KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An
Tin đăng ngày: 28/4/2020 - Xem: 122
 

                CHU VĂN XUÂN*     

Upload

miền Tây Nghệ An nhìn tờ trên cao (Ảnh: Cảnh Hùng)

Nghệ An là một tỉnh lớn, có diện tích tự nhiên là 16.487,53 km2. Trong đó, diện tích tự nhiên khu vực miền núi là 13.745 km2 (chiếm 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh); 11 huyện, thị xã khu vực miền núi (có 12 huyện, thị xã có dân tộc thiểu số) và 7 huyện, thị xã có xã miền núi, với 252 xã, phường, thị trấn miền núi (trong đó có 106 xã và 1.339 thôn, bản đặc biệt khó khăn); 27 xã tiếp giáp với 03 tỉnh (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay; Hủa Phăn) của nước bạn Lào với 468 km đường biên giới. Dân số 3.327.791 người (thời điểm 1/4/2019), miền núi có 1.221.418 người (chiếm 36,70 %), riêng đồng bào các dân tộc thiểu số có 466.161 người, chiếm 14 %  dân số toàn tỉnh và chiếm 38,2% dân số trên địa bàn miền núi, gồm 5 dân tộc có đông người cùng sinh sống (Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu).

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp có hiệu quả của các ngành, các cấp, tình hình kinh tế, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và ổn định, kinh tế tiếp tục phát triển; nhân dân hăng hái lao động tăng gia sản xuất, vươn lên xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng, làm thay đổi diện mạo vùng nông thôn dân tộc và miền núi, đẩy lùi tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.  

Đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào các dân tộc trên địa bàn từng bước được nâng cao; phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì; nhân dân tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước; công tác thông tin tuyên truyền, phát thanh, truyền hình, báo chí ngày càng hoàn thiện và phát triển. Năm 2018, tỷ lệ hộ gia đình đạt gia đình văn hóa 78,9%; tỷ lệ làng văn hóa 55,4%; tỷ lệ xã, thị trấn có thiết chế văn hóa thông tin, thể thao đạt chuẩn quốc gia 64,98%; có 56 xã miền núi về đích nông thôn mới, ngoài ra còn 26 thôn, bản miền núi được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí của tỉnh.

Giáo dục, đào tạo có nhiều chuyển biến, quy mô giáo dục tăng nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Hệ thống trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 57%. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 95%. Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở cả 03 cấp học đạt 98%. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, tỷ lệ phòng học được kiên cố và bán kiên cố, đạt 86%; có 02 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh, 06 trường trung học cơ sở nội trú cấp huyện, 30 trường phổ thông dân tộc bán nội trú.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, mạng lưới y tế cơ sở được đầu tư và phân bổ đến các vùng dân cư. Công tác truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ, trẻ em có nhiều tiến bộ. Công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm tra an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 67,2%; tỷ lệ xã có bác sỹ đạt 84,8%. Có 100% đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc và miền núi được hưởng trợ cấp bảo hiểm y tế;…

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc và miền núi tiếp tục được giữ vững, ổn định. Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước luôn được quan tâm; phát huy được vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố niềm tin của Đảng và Nhà nước với đồng bào các dân tộc; tăng cường cảnh giác, không để kẻ xấu lôi kéo, kích động, lợi dụng gây mất anh ninh trật tự. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác dân tộc, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân...

Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nghệ An rất tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước. Đồng bào dân tộc thiểu số mong muốn Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm đến đồng bào dân tộc thiểu số để có điều kiện phát triển một cách toàn diện hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước. Hiện tại, hệ thống chính sách dân tộc tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, còn có những chính sách chưa đủ mạnh để giúp đồng bào thoát nghèo bền vững. Nhà nước cần có chính sách đủ “lực” để thúc đẩy đồng bào phát triển kinh tế mạnh hơn, thoát nghèo bền vững. Việc nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của các dân tộc sẽ có ý nghĩa và tác dụng to lớn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của văn hóa truyền thống trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số hiện nay. Vì vậy, các địa phương cần phải có kế hoạch kiểm kê đầy đủ và đánh giá đúng mức đối với các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số; tiến hành nghiên cứu, sưu tầm ghi hình, ghi âm lại các làn điệu dân ca; tổ chức các lớp truyền dạy dân ca, dạy chữ, chế tác và sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc cho thế hệ trẻ; cần có chế độ, chính sách thỏa đáng dành cho những nghệ nhân trình diễn cũng như những nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian các dân tộc. Bên cạnh đó, cần chú trọng việc đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu các lễ hội dân gian.

Tuy nhiên, khu vực miền Tây Nghệ An vẫn còn những hạn chế bất cập như:

Tư tưởng của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn bảo thủ, trông chờ, ỷ lại, tư duy kinh tế chậm đổi mới; trình độ dân trí không đồng đều, đời sống sinh hoạt còn nhiều khó khăn; thanh niên thiếu việc làm ổn định còn nhiều, năng suất lao động, năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp; giao thông đi lại khó khăn. Tình hình di dịch cư tự do, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma túy, các tệ nạn xã hội, truyền đạo trái pháp luật, buôn bán phụ nữ và trẻ em, đi lao động bất hợp pháp qua các nước khác còn tiếp tục xảy ra và diễn biến phức tạp.

Các huyện miền núi cao, vùng sâu, vùng xa sản xuất hàng hóa chưa phát triển, chủ yếu là tự cung, tự cấp; trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lượng, hiệu quả một số cây trồng và vật nuôi còn thấp. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tuy đã có bước phát triển nhưng tốc độ còn chậm, chưa phát huy, khai thác được tiềm năng và thế mạnh trong vùng. Kết cấu hạ tầng tuy có tiến bộ, nhưng chưa tạo sự chuyển biến căn bản, vẫn còn rất nhiều khó khăn, yếu kém như: giao thông, thủy lợi, điện, thông tin, trạm xá, trường học và các công trình phúc lợi công cộng còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tuy đã được cải thiện, song vẫn còn rất khó khăn, một bộ phận còn đói, nhất là các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu.

 Công tác quản lý Nhà nước ở một số lĩnh vực vẫn còn hạn chế; những vấn đề được nhân dân quan tâm chưa được giải quyết hoặc giải quyết chậm, không dứt điểm, hiệu quả thấp, nhất là các vấn đề liên quan đến thiếu đất sản xuất, tệ nạn ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em… Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về công tác dân tộc còn hạn chế. Cán bộ, công chức làm công tác dân tộc nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu.

Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, các sơ hở trong quản lý nhà nước để tuyên truyền, kích động, lôi kéo gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định an ninh trật tự...

Để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An, góp phần hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XVIII đề ra cần tập trung một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền sâu rộng để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân trong thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận 57-KL/TW, về công tác dân tộc.

Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực tăng gia, sản xuất, xóa đói giảm nghèo, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm các ngày lễ lớn.

Thứ hai, chính quyền các cấp cụ thể hóa các chủ trương, chính sách thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giám nghèo, nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Tập trung triển khai đồng bộ và huy động tối đa các nguồn lực đầu tư để thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, tập trung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới. Chủ động chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất, lựa chọn các loại giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, có giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập và có cơ chế đầu ra cho sản phẩm. Khuyến khích thu hút đầu tư vào vùng dân tộc và miền núi.

Đẩy nhanh công tác giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; tiếp tục nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, tạo sức lan tỏa; hướng dẫn xây dựng các nhóm hộ, tổ hợp tác phát triển sản xuất trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn, phục dựng và phát huy các di sản, bản sắc văn hóa, nghề truyền thống của các dân tộc trên địa bàn; Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc và miền núi, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục, hạn chế thấp nhất học sinh bỏ học. Quan tâm công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là nâng cao chất lượng phục vụ tại trạm y tế xã, y tế thôn bản.

Thứ ba, các cấp chính quyền thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; thực hiện tốt công tác dân vận của chính quyền. Tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở đó xem xét giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của nhân dân ngay từ cơ sở.

Phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, người có tư tưởng tiến bộ trong công tác vận động quần chúng nhất là khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến dân tộc, tôn giáo.

Làm tốt công tác nắm, dự báo tình hình, đánh giá đúng diễn biến có liên quan đến công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là âm mưu, ý đồ lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch để chủ động đối phó và xử lý kịp thời.

Thứ tư, đảm bảo quốc phòng và an ninh. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Tăng cường phối hợp các lực lượng trên địa bàn chủ động sẵn sàng đập tan mọi âm mưu hành động phá hoại của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Củng cố, tăng cường lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên tại các xã, thôn bản.

Hoàn chỉnh các phương án phòng thủ, chủ động tấn công các loại tội phạm, chống vượt biên trái phép, tuyên truyền, kích động gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, thực hiện các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Phát hiện kịp thời các mâu thuẫn phát sinh trong nhân dân, không để kéo dài, tích tụ thành các điểm nóng tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị. Chủ động phối hợp với 3 tỉnh của nước bạn Lào có biên giới chung với Nghệ An là Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay, Hủa Phăn trong việc bảo vệ an ninh biên giới.

Thứ năm, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số với công tác đối ngoại nhân dân trong bảo vệ biên giới; đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vùng dân tộc thiểu số; chủ động phối hợp với các cấp chính quyền tuyên truyền, vận động nhân dân các dân tộc chấp hành các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chính sách dân tộc, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Hướng các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể về cơ sở bám địa bàn, sát dân.

Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác dân tộc phải thường xuyên, liên tục; chú trọng công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương về công tác dân tộc để kịp thời chấn chỉnh những sai sót, khuyết điểm và đề ra những giải pháp phù hợp trong thời gian tới.

Củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, tăng cường cán bộ chủ chốt cho những nơi trọng yếu, nơi có tình hình an ninh chính trị phức tạp. Xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới theo Quyết định số 402/QĐ-TTg, ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, điều động, luân chuyển, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ, cán bộ trẻ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ làm công tác dân tộc ở các cấp, các ngành. Chú trọng công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số gắn với xây dựng và phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng cốt cán, già làng, trưởng bản, người có uy tín; góp phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Thực hiện tốt việc phân công đảng viên, đoàn viên phụ trách hộ, nhóm hộ gia đình. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chủ trương chính sách, đổi mới nâng cao chất lượng hiệu quả công tác dân tộc.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc.
  2. Chỉ thị số 49 - CT/TW, ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  3. Quyết định số 2355/QĐ-TTg, ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây tỉnh Nghệ An đến năm 2020.
  4. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
  5. Báo cáo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc.

 

 

 

  

 

* Ths - Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Nghệ An

KHXHNV & Đời sống khác:
Người Việt và nền sản xuất nông nghiệp truyền thống (7/8/2020)
Văn hóa nhà ở của người Việt (5/8/2020)
Dịch tả và virus corona: Những sai lầm không được phép lặp lại (29/7/2020)
10 tài năng trẻ KH&CN nhận giải Quả cầu vàng (29/7/2020)
Đảng với sự nghiệp văn hóa - nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX (29/7/2020)
Lịch sử, ý nghĩa của ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 (22/7/2020)
Khai thác lợi thế để phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo ở Nghệ (6/7/2020)
Giá trị những bài viết của Nguyễn Văn Tố trên Tạp chí Thanh Nghị (6/7/2020)
Kỷ niệm 18 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2020) Gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình (23/6/2020)
Phát triển thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ (23/6/2020)
Bác Hồ viết báo Tết Độc lập đầu tiên (12/6/2020)
“Xạc húa” không chỉ là “Gội đầu” (12/6/2020)
Giao thương của người Nhật ở Nghệ An (11/6/2020)
Chính sách của triều Lê - Trịnh đối với người nông dân Nghệ An thế kỷ XVII - XVIII (11/6/2020)
Sở hữu trí tuệ trong Hiệp định EVFTA - Những cam kết quan trọng cần lưu ý (11/6/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
Giới thiệu sách: Quỳnh Lưu quê hương tôi
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,286 | Tất cả: 2,377,576
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp