ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Trạng nguyên Hồ Tông Thốc
Tin đăng ngày: 28/4/2020 - Xem: 87
 

 Nguyễn Tâm Cẩn

 (Hội viên hội Văn nghệ dân gian Nghệ An)

Hồ Tông Thốc sinh năm Giáp Tý (1324) tại làng Kẻ Cuồi hay Trang Cuồi ấp Quỳ Trạch, huyện Thổ Thành, thời Lê đổi là Đông Thành, nay là làng Tam Thọ,xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ông nội của Hồ Tông Thốc là cụ Hồ Kha, cháu đời thứ 13 của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người quê gốc ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc được cử sang giữ chức Thái thú Châu Diễn đời Ngũ Quý, thời Hậu Hán (907 - 960), đóng lỵ sở tại Kẻ Sừng thuộc ấp Quỳ Trạch. Đến lúc nghỉ hưu Hồ Hưng Dật không về nước mà ở lại ấp Quỳ Trạch lấy vợ và định cư tại đây.Theo gia phả họ Hồ ở xã Thọ Thành thì Hồ Kha sinh ra và lớn lên ở trang Mộng Sơn, ấp Quỳ Trạch huyện Thổ Thành, nay là làng Đồng Nhân xã Mã Thành huyện Yên Thành. Về sau ông di chuyển nhiều nơi cuối cùng về sống ở sách Hoàn Hậu nay thuộc xã Quỳnh Đội, huyện Quỳnh Lưu. Lúc này vợ chồng Hồ Kha sinh được hai người con trai là Hồ Cao và Hồ Hồng.

 Sau khi cùng với Nguyễn Thạc và Hoàng Khánh khai phá Thổ Đôi trang (nay thuộc xã Quỳnh Đôi), Hồ Kha để Hồ Hồng ở lại đây còn Hồ Cao được cha khuyến khích trở về quê hương tiếp tục khai phá Gò Tràm tức là vùng Kẻ Cuồi thuộc đất Quỳ Trạch nay là làng Tam Thọ, xã Thọ Thành.

Vợ chồng Hồ Cao sinh được 4 người con trai trong đó Hồ Tông Thốc là con thứ hai. Thuở nhỏ Hồ Tông Thốc được sống cùng cha ở Kẻ Cuồi và sớm tỏ ra là người có thiên tư đĩnh ngộ, thông minh, ham học và học giỏi được xem là thần đồng..Lớn lên ông được cha cho đi tầm sư học đạo. Ông ra đến lộ Hồng Châu huyện Đường Hào nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Ở đây ông sớm nổi tiếng thông minh đọc sách qua một lần là nhớ hết, thơ văn và câu đối làm rất nhanh được thầy giáo và mọi người cảm phục.

Upload

Đền thờ Trạng nguyên Hồ Tông Thốc ở Yên Thành

Thời gian này có câu chuyện kể rằng vào dịp Tết Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), ở Kinh đô có một vị quan lớn họ Lê treo đèn, đặt tiệc, mời văn nhân đến nhà bình thơ. Khách văn chương kéo đến rất đông, những người nổi tiếng về văn thơ đều có mặt . Hồ Tông Thốc bấy giờ còn đi học nhưng cũng đến dự. Khi đề vừa đưa ra, ông làm một mạch liên tiếp trăm bài thơ, trong khi mọi người vẫn còn suy nghĩ mới viết những câu đầu tiên… Đến lúc bình, cả trăm bài thơ của ông đều hay, không bài nào hơn bài nào, tất cả đều vượt trội so với những bài khác. Từ đó, tiếng tăm của Hồ Tông Thốc vang khắp Kinh kỳ, giới văn nhân ai cũng thán phục.

Khoa Tân Tỵ (1341) đời vua Trần Hiến Tông, Hồ Tông Thốc vừa tròn 17 tuổi dự thi Đình và đậu Trạng nguyên với bài văn được lưu truyền khắp nước. Mặc dầu còn ít tuổi, nhưng sau đó ông được vua Trần Dụ Tông tin yêu cử giữ chức Trung Thư lệnh. Sách Kiến Văn tiểu lục của Bảng nhãn Lê Quý Đôn có ghi: “Sau khi ông đậu Trạng nguyên đã được khắc tên vào bia đá và mặc dầu còn rất trẻ nhưng vua đã cho giữ chức Trung Thư lệnh. Ông cũng không sợ mình còn rất ít tuổi mà vâng lệnh vua nhận chức triều đình giao cho”.

Năm 1343 theo lệnh nhà vua Hồ Tông Thốc soạn văn bia chùa Báo Ân. Tiếp đó được Triều đình giao chức An Phủ sứ, đứng đầu một trấn. Trong thời gian làm An Phủ sứ, ông đã phạm một lỗi lầm. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên có chép: Trước kia Hồ Tông Thốc làm An Phủ sứ, có lấy của dân, việc bị phát giác, Nghệ Tông lấy làm lạ hỏi ông chuyện đó, Tông Thốc lạy tạ mà thưa rằng: Một con chịu ơn vua, cả nhà con ăn lộc trời, vua tha tội cho. Sau đó ông được thăng nhiều lần đến Hàn Lâm học sĩ phụng chỉ kiêm Thẩm hình viện sử”

Sau lần vấp ngã này, Hồ Tông Thốc đã trung thực nhận lỗi, quyết tâm sửa chữa để trở thành người hoàn thiện hơn được nhà vua tin dùng và người đời cảm thông. Những lần có sứ Tàu đến, nhà vua thường vời ông ra đối đáp. Với trí thông minh, tài biện luận ngoại giao lần nào cũng làm nhà vua hài lòng đồng thời sứ thần nước ngoài cũng kiêng nể. Ông đã được vua Trần cử đi sứ Trung Quốc nhiều lần và lần nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một chuyến đi sứ dưới thời vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) Hồ Tông Thốc được cử làm Chánh sứ . Lần đi sứ phương Bắc này có một giai thoại mà nhiều sách đã ghi lại. Chuyện kể rằng: Trên sông Ô Giang có miếu thờ Hạng Vũ - một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc thời Hán Sở tranh hùng. Người ta đồn miếu đó rất thiêng, nếu thuyền bè đi lại mà không vào làm lễ sẽ bị chìm.

Trong chuyến đi sứ này, thuyền Hồ Tông Thốc có ghé qua đây nhưng ông không cho thắp hương đốt vàng mà cứ đi một mạch. Tự nhiên sóng gió nổi lên, thuyền sứ bộ chòng chành suýt đắm. Nhưng ông không hề run sợ, bình tĩnh ra đầu thuyền ngâm một bài thơ:

 Quân bất quân hề, thần bất thần

 Như hà miếu mão tại giang tân ?

 Giang Đông tích nhật do hiềm tiểu

 Hà tích thiên tiền bách vạn cân ?

Dịch là:

 Vua chẳng vua, mà tôi chẳng tôi

 Bên sông miếu mạo để thờ ai ?

 Giang Đông ngày trước còn chê nhỏ

 Tiền giấy nay sao lại vật nài ?

Hồ Tông Thốc ngâm xong tự nhiên gió lặng sóng yên. Kể từ đó người ta cho biết miếu mất thiêng, thuyền bè qua lại không phải đốt vàng,lễ bái nữa.

Upload

Lễ hội đền thờ trạng nguyên Hồ Tông Thốc (Ảnh: Nguồn Báo Nghệ An)

Năm 1372 ông được vua Trần Dụ Tông cử giữ chức Hàn Lâm viện đại học sĩ. Về sau còn được phong Văn Võ hữu quốc Thượng vị hầu, Quan Nội hầu,Quan Phục hầu Điện thiên thập nhị và tước Đường Quận công.

Hồ Tông Thốc tuy có chung nguồn gốc dòng tộc vời Hồ Quý Ly nhưng có quan điểm khác nhau về vận nước, về việc phò tá vua Lê nên từ năm 1388, nhất là sau khi biết Hồ Quý Ly xui Thái Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bức tử vua Trần Phế Đế và Hồ Quý Ly giết hại hàng trăm tôn thất nhà Trần ông đã muốn xin nghỉ. Rồi đến năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, ông đã lấy lý do tuổi già sức yếu xin cáo quan về quê sống với con cháu ở quê hương Kẻ Cuồi và mất tại đây năm Giáp Thân (1404), hưởng thọ 80 tuổi.

 Ngoài tài năng xuất chúng về thơ văn, về ngoại giao, Hồ Tông Thốc còn là một nhà sử học lớn. Ông đã viết bộ sách Việt sử cương mục gồm 10 tập mà trong Đại Việt sử ký toàn thư nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã đánh giá cao về cuốn sách này: “Đọc bộ Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc làm ghi chép sự việc thận trọng mà có phương pháp, bình luận sự việc thiết đáng mà không rườm rà nhưng sau bị binh hỏa, sách hay lạ lùng hiếm thấy đã biến mất”.

 Cùng với bộ Việt sử cương mục, ông còn viết bộ Việt Nam thế chí gồm 2 tập. Tập 1 chép 18 đời vua Hùng, tập 2 chép thế phả họ Triệu. Qua bộ sách này nhiều người cho rằng Hồ Tông Thốc là người đầu tiên đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử và nói về mối quan hệ giữa huyền thoại và lịch sử. Mặt khác mặc dầu thời nhà Trần tên nước ta là Đại Việt nhưng ông là người đầu tiên đưa danh xưng Việt Nam với ý nghĩa là Quốc hiệu.

 Ngoài hai bộ sách trên Hồ Tông Thốc còn viết các tập sách: An Đăng báo ân viện bí minh, Thảo Nhàn hiệu tần thi tập, Phú học chí nam và nhuận sắc sách Hình thế địa mạc ca của Trần Quốc Kiệt . Tiếc rằng những tập sách này đã bị nhà Minh tịch thu đem về Kim Lăng trong thời kỳ đô hộ nước ta, nay không còn nữa. May mắn là Gia phả họ Hồ ở Thái Nhã và các tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích…còn chép được một số bài thơ của ông.

 Trong thời gian này Nguyễn Phi Khanh (thân sinh Nguyễn Trãi) là một nho sĩ tuy ít tuổi hơn nhưng có cùng một tâm trạng với thời cuộc thường đi lại với Hồ Tông Thốc đã gửi cho ông một bài thơ. Hồ Tông Thốc đã họa lại bằng bài thơ : Du Động Đình họa Nhị Khê để bày tỏ tâm trạng và khí phách của mình.

 Tài thức như quân thượng thiếu niên

 Văn chương ta ngã lão vô duyên,

 Dĩ tương đắc táng di hình ngoại

 Bất phục công danh đáo châm biên.

 Biển báo chí kham nhàn ẩn vụ

 Tiện ngư hà tất khó lâm uyên

 Hạnh năng nhật nhật lâu lai phóng

 Hưu quái Động Đình tự khánh huyên.

Dịch là:

 Tài giỏi như ông tuổi vẫn xanh

 Ôi! Văn chương thế lão không thành

 Biết nuôi lẽ phải ngoài hình vóc

 Chẳng để công danh cũng gói khăn.

 Dự báo mù che nhân ẩn thế

 Bên dòng khen cá nhọc chi thân.

 Mong ông lui tới ngày thăm hỏi

 Chớ ngại chuông treo cảnh Động Đình.

 Trần Thanh Tâm dịch.

 Như vậy Hồ Tông Thốc là một nhân tài kiệt xuất về nhiều mặt, nổi tiếng thông minh trác lạc từ tuổi thanh thiếu niên. Ông là một nhà thơ lớn, nhà sử học lớn và cũng là một nhà ngoại giao tài ba của dân tộc. Đặc biệt ông đã để lại cho đất nước một tài sản thật sáng giá là các con và các cháu chắt của ông. Con trai là Hồ Tông Đốn, hiệu là Ngô Thiện cũng đỗ Trạng nguyên dưới triều Trần. Hồ Tông Đốn lại sinh ra Hồ Tông Thành tự là Bình Quốc cũng đậu Trạng nguyên. Các con trai của Hồ Tông Thành là Hồ Đình Trung, Hồ Đình Quế, Hồ Doãn Văn đều đỗ Tiến sĩ. Như vậy là ba thế hệ liên tiếp ông cha con đều đỗ Trạng nguyên. Bởi vậy trong dân gian vùng Đông Thành từ xa xưa đã truyền tụng câu ca:

 Một nhà ba Trạng nguyên ngồi,

 Một gương từ mẫu cho đời soi chung.

Và câu đối nôm:

 Sớm khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa,

 Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà.

Khoai ở đây là khoai Cuồi, giống như khoai sọ, là lương thực chính của người dân Kẻ Cuồi khi mà các giống lúa về sau mới được đưa đến trồng ở đây.

 Ngày nay trên đất xã Thọ Thành huyện Yên Thành có một ngôi trường Trung học cơ sở mang tên Hồ Tông Thốc và ở thành phố Vinh cũng có con đường dài hơn 2 km mang tên ông. Ngoài ra nhà thờ đại tôn ở làng Tam Thọ cũng đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Hàng năm vào dịp mồng 9 tháng giêng âm lịch con cháu họ Hồ từ các nơi và khách thập phương kéo về Tam Thọ dự lễ tế Tổ, tưởng nhở Trạng nguyên Hồ Tông Thốc và tôn vinh một dòng họ hiếu học và học giỏi đã có nhiều đóng góp cho việc xây dựng nền văn hiến của quê hương và đất nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Bác Hồ - Tấm gương tự học và học tập suốt đời (15/5/2020)
Bác Hồ với nhà khoa học Nguyễn Xiển (8/5/2020)
Người Thổ Nghệ An (7/5/2020)
Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (28/4/2020)
Tầm nhìn phát triển du lịch sinh thái Yên Thành (10/4/2020)
Hai thập kỷ người Nghệ chinh phục Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật (2000 - 2019) (31/3/2020)
Bà Quận chú - Vị tổ sư của nghề bện võng Hoàng La (26/3/2020)
Lịch sử và kiến trúc đền Chín Gian ở Quế Phong (25/3/2020)
Đền Thần trù Hồng Long và các sắc phong thần (25/3/2020)
Lê Đông - người thổi hồn rượu men lá đồng bào Thái Con Cuông (24/3/2020)
Cuộc đời và sự nghiệp của Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế (19/3/2020)
Kỷ niệm 990 danh xưng Nghệ An: Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - Tri châu Nghệ An (6/3/2020)
Nguyễn Thị Tích - Người được Bác Hồ tin cậy (25/2/2020)
Tiến sĩ Phan Nhân Tường (25/2/2020)
Trang phục truyền thống của phụ nữ Thái (24/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 51 | Tất cả: 2,272,547
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp