NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì?
Tin đăng ngày: 7/5/2020 - Xem: 254
 

Lê Phan

Trang phục truyền thống dân tộc, xưa nay vẫn là một đề tài khó, nhưng cũng đầy hấp dẫn và bí ẩn. Đó cũng là đề tài mà bao người yêu mến văn hóa truyền thống đều khắc khoải, vì lẽ muốn hiểu rõ hơn về bản sắc cha ông, về cội nguồn văn hóa, thì tiếp cận qua con đường tìm hiểu trang phục xưa vẫn là một trong những cách thức khả thi nhất. Từ trang phục, có thể cung cấp rất nhiều thông tin quan trọng về thẩm mỹ quan, nhân sinh quan và các giá trị tư tưởng khác của người đời xưa, một cách rõ ràng, cụ thể và chân thực. Bao năm nay, người viết bài tập trung tìm hiểu về trang phục truyền thống, và muốn chia sẻ những hiểu biết và tìm tòi của bản thân mình tới tất cả mọi độc giả, cũng là vì lẽ đó. Bài viết dưới đây về trang phục cô dâu, nằm trong loạt bài sơ khảo về trang phục truyền thống người Việt.

Văn hóa truyền thống người Việt coi trọng việc hôn lễ. Người Việt thường có câu nói, “hôn nhân đại sự”, cưới gả là chuyện quan trọng của đời người, cả đời chỉ có một lần. Vì thế, lề lối ăn mặc tất cũng không đơn giản qua loa, mà có nhiều vấn đề để cần bàn đến.

Upload

Cô dâu chú rể Việt mặc áo màu xanh khác với màu áo truyền thống của cô dâu chú rể Trung Hoa

Sách “Phong tục Việt Nam” của Phan Kế Bính đề cập rằng: “Các cô gái sắp lấy chồng, ai nấy đều lo sắm quần áo cưới. Quần áo cưới của chú rể cũng như cô dâu không giống quần áo mặc thường ngày... Bộ quần áo cưới của cô dâu cũng khác bộ quần áo ngày thường và cô dâu tỉnh với cô dâu quê ăn mặc không giống nhau”. Những ghi chép quan trọng này cho thấy trang phục cưới của cô dâu Việt xưa không đơn thuần giống trang phục ngày thường, mà có những cách thức, lề lối riêng biệt về cách ăn mặc.

Upload

Hình ảnh cô dâu chú rể mặc áo thụng xanh trên bìa sách "Hôn lễ - Lễ tục cưới gả"

Vậy, trang phục cưới của cô dâu xưa có những đặc điểm gì riêng biệt, khác với lối trang phục tứ thân, năm thân mặc thường ngày mà người thời nay vẫn hay nhắc tới? Và màu sắc y phục tân nương liệu có điểm gì đáng chú ý hay không? Liệu y phục cưới cô dâu Việt có khác biệt với y phục cưới của các nền văn hóa khác, đặc biệt là với Trung Quốc, một quốc gia có nền văn hóa rất gần gũi với Việt Nam?

Upload

Trang phục áo cưới cô dâu chú rể những năm thập kỷ 80

Trong thời đại hiện đại, nhất là vào thời gian sau khi mở cửa, đổi mới đất nước cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, văn hóa nước ngoài ồ ạt du nhập vào Việt Nam thông qua nhiều con đường: kinh tế, chính trị, và giải trí. Trong khi văn hóa phương Tây được coi là chuẩn mực của nhịp sống hiện đại, thì văn hóa Trung Hoa lại được người dân Việt Nam cực kỳ yêu thích qua phim ảnh, nhất là dòng phim cổ trang. Đám cưới người Việt thời hiện đại cũng vì thế mà chịu ảnh hưởng rõ nét của hai luồng văn hóa này: nếu không mặc màu trắng như cô dâu phương Tây, thì cũng là màu đỏ theo phong cách đám cưới Trung Quốc. Có thể nói, văn hóa từ tâm khảm mà ra, vì tiếp xúc với văn hóa bên ngoài lâu ngày, nên cũng không lạ khi có nhiều người Việt hình thành quan niệm cố hữu rằng: trang phục người Việt không phải màu đỏ như cô dâu Trung Quốc, thì cũng phải màu trắng như cô dâu phương Tây.

Thế nhưng, theo rất nhiều bằng chứng mà người viết bài thu thập được, cả bằng thư tịch lẫn bằng hồi ức dân gian, thì màu áo truyền thống phổ biến ở đám cưới thời xưa (ít nhất thời thời Nguyễn) nói chung, cô dâu Việt nói riêng, lại không phải màu đỏ, cũng không phải màu trắng, mà lại là màu xanh! Riêng trong bài viết này, người viết xin trích dẫn lại các thư tịch, sách vở có đề cập đến màu sắc cô dâu Việt thời xưa, cho thấy rõ nhận định đã nói ở trên.

Theo sách “Trang phục Việt Nam” của nhà nghiên cứu trang phục Đoàn Thị Tình: “cô dâu miền Bắc vào ngày cưới tóc vấn đuôi gà, đầu khăn gài con bướm bạc, cổ đeo kiềng bạc, chuỗi hạt vàng, lưng đeo xà tích, váy sồi đen, mặc áo mớ ba, bên ngoài mặc áo the đen, trong là áo hồng và áo xanh. Cô dâu các miền khác cũng có lối ăn mặc tương tự, nhưng có một số tiểu tiết khác biệt. Cô dâu miền Trung và miền Nam chải lật búi tóc, thay vì vấn đuôi gà. Cô dâu miền Trung có thể mặc lồng hai áo năm thân, bên trong là màu đỏ hoặc hồng điều, bên ngoài là áo vân màu xanh chàm (cũng có thể mặc thêm áo the đen bên ngoài thành áo mớ ba), mặc quần trắng”.

Về áo cưới cô dâu miền Nam, sách “Nhà ở - Trang phục - Ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Phan Thị Yến Tuyết, xuất bản năm 1993, trang 66 cụ ghi chép cụ thể hơn như sau: “Vào lễ cưới, trang phục của cô dâu chú rể vùng Gia Định trước kia và vùng ĐBSCL hiện nay có những diễn biến theo phong tục và quan điểm thẩm mỹ, thời trang. Cho đến đầu thế kỷ XX... cô dâu mặc áo vân đen mỏng, quần đũi màu hồng sậm, cổ đeo xâu chuỗi hổ phách “hạt to bằng ngón tay cái”, hai tai xỏ đôi bông búp bạc. Dâu và rể đều khoác bên ngoài áo thụng rộng xanh, lót màu cánh sen, khi ra sân có cặp lọng che. Trong những gia đình theo tục cũ, trang phục của cô dâu và chú rể đều là áo cặp.

… Có thể “áo cặp” là phong tục chỉ sự “đủ đôi đủ cặp” trong lễ cưới, vì ngày trước ở vùng Gia Định có thời cô dâu, chú rể ngoài “áo cặp” còn mặc “quần cặp”. Áo cặp tức áo song khai, cô dâu dùng áo the lót gấm hồng, chú rể dùng hàng the lót gấm xanh có dệt chữ “thọ” nhỏ (chữ thọ lớn chỉ dùng cho người lớn tuổi). Chiếc áo dài của cô dâu, chú rể mặc bên ngoài người ta gọi là áo thụng. Đó là chiếc áo dài và rộng so với áo dài mặc bên trong, tay áo thụng cũng rất dài và rộng, cửa tay áo có khi lên đến 30 cm. Áo thụng thường được may bằng vải gấm dày, màu lục sậm, xanh sậm hoặc xanh lam có dệt hoa văn. Ngày trước, cô dâu chú rể tầng lớp bình dân ở ĐBSCL có khi mặc áo cặp, đội nón, đội khăn nhưng đi chân đất, không mang giày dép”.

Còn theo bài viết “Gam màu đặc trưng của phục trang xứ Huế” trên trang báo Nét Cố Đô thì cô dâu Huế mặc áo cặp điều lục, đồng thời giải thích điều là màu đỏ, lục là màu xanh.

Như vậy, qua các ghi chép đã trích dẫn, ta có thể thấy trang phục cô dâu Việt ở ba miền tương đối thống nhất, đều chuộng dùng màu xanh. Miền Trung, miền Nam thường mặc kèm áo xanh ngoài với áo hồng bên trong tạo thành áo cặp lục điều, còn miền Bắc có thể khoác thêm áo the đen bên ngoài, gọi là áo mớ ba.

Upload

Phỏng dựng cô dâu miền Nam thời Nguyễn mặc áo cặp của Viên Hoàng Tuấn

Vậy tục lệ dùng áo xanh này phổ biến ở mức nào? Theo sách “Hôn lễ - Lễ tục cưới gả”, trang 31: “Tục lệ của người Tàu, nàng dâu mới không có mặc áo rộng xanh như ta (tức người Việt), mà lại mặc áo hồng bào, có đội mão, và che quạt trước mặt mà đi ra”. Ở đây, tác giả có đề cập rằng cô dâu Việt mặc áo rộng xanh, đối lập với cô dâu Trung Quốc mặc áo đỏ (hồng bào - hồng trong hán tự là đỏ, bào là áo rộng, áo khoác ngoài). Bìa ngoài của sách cũng vẽ cô dâu chú rể mặc áo xanh, thống nhất với nhận định trong sách. Điều này góp phần cho thấy rõ thêm sự phổ biến khá rộng rãi của áo màu xanh trong đám cưới Việt, cụ thể là cho cô dâu, hơn nữa còn là một dạng màu tiêu biểu cho văn hoá hôn lễ xưa của ta, đến mức được tác giả sử dụng để đối sánh với hôn lễ Trung Quốc.

Vậy màu xanh trong hôn lễ có ý nghĩa gì? Tại sao thời xưa, chí ít là vào thời Nguyễn, lại phổ biến màu sắc này và dùng nó như một nét biểu trưng cho hôn lễ Việt? Sách “Đất lề quê thói” của Nhất Thanh có hé lộ một góc nhìn, lí giải về điều này: “Trong quan trường người ta tha thiết với cái áo thụng xanh bao nhiêu thì bọn trưởng giả học làm sang càng ra sức theo đòi bấy nhiêu. Đã nhiều phen đôi bên cha mẹ lấy làm hãnh diện có dâu rể khăn vành dây áo thụng xanh, lễ sống hai lạy trên chiếu cạp điều trải giữa nhà. Trịnh trọng cao sang là ở cái áo thụng kia, họ nghĩ như vậy… Ôi! Thụng xanh!”.

Như thế, màu xanh được chuộng dùng trong đám cưới, là vì văn hóa người Việt thời đó cho rằng màu xanh là màu quý phái, cao sang, xứng hợp cho một ngày lễ trọng đại như ngày cưới vậy.

Ngoài màu xanh, thì trang phục truyền thống cô dâu Việt vẫn có thể mang các màu sắc khác, như màu hồng, màu đen (đã đề cập), màu tím, màu vàng… Song trong khuôn khổ bài viết, ở đây người viết chỉ nói đến màu xanh, là màu biểu trưng, còn các màu sắc khác thì xin phép được đề cập sau nếu có điều kiện.

Người đời vẫn có câu: người con gái, đẹp nhất là khi xuất giá theo chồng. Các cô dâu dù ở đâu cũng vậy, đến ngày cưới luôn muốn trang điểm thật đẹp, mặc lên người những chiếc áo lộng lẫy, nhằm lưu dấu cái ngày trọng đại nhất của cuộc đời mình, để rồi khi đôi vợ chồng đã răng long đầu bạc, hãy còn nhớ mãi những ngày tháng son sắt, nhớ mãi giờ khắc đôi lứa sánh duyên bước bên nhau.

Người con gái Việt trong ngày cưới, hẳn cũng không phải ngoại lệ, họ khoác lên mình những bộ trang phục đặc biệt nhất trong đời: những bộ y phục tinh mỹ mà cũng mang đậm những giá trị văn hóa, thắm đượm hồn dân tộc. Cũng vì lẽ ấy, mà ta không thể không đoái hoài đến y phục tân nương, khi đã thực sự muốn tìm về cái hồn cốt văn hóa của ngàn xưa. Và cũng vì lẽ ấy, mới thấy những ghi chép tường tận, tỉ mỉ, cùng những tranh ảnh sống động, trực quan, giúp ta hình dung rõ nét về y phục cưới của người Việt này, thật đáng quý lắm thay. Hy vọng rằng, sẽ không còn lâu nữa, người Việt Nam chúng ta cũng có thể tái hiện lại sắc màu truyền thống của cha ông trong đám cưới của mình.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An từ 2020 - 2030 (29/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Những phụ nữ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/7/2020)
Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch (6/7/2020)
Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò (6/7/2020)
Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách (6/7/2020)
Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo (12/6/2020)
Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An (11/6/2020)
Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (31/5/2020)
Một phương diện của tài năng Nguyễn Du (8/5/2020)
Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì? (7/5/2020)
Thầy mo - Người là ai? (28/4/2020)
Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa (31/3/2020)
Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera (19/3/2020)
Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới (19/3/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,408 | Tất cả: 2,377,698
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp