường của người Thái hay các hình thức tự quản của các dân tộc thiểu số khác (Mông, Khơ-mú) với tư cách là phi quan phương, không còn hiện hữu như trong xã hội truyền thống, song chúng vẫn còn vai trò chi phối nhất định tới sự vận hành xã hội của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào. Các tập quán tốt đẹp trong xã hội truyền thống như: tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau khi ốm đau, hoạn nạn, khó khăn vẫn được duy trì trong các bản làng các dân tộc. Vai trò của người già/người có uy tín, thầy cúng, thầy thuốc, thầy dạy chữ vẫn được tôn trọng và đề cao trong xã hội.

Tuy trong xã hội không còn giai cấp, nhưng ở bản làng nào cũng có nhà giàu, nhà nghèo. Hiện tượng phân hóa giàu nghèo trong cộng đồng ngày càng có chiều hướng sâu sắc, nhất là giữa nông dân lao động và một bộ phận bộ cán bộ, người buôn bán ở huyện thị.

Vấn đề xã hội nổi cộm nhất của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào tỉnh Nghệ An có lẽ là: hiện tượng xâm canh đất đai, xâm cư diễn ra tại một số nơi từ Việt Nam sang Lào và ngược lại. Bên cạnh đó, di dịch cư và di cư tự do trong nội địa cũng như qua lại khu vực biên giới hai bên vẫn chưa chấm dứt. Điều này đã gây xáo trộn dân cư, bất ổn về quản lí xã hội đối với chính quyền địa phương. Không kém phần nổi cộm là các vụ buôn lậu ma túy, thuốc lắc từ Lào sang hoặc tàng trữ chất nổ, vũ khí mà vài năm gần đây các lực lượng và cơ quan chức năng đã triệt phá. Ngoài ra, ở một số nơi, tình trạng nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ gia tăng.

Một điểm biến động xã hội khác ở vùng biên giới Việt-Lào tỉnh Nghệ An chính là: bên cạnh số thanh niên đi làm công nhân tại các công ty, liên doanh ở các tỉnh phía Nam nay ra làm công nhân hoặc làm thuê tại các tỉnh phía Bắc thì làn sóng di cư của lao động tự do người Việt Nam sang Lào và Thái Lan tìm kiếm công ăn việc làm ngày càng tăng.

Riêng vấn đề hôn nhân xuyên biên giới thường chỉ diễn ra đối với người Mông và người Thái khu vực giáp biên.

2.2.3. Biến đổi về văn hóa tinh thần

Các dân tộc sinh sống tại các tỉnh dọc theo biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An đều duy trì và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo bản địa. Việc thờ cúng ma nhà, các nghi lễ ở phạm vi gia đình như buộc cổ tay, cơm mới, lễ mừng thọ, lễ giải hạn, cúng vía bên ngoại... vùng người Thái, người Khơ-mú, Mông phổ biến ở hầu khắp các bản làng vùng biên giới. Bên cạnh đó, hiện tượng tuyên truyền, lôi kéo người dân theo đạo Vàng Chứ, Tin Lành vùng người Mông vẫn còn tiềm ẩn. Điều này đã gây ra nhiều biến động cả về văn hoá, xã hội..., tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, trật tự an ninh cũng như đảo lộn đời sống của người dân tại cơ sở.

Một điểm thay đổi đáng kể trong văn hóa tinh thần của các dân tộc vùng biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An trong nhiều năm gần đây là: sự phục hồi và thực hành trở lại của các lễ hội cộng đồng các dân tộc biên giới. Việc tổ chức lễ hội luôn được các cấp chính quyền quan tâm, giúp đỡ, được người dân đồng tình hưởng ứng tham gia. Đó là Lễ hội đền Chín Gian (Quế Phong), đền Vạn (Cửa Rào, Tương Dương), Pu Nhạ Thàu (Kỳ Sơn).

Cũng cần nói thêm là do đã bỏ việc phát rừng làm rẫy, nên các nghi lễ nông nghiệp liên quan đến nương rẫy ở vùng người Thái (các huyện vùng thấp) đã và đang bị lãng quên. Các nghi lễ liên quan đến rẫy chỉ còn được duy trì và thực hành ở một số tộc người: Khơ-mú, Mông vùng sát biên.

Điểm mới trong dân ca, dân vũ và nhạc cụ của các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào là các làn điệu dân ca các dân tộc Thái, Mông, Khơ-mú được sưu tầm, dịch thuật hay sáng tác mới để biểu diễn trên sân khấu, ghi đĩa VCD. Cũng như thế, một số điệu múa dân gian: múa Thái, Mông, Khơ-mú được sưu tầm, cải biên và sân khấu hóa, trình diễn trong các sự kiện lớn của vùng, địa phương. Tháng 9/2017, Lễ hội Xăng Khan của người Thái Nghệ An đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bên cạnh đó, rất nhiều các loại nhạc cụ truyền thống của các dân tộc biên giới Việt - Lào cũng đã và đang được phục hồi, truyền dạy và sử dụng trình tấu trong các dịp biểu diễn, giao lưu văn hóa, văn nghệ cấp tỉnh, cấp huyện. Tuy nhiều trò chơi dân gian truyền thống bị mai một, song một số trò chơi dân gian như ném còn, bắn nỏ, đẩy gậy, hát giao duyên cùng với các trò mới, thi nấu cơm, thi người đẹp cùng với các hoạt động thể thao khác (bóng chuyền, bóng đá) luôn thu hút được đông đảo mọi tầng lớp tham gia.

Ngoài ra, điều đáng vui mừng là hầu hết các huyện giáp biên, tỉnh Nghệ An đều mở các lớp học chữ Thái, gồm: Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, Tương Dương.

Từ những cứ liệu trình bày trên đây ta thấy:

(i). Sự biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An về cơ bản vẫn là do tác động tích cực của các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Chính phủ; biết tận dụng tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Sự biến đổi ngày càng sâu rộng về lĩnh vực sinh kế, thể hiện ở sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cây con, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật... trong nông nghiệp của các tộc người khu vực biên giới chính là nguyên nhân tác động đến sự thay đổi của các lĩnh vực văn hóa của họ.

(ii). Trong các dạng thức văn hóa, có lẽ văn hóa vật chất là biến đổi sâu rộng hơn cả, nhất là dọc đường chính và khu vực cửa khẩu. Đó là sự thay đổi về hạ tầng cơ sở, dịch vụ, nhà hàng, chợ, nhà nghỉ, công trình phúc lợi, nhất là các khu làm việc của các cơ quan Nhà nước và cả các điểm du lịch hay di tích và danh thắng.

(iii). Giữa cư dân cư trú xung quanh cửa khẩu hay dọc theo trục lộ chính với cư dân cư trú dọc tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa thì mức độ biến đổi về sinh kế cũng như các dạng thức văn hóa cũng có sự khác nhau. Từ ăn mặc, tiện nghi sinh hoạt trong nhà cho đến phương tiện đi lại và thờ cúng. Bộ phận cư dân vùng sâu, vùng xa, dọc sát biên giới phần nào vẫn còn bảo lưu được những yếu tố của văn hóa truyền thống tộc người.

  1. Một số vấn đề đặt ra

Trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững, sự biến đổi văn hóa của các dân tộc thiểu số khu vực biên giới Việt-Lào, tỉnh Nghệ An đặt ra những thách thức nan giải, khó lường, liên quan đến cả ba dạng thức văn hóa sau đây:

(i). Về văn hóa vật chất, do chính sách thông thoáng đối với việc buôn bán và đi lại thăm thân giữa cư dân hai bên biên giới thuận lợi, nên vấn đề nhập lậu các loại thực phẩm; các loại củ, quả, rau; lợi dụng nhãn mác... không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm qua cửa khẩu biên giới Việt - Lào (chính ngạch hoặc tiểu ngạch) có nguy cơ gia tăng.

Bên cạnh đó, nhiều loại hàng giả, đồ uống kém chất lượng, nguy hiểm đối với sức khỏe (như quần áo, giày dép, các loại nước khoáng, nước ngọt, bánh kẹo...) chuyên chở lên khu vực miền núi, biên giới bán cho người dân.

(ii). Về văn hóa xã hội, như đã đề cập ở trên, vấn đề tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự khu vực biên giới Việt - Lào là vấn đề lao động tự do người Việt Nam sang làm việc tại các nước Lào, Thái Lan. Phần lớn họ đi lao động “chui”, nên thường bị các chủ ép làm việc quá giờ, bị hạn chế đi lại, giữ lương hoặc giấy tờ tùy thân, bị quỵt tiền công và đánh đập; và nhiều trường hợp đáng tiếc xảy ra. Bên cạnh đó, số người từ nhiều nơi khác đến làm ăn, buôn bán tại các cửa khẩu cũng gây khó khăn cho công tác quản lý, tiềm ẩn các tệ nạn xã hội.

Đối với biên giới Việt - Lào, vấn đề nổi cộm nhất là nạn buôn bán ma túy, mua bán, tàng trữ vũ khí, vượt biên trái phép sang đất bạn, xâm canh trồng cây thuốc phiện, buôn lậu v.v.. xảy ra thường xuyên, làm cho an ninh biên giới phức tạp, mất ổn định. Hiện tượng tranh giành đất đai canh tác giữa dân mới di cư đến với dân sở tại diễn ra gay gắt; mặt khác các khu rừng già, rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề. Cùng với đó là, nguy cơ lớn nhất đến từ vấn đề quan hệ dân tộc xuyên biên giới gắn với yếu tố ly khai, tự trị. Do bị các thế lực phản động, thù địch chia rẽ, xúi giục, kích động, nên từ quan hệ tộc người xuyên biên giới có thể dẫn tới tình trạng ý thức tộc người nổi trội hơn ý thức quốc gia, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết dân tộc và sự thống nhất của quốc gia dân tộc Việt Nam.

(iii). Về văn hóa tinh thần, vấn đề nổi cộm hiện nay là sự truyền bá của đạo Tin Lành vào vùng các dân tộc thiểu số khu vực biên giới có sự can thiệp, chỉ đạo, lợi dụng của các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam. Điều này đã gây ra nhiều biến động cả về văn hoá, chính trị, xã hội... trong vùng miền núi, biên giới. Ở nhiều nơi, cơ sở đạo Tin Lành đã khá ổn định, hình thành tập quán sinh hoạt của đồng bào. Đây là một vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc, khách quan và khoa học, nhằm đảm bảo nhu cầu cần tâm linh chính đáng của đồng bào, góp phần đấu tranh chống việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo của các thế lực phản động, thù địch đang âm mưu phá hoại cách mạng, phá hoại công cuộc đổi mới, sự nghiệp CNH-HĐH và xây dựng nông thôn mới của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đối với các tộc người thiểu số nói chung, người Mông nói riêng ở vùng miền núi nước ta hiện nay.

Bên cạnh đó, vấn đề đáng lưu ý hiện nay ở vùng miền núi, dân tộc, nhất là vùng biên giới Việt - Lào là hiện tượng một nhóm nhà sư nhân danh  người của Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam đến gặp chính quyền địa phương, xin cấp đất để xây dựng nhà chùa, lôi kéo tín đồ. Điều này thường gây nên sự xung đột tín ngưỡng với người dân địa phương vốn chỉ thực hành tín ngưỡng bản địa.

Cũng cần đề cập thêm là việc lợi dụng tổ chức một số lễ hội tín ngưỡng ở một số địa phương biên giới, không đúng bản chất và ý nghĩa, mà chủ yếu nhằm mục đích thương mại, buôn thần bán thánh đã và đang có xu hướng phát triển. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc nhằm hạn chế các nguy cơ tiềm ẩn và lợi dụng của các phần tử, thế lực phản động.

KHXHNV & Đời sống khác:
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
Ngày 30/4 qua những bức ảnh lịch sử (29/4/2020)
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An (28/4/2020)
Nghệ An: Lợi thế, tiềm năng và một số đề xuất phát triển du lịch xanh (22/4/2020)
Giỏi và Nghèo (16/4/2020)
Những thàn tựu về xây dựng nông thôn mới ở Quỳnh Lưu - Đôi điều trăn trở (10/4/2020)
Liên minh công - nông: Thắng lợi đầu tiên của Đảng (26/3/2020)
Đặc sắc văn hóa người Mông ở Nghệ An (25/3/2020)
Dịch bệnh trong bối cảnh toàn cầu hóa: Chủ quan là tự sát (19/3/2020)
Hải Vân sơn trong thơ vua Minh Mệnh (10/2/2020)
Chăm lo xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Nghệ An (6/2/2020)
Đảng qua một bài thơ (3/2/2020)
Bác Hồ với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng (3/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,542 | Tất cả: 2,272,448
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp