NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du
Tin đăng ngày: 8/5/2020 - Xem: 61
 

Phạm Tuấn Vũ

Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Du hơn hai trăm năm qua cho thấy nói về tài năng văn chương và tấm lòng nhân ái của nhà đại thi hào này quả là chuyện nói mãi không cùng. Hôm nay chúng tôi muốn tiếp tục chủ đề trên từ khía cạnh thi hào đã dùng cùng một thể loại để viết về những giá trị cực kỳ đối lập và tất cả đều cùng ở trình độ siêu việt. Đó là thể loại văn tế với hai tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinhVăn tế sống hai cô gái Trường Lưu(1).

Trước hết cần đặt thể loại này trong đời sống văn chương trung đại nước ta. Đ.X.Likhachốp, nhà nghiên cứu văn học Xô viết trước đây đã khái quát sâu sắc rằng một đặc điểm phổ quát của văn học trung đại thế giới là chúng gắn bó trực tiếp với mức độ mật thiết trong sinh hoạt của con người. Có thể vận dụng tư tưởng này để nhìn nhận thể loại văn tế. Tên thể loại xuất phát từ chức năng của nó. Văn tế ca ngợi công lao đức độ của người được tế và bộc lộ lòng thương tiếc của người đứng tế. Văn tế có nhiều thể thức. Chiêu hồn thập loại chúng sinh theo thể song thất lục bát, còn Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu theo thể Đường luật.

Trong tiếng Việt, “thập loại” phần lớn không chỉ đích xác mười bài mà chỉ số nhiều. Ở bài văn tế này, đại thi hào chiêu hồn mười lăm loại: những kẻ “tính đường kiêu hãnh”, những kẻ “màn loan trướng huệ”, những kẻ “mũ cao áo rộng”, những kẻ “bài binh bố trận”, những kẻ “tính đường trí phú”, những kẻ “rắp cầu chữ quý”, những kẻ “vào sông ra bể”, những kẻ “đi về buôn bán”, những kẻ “mắc vào khóa lính”, những kẻ “buôn nguyệt bán hoa”, những kẻ “hành khất ngược xuôi”, những kẻ “mắc vào tù rạc”, những kẻ “hữu sinh vô dưỡng”, những kẻ “bất đắc kỳ tử”, những cô hồn lạc lõng khắp mọi nơi…

Chúng ta đó là kiếp sau của gần như đầy đủ các giai tầng trong xã hội xưa. Có những loại người ở những vị trí xã hội khác biệt, thậm chí đối lập hay đối địch nhau. Vậy mà, theo nhãn quan nhà Phật, khi chết rồi họ đều thành những cô hồn đáng thương xót:

Hương lửa đã không nơi nương tựa,

Hồn mồ côi lần lữa bấy niên.

Còn chi ai quý ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu.

Tác giả đặt trọng tâm vào việc thể hiện các loại cô hồn ở thế giới cõi âm. Cuộc sống của họ ở dương thế chỉ như những hồi quang khiến cho hiện tại thêm thê thiết.

Nổi bật trong toàn bài văn tế là phép đối lập. Có những kẻ màn loan trướng huệ từng tạo nên những cuộc vui vẻ rộn ràng bao nhiêu thì khi về với đất lại cô độc lạnh lẽo bấy nhiêu:

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đối lập tự sinh ra khiến cho những kẻ mũ cao áo rộng tất yếu thịnh mãn lắm oán thù càng lắm, lúc sống những kẻ này được bao nhiêu người cầu cạnh săn đón, mà khi chết biết lấy ai bát nước nén nhang?

Nhiều người còn nhớ là từ thế kỷ XV vua Lê Thánh Tông đã viết Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (Bài văn quốc ngữ mười điều răn dạy cô hồn). Nghe qua tưởng giữa ông vua - thi sĩ xưa và Đại thi hào Nguyễn Du có nhiều điểm gặp gỡ. Thực ra sự tương đồng thật ít mà sự dị biệt thật nhiều. Chẳng hạn đây là mấy dòng rút ra từ phần nhà vua viết về những người làm nghề buôn bán:

“Được thời hớn hở, vui cười, mạnh bà cầm rổ(2); thua thời âm thầm tiếc nuối, trách kẻ thầy dùi”…

 … Của phi nghĩa làm nên khắp nước,

Lòng bất nhân truyền để làm ca.

Lừa đảo so xem nào có khác,

Người ta lại bán được người ta…”.

Thật khác cái nhìn của thi hào quê Tiên Điền cũng về đối tượng đó:

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tre chín dạn hai vai.

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao.

Người xưa chia người buôn bán thành hành thươngtọa cổ. Khác với tọa cổ là những người có người mang hàng hóa đến cho buôn bán, hành thương là người phải bôn ba xuôi ngược mong tìm lời lãi. Bốn câu thơ trên của Nguyễn Du đích thị viết về loại người này. Chỉ chưa đầy ba chục chữ mà đủ khái quát cả kiếp người lao khổ từ cõi hiện sinh đến lúc làm hồn ma. Lê Thánh Tông tỉnh táo ráo hoảnh vì ông mượn lời răn dạy người chết để bộc lộ quan niệm của người đứng đầu nền quân chủ ở thời cực thịnh về các hạng người trong xã hội. Theo đó, đứng đầu tứ dân còn thương bị coi rẻ. Nhà vua xuất phát từ nhãn quan chính trị còn thi hào Nguyễn Du xuất phát từ nhãn quan nhân đạo chủ nghĩa. Bài văn tế này được học giả Lê Thước sưu tầm ở chùa Diệc (thuộc thành phố Vinh) trước Cách mạng tháng Tám. Đây là trường hợp độc nhất vô nhị ở nước ta khi tác phẩm thế tục được lưu hành trong nhà chùa.

Những bài văn tế xuất sắc (trong đó có Chiêu hồn thập loại chúng sinh) cho phép ta kết luận rằng văn tế là thể loại điển hình nhất trong việc thể hiện cảm hứng cảm thương.    

Giá trị siêu việt của bài văn tế của thi hào đất Lam Hồng còn do tác giả chọn lựa được thể thức phù hợp nhất với cảm xúc thẩm mỹ của mình - thể song thất lục bát. Mỗi khổ thơ ở đây bao gồm một cặp hai câu bảy chữ và một câu lục bát. Cấu trúc này khiến cho nhạc tính (thể hiện ở gieo vần và ngắt nhịp) phong phú hơn hẳn do chúng không hề là sự lắp ghép cơ học mà có nhiều quan hệ mới mà riêng chỉ thơ song thất hoặc thơ lục bát không có. Thể thơ này kết hợp được những ưu việt của thơ lục bát và thơ thất ngôn trong tự sự và trữ tình. Điệp cấu trúc (4 dòng) vừa xoáy sâu vừa lan tỏa cảm xúc.

Nhưng lại chính Nguyễn Du cũng dùng thể loại này, hơn nữa bằng thể thức điển hình nhất - văn tế bằng Đường luật - để viết một tác phẩm đùa bỡn: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu. Tác phẩm này còn có tên là Sinh tế Trường Lưu nhị nữ.  Tôi tin rằng đây là tên đầu tiên của văn bản, còn việc dịch ra là việc làm của hậu thế. Thời trung đại, văn bản tác phẩm bằng quốc âm còn tên văn bản bằng quốc ngữ là chuyện phổ biến. Việc tuân thủ một tập quán văn chương ở đây chúng tôi thấy không phải là điều chủ yếu mà thực sự xuất phát từ bản thân việc bộc lộ cảm hứng thẩm mỹ của tác phẩm. Bài văn tế viết để giễu nhại. Cảm hứng này tổng hòa từ nhiều yếu tố, trong đó lời văn quốc âm dùng nhiều thành ngữ tục ngữ dân gian đối lập với nhan đề văn bản bằng Hán Việt cô đọng giàu màu sắc bác học trang trọng. Đây là sự đối lập với ý thức thẩm mỹ cao.

Trường Lưu là miền quê nổi tiếng trai thanh gái lịch gần quê hương đại thi hào. Nơi đó chàng trai trẻ đất Tiên Điền có nhiều bạn văn chương đèn sách. Chàng đã nhiều lần đến đây “nhất cử lưỡng tiện”, thăm thú bạn bè, đàm đạo văn chương và… tìm người đẹp. Tình cảm của chàng với o Uy, o Sạ là có thật(3). Theo khảo chứng của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính thì Nguyễn Du viết Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu vào quãng năm 1796 - 1802, lúc ấy ông hơn 30 tuổi. Thi hào hồi tưởng tình cảm thuở gần 20 năm trước, lúc mình chưa tới đôi mươi.

O Uy, o Sạ là những thanh sắc nổi bật trong sinh hoạt dân gian quê kiểng ở Trường Lưu:

Đêm đêm thường hát ví xôn xao,

Ai ai cũng trầu cau đãi đọa.

Những canh hát đó làm mọi người như quên đi cuộc sống cần lao thiếu thốn để được như sống trong một thế giới khác:

Quậy ngoài sân thì trong làng chín mười ả, ả ví, ả hát, ả kéo sợi, ả đưa thoi, lại có ả bưng trầu tận miệng, mỹ nữ như hoa.

Léo lên giường thì quan họ năm bảy ông, ông nói, ông cười, ông ngâm thơ, ông đọc truyện, lại có ông lấy áo trùm đầu, cao bằng mãn tọa.

Trai tứ phương dập dìu như ong bướm lượn quanh hoa, trai Trường Lưu bằng đủ mọi cách - kể cả dùng cách không được lịch sự lắm như đốt pháo sau nhà, thổi tắt đèn - để giữ gái làng. Những lúc đó o Uy, o Sạ cũng chung chia thử thách:

Ta đã đành rụt cổ như rùa,

Ả cũng chớ vật mình như sả.

Tình cảm với người ấy cảnh ấy ngót vài chục năm sau hồi tưởng lại vẫn đủ xốn xang trong dạ khiến con mắt mờ lệ:

Đường cửa Trẹm mỗi ngày một ngái, bóng cây tiếng suối, núi giăng giăng, con mắt đã mòn.

Điếm trên làng, càng ngắm càng buồn, ngọn khói hạt mưa, trời thăm thẳm, mặt người đã nhóa.

Trong những câu hát ghi được ở những canh hát đắm say ấy, người ta thấy có câu này:

Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,

Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.

Đến đây ta hát cho quen,

Sáng ra ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim!

 Thì ra, không hề ảo tưởng, trái lại người bình dân xưa luôn ý thức rằng những đắm say ấy chỉ là… “chuyện văn nghệ”. Luôn lừng lững và khắc nghiệt là những rào cản vô hình và hữu hình người ta không đủ sức vượt qua. Đắm say đến mấy thì cậu ấm con quan cũng không thành đôi lứa với o Uy, o Sạ được. Và hơn ai hết, hai o càng thấm thía thân phận của mình. Thế là chàng công tử biết bao dỗi hờn trách móc:

Thương chắc lấy nỏ được chắc, làng nước hục hặc, lấy nỏ được chắc, chúng bạn ta như nghé sổ ràn.

Chê tôm lại phải ăn tôm, chê rau muống luộc lại ôm rau dền, lời nói trước như mèo liếm mỡ.

Đến độ tuyệt đối hóa:

Bạc tình là thói o Uy,

Chẳng nhân nghĩa ai bằng o Sạ.

Đây chính là cơ sở tình cảm để viết bài sinh tế.

Xưa kia người có đức độ công lao đặc biệt được người đời lập sinh từ (lập đền thờ lúc người đó còn sống). Chẳng hạn Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ được nhiều nơi ở Kim Sơn, Tiền Hải (Thái Bình) lập sinh từ vì đã có công tổ chức cho dân khai khẩn hướng về phía biển. Đây là cơ sở đời sống cho ra đời loại sinh tế. Ví dụ, lòng biết ơn vợ (đi liền với thái độ tự diễu nhại mình) khiến Tú Xương viết văn tế sống vợ.

Nguyễn Du hồi tưởng về o Uy, o Sạ trong cảm hứng “đi tìm thời gian đã mất” của bản thân. Gần hai chục năm đã qua nên hình bóng người xưa cảnh cũ cũng nhuốm màu thương nhớ. Thuở ấy, chứng kiến cảnh hai o vui duyên mới, hẳn chàng trai trẻ cũng cay cú lắm, nhưng thời gian qua đi, đủ sức mài mòn ký ức, giờ đây chỉ còn sự mỉa mai:

Ở làm chi một năm thêm một tuổi càng cao,

Khéo gớm cho hai ả được hai chồng cũng khá.

Đức lang quân của hai ả đương nhiên cũng mang nét hoạt kê:

Một đứa thì dắt mũi trâu từ thuở bé, tắc tắc hò rì,

Một đứa thì cắt cỏ ngựa đến tận già, tùng tùng dạ há.

Không nên tìm ở tác phẩm này ý nghĩa xã hội gì đặc biệt, đồng thời cần lĩnh hội được những đặc sắc ở các phương diện khác. Tỉ như sự hòa hợp thật tự nhiên giữa chất liệu Hán học và chất liệu dân gian(4):

Nương song cúc, rắp hỏi han ả Tố, vì đâu mà phận ẩm duyên ôi;

Dạo đường hòe vừa gặp gỡ chàng Tiêu, từ đây đã người dưng nước lã.

Không chỉ trong những tác phẩm của Nguyễn Du mà cả trong toàn bộ nền văn học Việt Nam trước và sau nhiều thế kỷ, đây là tác phẩm vô địch về sự tham gia của thành ngữ tiếng Việt. Sự tương đồng về cấu trúc giữa câu văn tế Đường luật và câu thành ngữ - đều gồm hai vế cân xứng - góp phần tạo nên điều này.

Nguyễn Du đã làm nên sự cải biến lớn nhất và sớm nhất với hai thể loại văn tế: người được “tế” thực ra chưa chết. Công lao đức độ của người đó cũng không có gì đặc biệt. Cảm xúc của người đứng tế cũng không đơn sắc… Thi hào đã đưa văn tế từ chỗ là thể loại “kính nhi viễn chi” (kính trọng nhưng xa lánh) thành thể loại giàu màu sắc thông tục.

Dùng văn tế, Nguyễn Du viết Chiêu hồn thập loại chúng sinh đẫm nước mắt thương yêu đồng loại. Cũng dùng thể loại này, thi hào viết Sinh tế Trường Lưu nhị nữ không chút bi thương mà đậm đà chất hài hước dân gian của xứ sở Nghệ Tĩnh. Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc từng nói hóm hỉnh rằng thể loại là chiếc lồng sắt nhốt những nhà văn kém tài. Còn Nguyễn Du làm chủ chúng. Đây không phải vấn đề tài năng chung chung mà căn nguyên ở chỗ thi hào đã sống sâu sắc với những tình huống của đời sống. Điều này càng có ý nghĩa trong văn học trung đại, khi mà các chuẩn mực của thể loại tồn tại lâu dài, bền vững. Với trực cảm của một nghệ sĩ lớn, bằng tài năng sáng tạo, Nguyễn Du đã thể hiện ý thức dân chủ hóa văn chương.

 

Chú thích

  1. Văn bản theo Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, Nguyễn Thạch Giang - Trương Chính (biên khảo và chủ giải), Nxb. Văn hóa Thông tin, 2001.
  2. Thủ đoạn của nhà buôn, khi đi chợ thường có người cầm rổ đi theo để mồi chài dìm giá của người khác hay nâng giá của người cùng phe cánh.
  3. Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, sđd, tr.480.
  4. Phạm Tuấn Vũ, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu - một mối lương duyên giữa văn học dân gian và văn học Viết, Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 (101), năm 2005, tr.37-41.
Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
Những vấn đề của xã hội đương đại cần được trả lời (2/3/2020)
Tết cổ truyền người Thái - Nghệ An (25/2/2020)
Những năm Tý vẻ vang trong lịch sử (10/2/2020)
Tuổi Tý với danh nhân Việt Nam (7/2/2020)
Tết Nguyên Đán - Những góc nhìn về văn hóa và con người (21/1/2020)
Trao đổi thêm về một số ký hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm viết về Tây Nguyên (6/12/2019)
Điện ảnh tài liệu Việt Nam và những câu chuyện làm phim về Bác Hồ (29/11/2019)
Đưa dân ca Ví, Giặm vào trường học trong giai đoạn hiện nay (11/10/2019)
Đi tìm không gian mới cho Ví, Giặm (11/10/2019)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,539 | Tất cả: 2,272,445
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp