DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An
Tin đăng ngày: 16/4/2020 - Xem: 79
 

 Trần Tử Quang

Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, Nghệ An là nơi trọng yếu của đất nước, giao điểm hội tụ của bốn phương. Đây là vị trí trung tâm dễ bề chế ngự trong - ngoài, điều hành Nam - Bắc. Thời bình thì nhân kiệt địa linh, thời chiến lại tiện về công - thủ. Với vị thế chiến lược đặc biệt quan trọng, lại là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa, xứ Nghệ có nhiều đóng góp lớn lao trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cũng do đó, Nghệ An luôn là mối quan tâm đặc biệt của nhiều triều đại, thể hiện qua việc sớm được ghi chép, nhận định và khảo luận đầy đủ, chi tiết trong nhiều bộ chính sử, phương sử, cũng như dư địa chí của các nước lân bang.

Tuy nhiên, bởi do nhiều thư tịch cổ nhắc đến như vậy mà việc biên chép sẽ có những điểm sai khác, tam sao thất bản, không đồng nhất với nhau, gây khó khăn phức tạp cho chuyện xác định tính chính xác xung quanh một nhân vật hay sự kiện cụ thể nào đó, trong đó việc khẳng định mốc thời gian xuất hiện danh xưng “Nghệ An” của giới sử học ngày nay còn có nhiều quan điểm và kiến giải khác biệt.

Ngày 11 tháng 1 năm 2003, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia có tổ chức tọa đàm về xác định mốc lịch sử có tên gọi Nghệ An. Sau khi nghe tham luận của các nhà khoa học tại Nghệ An và các cơ quan khoa học trung ương, cuộc tọa đàm đã nhất trí với những kết luận:

Còn lại 2 niên đại 1030 và 1036 đều được chép trong những bộ lịch sử hay địa chí có giá trị như Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mụcĐại Nam nhất thống chí (tỉnh Nghệ An). Hiện nay xét về thư tịch học và văn bản học, chưa có căn cứ gì để loại trừ một trong 2 niên đại trên. Do đó trong tình trạng sử liệu như trên, mỗi người có thể chọn một trong 2 niên đại 1030 và 1036 làm năm xuất hiện sớm nhất của địa danh Nghệ An, kèm theo ghi chú của niên đại kia để tham khảo.

Những người tham gia tọa đàm đề nghị lãnh đạo tỉnh Nghệ An nên chọn năm 1030 để làm năm kỷ niệm sự ra đời của danh xưng Nghệ An vì niên đại này được ghi nhận qua hai tác phẩm có giá trị của hai học giả nổi tiếng của quê hương là Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú.

Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy ý kiến cho rằng niên đại ra đời danh xưng “Nghệ An” vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030) thực sự chưa hợp lý. Vì vậy trong bài viết này chúng tôi muốn bàn thêm niên đại ra đời của danh xưng “Nghệ An” qua một số tư liệu mới xác tín hơn.

“Nghệ An” xuất hiện trên văn bản sớm nhất vào năm nào?

Trong chữ Hán, chữ Nghệ 乂 có nghĩa là cai trị (động từ) hay thái bình, thịnh trị, kiệt xuất (tính từ) còn chữ An 安 có nghĩa là yên ổn. Sách Đồng Khánh dư địa chí (biên soạn từ thời vua Đồng Khánh đến thời vua Thành Thái) cho biết tên gọi này được lấy chữ từ Sử ký của Tư Mã Thiên ở quyển 112, liệt truyện thứ 52 là “Bình Tân hầu chủ phụ liệt truyện” 平津侯主父列傳 có câu “Thị thời Hán hưng lục thập dư tải, hải nội Nghệ An, phủ khố sung thực” 是時漢興六十餘載,海內乂安,府庫充實 (Bấy giờ, nhà Hán hưng thịnh đã hơn 60 năm, thiên hạ thái bình, kho lẫm đầy ắp).

Theo khảo sát của chúng tôi, tư liệu có niên đại cổ nhất hiện còn lưu giữ được đề cập đến hai chữ “Nghệ An” là tư liệu văn khắc thời Lý. Sau khi tìm kiếm từ bài văn khắc có niên đại sớm nhất là “A Di Đà Phật tụng” 阿彌陀佛頌 (bài văn được khắc trên bệ tượng Phật chùa Hoàng Kim xã Hoàng Ngô huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội ngay sau khi tạc pho tượng A Di Đà vào niên hiệu Hội Phong thứ 8 (1099) đời vua Lý Nhân Tông); cho đến những bài văn bia cuối cùng thuộc niên đại triều Lý như Báo Ân thiền tự bi 報恩禪寺碑 (1210) chúng tôi chỉ thấy danh xưng Nghệ An xuất hiện ở tác phẩm 鉅越國太尉李公石碑 銘序 “Cự Việt quốc Thái úy Lý công thạch bi minh tự” (bài tựa và bài minh khắc trên bia đá về quan Thái úy Lý công nước Cự Việt). Bia được dựng cho Thái úy Lý công Đỗ Anh Vũ sau khi ông mất. Văn bia không ghi người soạn và năm dựng bia nhưng được đoán định là được soạn sau khi Đỗ Anh Vũ mất (1159). Văn bia được tìm thấy ở thôn An Lạc xã Trưng Trắc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên nhưng hiện nay bia và thác bản đều không còn, bài văn bia dựa trên bản sao chép của học giả Hoàng Xuân Hãn. Trong đó có ghi rõ:

... 主上撫尊親而彰之賜芝純以褒之乂安清化富良三府皆總已之所封禁除夷俗拱手而受墨刑盜賊邊民喪膽而歸皇化...“… Chúa thượng phủ tôn thân nhi chương chi, tứ chi thuần dĩ bao chi; Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Lương tam phủ giai tổng dĩ chi sở phong. Cấm trừ di tục, củng thủ nhi thụ mặc hình; đạo tặc biên dân, táng đảm nhi quy hoàng hóa…”.

(Chúa thượng vỗ về tông thân (của Thái úy) mà tạo vẻ vang cho họ, lại ban lụa tốt để phong cho Thái úy. Ba phủ Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Lương cũng đều là đất được phong của ông vậy. Thái úy cấm tiệt và trừ bỏ phong tục của man di, khiến họ chắp tay mà chịu thích chữ vào mặt. Bọn trộm cướp cũng khiếp đảm mà theo giáo hóa của triều đình).

Như vậy, “Nghệ An” đã sớm có mặt trên văn bản muộn nhất là vào khoảng năm 1159. Điều đáng tiếc là hiện nay chưa tìm thấy văn bản hiện tồn nào trong đó có ghi hai chữ “Nghệ An” thuộc niên hiệu của các vua đầu triều Lý. Tuy nhiên, trên đây chỉ là niên đại của danh xưng này xuất hiện trên văn bản, chứ không phải nói đến việc danh xưng “Nghệ An” được ra đời từ những mốc thời gian đó.

Upload

Đại Việt sử ký toàn thư, bản chép tay ghi về việc đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An

Vậy, danh xưng Nghệ An xuất hiện vào năm nào?

Về việc Hoan Châu được đổi tên thành Nghệ An xưa nay có rất nhiều thư tịch quốc chí và phương chí nói đến. Căn cứ theo biên bản kết luận của Trung tâm KHXH và NV Quốc gia vào ngày 11 tháng 1 năm 2003 đã loại trừ các năm Thiên Thành thứ 2, tức năm 1029 ở sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục và năm Thiên Thành thứ 6, tức năm 1033 ở sách Lịch triều hiến chương loại chí;  nhưng lại chưa khẳng định được niên đại cụ thể nào giữa 2 mốc là năm Thiên Thành thứ 3, tức năm 1030 ở sách Nghệ An ký và năm Thông Thụy thứ 3, tức năm 1036 ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, vì “chưa có căn cứ gì để loại trừ một trong 2 niên đại trên”.

Theo chúng tôi thì quan điểm danh xưng Nghệ An ra đời vào niên hiệu Thông Thụy thứ 3 (1036) như ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, chứ không ra đời vào niên hiệu Thiên Thành thứ 3 (1030) như ghi chép của Nghệ An ký.

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử của nước ta xưa nhất tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan dưới triều Hậu Lê biên soạn. Đây là kho tư liệu phong phú không chỉ dành riêng cho ngành sử học mà còn giúp ích cho nhiều ngành khoa học xã hội khác như văn học, bảo tàng, khảo cổ… góp phần cực kỳ quan trọng vào việc hiểu rõ nhiều sự kiện diễn ra trên nhiều vùng đất trên đất nước ta qua các thời kỳ lịch sử.

Đặc biệt, vào năm Minh Trị thứ 17 (1884) chính phủ Nhật Bản đã cho xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Người phụ trách biên tập xuất bản là ông Dẫn Điền Lợi Chương - giữ chức Trợ giáo kiêm tham mưu bản bộ lục quân đại học hiệu có đánh giá: “Sử An Nam không có sách nào đầy đủ hơn sách này, nên mới có tên gọi là Toàn thư”. Tại Trung Quốc, vào ngày 1/5/2006, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Tây Nam xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư lưu hành tại Trung Quốc, với lời nhận định: 大越史記全書與高麗史大日本史等一起作為周邊國家正史文獻是越南古代歷史最有代表性也是最完整的一部史書 (“Đại Việt sử ký toàn thư” cùng với “Sử Cao Ly”, “Sử Đại Nhật Bản” là các bộ chính sử văn hiến của các quốc gia láng giềng, là cuốn sách lịch sử tiêu biểu và đầy đủ nhất của lịch sử Việt Nam thời cổ đại)… Với vị thế đặc biệt quan trọng như vậy nên các bộ quốc sử chính thống của Việt Nam sau này như Đại Việt sử ký tiền biên (triều Lê - Trịnh), Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (triều Nguyễn) đều được biên soạn dựa trên cơ sở cốt yếu lấy từ Đại Việt sử ký toàn thư; hay như các bộ phương chí khi viết về những sự kiện nhân vật lịch sử địa phương cũng đều dẫn nguồn từ đó. Vì vậy, khi bất cứ thông tin sự kiện nào được viết khác với Đại Việt sử ký toàn thư tất phải có sự giải thích hay kiến giải cụ thể để chứng minh cho sự khác biệt đó. Nghệ An ký (và Hoàng Việt dư địa chí) cho rằng Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030) nhưng lại chưa có lời giải thích thỏa đáng nên chúng ta không biết được thông tin đó dựa trên nguồn văn bản nào khác có tính xác thực hơn, chuẩn xác hơn. Cho nên thông tin Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An năm Thiên Thành thứ 3 (1030) trong Nghệ An kýHoàng Việt dư địa chí là chưa đủ cơ sở khoa học.

Nếu như năm Thiên Thành thứ 3 (1030), Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An như sách Nghệ An ký đã chép, thì tại sao những năm tiếp theo trong bộ chính sử là Đại Việt sử ký toàn thư vẫn sử dụng cái tên Hoan Châu? Cụ thể:

- Năm Tân Mùi, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 4 (1031) (niên hiệu Tống Thiên Thánh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, châu Hoan làm phản, cho Đông cung thái tử làm Giám quốc. Quân đi từ Kinh sư đến châu Hoan, người châu ấy đầu hàng. Xuống chiếu tha tội cho các quan châu huyện, sai Trung sứ phủ dụ dân chúng. Tháng 3, vua từ châu Hoan về đến Kinh(1).

- Năm Giáp Tuất, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 7 (1034), (Từ tháng 4 về sau là niên hiệu Thông Thụy năm thứ 1 (Tống Cảnh Hựu năm thứ 1), tháng 6, châu Hoan đem dâng con thú một sừng, sai Viên ngoại lang là Trần Ứng Cơ, Vương Văn Khánh đem sang biếu nhà Tống(2).

Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử chính thống của nhà nước, biên soạn theo phương pháp biên niên, lại tham khảo và biên soạn dựa trên bộ sử có niên đại rất gần với thời Lý là Đại Việt sử ký (1272). Một địa phương có vị trí chiến lược, vị thế trọng yếu, xuất hiện với tần suất cao trong sử sách như Nghệ An thì một bộ quốc sử khó có thể chép sai lệch đến tận 5 năm được.

Còn việc đổi tên từ Hoan Châu thành Nghệ An, Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ:

丙子三年宋景祐三年夏四月置驩州行營因改其州曰乂安(3).

“Bính Tý tam niên (Tống Cảnh Hựu tam niên) hạ tứ nguyệt, trí Hoan Châu Hành doanh, nhân cải kỳ châu viết Nghệ An”.

(Tháng tư, mùa hè năm Bính Tý thứ 3 [niên hiệu Tống Cảnh Hựu năm thứ 3] đặt Hành doanh ở Hoan Châu, nhân đó mà đổi châu ấy là Nghệ An).

Năm Bính Tý thứ 3, tức niên hiệu Thông Thụy năm thứ 3, Châu Hoan chính thức đổi tên thành Nghệ An. Chính vì vậy, từ đó về sau vùng đất này đều sử dụng tên gọi mới là “Nghệ An” còn tên gọi cũ là Hoan Châu đã không còn được sử dụng. Cụ thể:

Năm Đinh Sửu, niên hiệu Thông Thụy năm thứ 4 (1037) (Tống Cảnh Hựu năm thứ 4), xuống chiếu cho châu Nghệ An dựng các kho ở trong châu như Tư Thành, Lợi Nhân, Vĩnh Phong, tất cả 50 sở.

Năm Tân Tỵ, niên hiệu Càn Phu Hữu Đạo năm thứ 3 (1041) (Tống Khánh Lịch năm thứ 1), tháng 11, xuống chiếu cho Uy Minh hầu Nhật Quang làm tri châu Nghệ An.

Điều đáng chú ý là năm Thông Thụy thứ 3 (1036), nhà Lý đã làm một việc quan trọng và có dấu ấn đậm nét là đặt một Hành doanh tại vùng Hoan Châu, cho nên nhân sự kiện này mà đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An. Vì vậy, cho tới năm 1044 khi vua Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành đã quay trở lại Hành doanh này, bấy giờ gọi là Hành doanh Nghệ An chứ ko còn là Hành doanh Hoan Châu nữa.

Bên cạnh đó, căn cứ theo kết luận khoa học của cuộc tọa đàm nói trên, sách Hoàng Việt dư địa chíLịch triều hiến chương loại chí có cùng một tác giả biên soạn nhưng thông tin lại không thống nhất: trong Hoàng Việt dư địa chí, tác giả lại ghi Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An năm Thiên Thành thứ 3 (1030); trong khi ở Lịch triều hiến chương loại chí (Dư địa chí), thì tác giả lại ghi Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An vào năm Thiên Thành thứ 6 (1033).

Kết luận khoa học của cuộc tọa đàm cũng ghi rõ: “nên chọn năm 1030 để làm năm kỷ niệm sự ra đời của danh xưng Nghệ An vì niên đại này được ghi nhận qua hai tác phẩm có giá trị của hai học giả nổi tiếng của quê hương”.

Theo chúng tôi, đây là nhận định chưa thực sự thuyết phục bởi vẫn có nhiều danh nhân nổi tiếng khác của quê hương xứ Nghệ cũng viết về Nghệ An nhưng lại có quan điểm khác biệt. Những tác giả đó cũng là người cùng quê, cùng thời, và đặc biệt hơn là bạn bè cùng giao lưu trên phương diện chữ nghĩa với tác giả Bùi Dương Lịch. Đơn cử như Nho sĩ Nguyễn Hành - một tác gia lớn thuộc nhóm “An Nam ngũ tuyệt” với tác phẩm Quan Đông Hải. Đây là tập thơ văn chứa đựng rất nhiều những thông tin có giá trị về Nghệ An trong đó nổi bật nhất là những bài viết về văn hóa, lịch sử và địa dư, cung cấp thêm những thông tin hết sức hữu ích được chính tác giả khảo luận hết sức công phu và nghiêm túc. Và tất nhiên không thể không đề cập tới mốc thời gian xuất hiện danh xưng “Nghệ An”. Trong bài tựa cho sách “Nghệ An phong thổ ký” tác giả có viết:

…乂安者我越南國之雄鎮也稽古周辰有越裳氏者国於其間自秦而下列為郡縣至隨始為驩州又以其在夏至日道之南謂之日南郡今所稱乂安者李朝通瑞三年所改定也其地北連清花南抵順化西接哀牢東極于海凡領府九縣二十四州二內四府十二縣為聲教外五府十二縣為羈縻…

Nghệ An là một trấn hùng mạnh của nước Việt Nam ta vậy. Xét từ xưa, thời nhà Chu có họ Việt Thường mà nước đó lại nằm ngay ở khoảng đất (thuộc Nghệ An này). Từ thời nhà Tần trở về sau này đều phân làm quận huyện, nhiều mà hỗn tạp không đồng nhất. Đến thời nhà Tùy, bắt đầu gọi là Hoan Châu, lại lấy việc vùng này ở phía Nam của đường mặt trời làm ngày Hạ chí cho nên gọi là quận Nhật Nam. Nay gọi là Nghệ An ấy là bởi được đổi lại từ niên hiệu Thông Thụy thứ 3 triều nhà Lý vậy. Đất này, Bắc liền với Thanh Hoa, Nam lại đến Thuận Hóa, Tây tiếp giáp nước Lào, Đông thì nhìn ra biển. Tất cả gồm 9 phủ, 24 huyện, 2 châu, trong đó có 4 phủ 12 huyện là nơi nổi tiếng về giáo hóa, còn lại 5 phủ 12 huyện là Ki mi.

Hay như trong bài khảo luận về tên gọi “Nghệ An”, “Hoan Châu”, “Việt Thường”, tác giả cũng viết rõ:

又乂安驩州越裳攷辨

嘗聞之先儒云今人於官名地名,概用先代名目以為古,將一代制度強宇皆溷乱不可橈,亦是一弊。吳公改驩州記為乂安記,久為穩妥。但據驩州而言,則猶可稱古越裳氏之國,而乂安則不可。何也。蓋驩州是其小者,而乂安則其大者也。歷代沿革不同,至隋始有驩州之名,唐世固之,所稱領縣四,越裳其一也。[越裳本吳縣,隋唐固之]。。。按國史黎臥朝景瑞二年,自將征驩唐石河諸州。李太宗通瑞三年,始改驩州曰乂安,而演州仍自為路,各有安撫使知府以鎮之。。。

Upload

Bìa tựa sách Nghệ An phong thổ ký ghi về việc đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An

Lại khảo biện về tên gọi “Nghệ An”, “Hoan Châu”, “Việt Thường”

Thường nghe: các bậc Tiên Nho nói rằng: người đời nay đối với tên quan, tên đất, đại khái đều dùng tên gọi của các đời trước rồi cho rằng nó đã có từ lâu đời, lấy dạng thức của một triều đại mà gượng ép đưa vào một cương vực thì thật hỗn loạn mà không thể nào sửa sang lại được, đó là một điều tệ hại vậy. Cho nên, thầy Ngô (Nhân Tĩnh) đổi (tên sách) “Hoan Châu ký” thành “Nghệ An ký” là một việc rất hợp lý. Bởi căn cứ vào cái tên Hoan Châu mà nói thì đó có thể gọi là nước của họ Việt Thường, mà nếu gọi là Nghệ An thì lại không thể được. Vì sao vậy? Đại khái rằng Hoan Châu chỉ là một vùng nhỏ, còn Nghệ An thì lại là một vùng lớn vậy. Xưa nay duyên cách chẳng giống nhau. Đến thời nhà Tùy thì bắt đầu có tên gọi là Hoan Châu, sang đến thời nhà Đường cũng còn dùng với tên như vậy, bao gồm 4 huyện thì Việt Thường là một trong số đó (Việt Thường vốn là huyện Ngô, thời Tùy, Đường vẫn gọi như thế)… Theo quốc sử, vào năm Cảnh Thụy thứ 2 đời Lê Ngọa Triều, vua thân chinh đi đánh dẹp các châu Hoan Đường, Thạch Hà. Năm Thông Thụy thứ 3 đời Lý Thái Tông mới đổi tên gọi Hoan Châu thành Nghệ An…

Upload

Bài khảo luận về tên gọi Nghệ An, Hoan Châu, Việt Thường ghi về việc đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An

Qua bài tựa cho sách “Nghệ An phong thổ ký” và bài “Khảo luận về tên gọi Nghệ An, Hoan Châu, Việt Thường”, chúng ta thấy rằng đây đều là những thông tin cực kỳ chi tiết không chỉ về danh xưng mà còn là cương vực, duyên cách của mảnh đất Nghệ An mà tác giả đã dày công khảo luận, sắp xếp sự kiện, đối chiếu rõ ràng. Điều đặc biệt là tác giả Nguyễn Hành ghi rất rõ cho việc khảo luận của mình là “Án quốc sử” nghĩa là: “căn cứ vào quốc sử”.

Ngoài ra, chúng tôi còn thấy một số tác phẩm nổi tiếng về lịch sử văn học nói về việc Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An vào năm Thông Thụy thứ 3 (1036), đơn cử như tác phẩm Đại Nam Quốc sử Diễn ca (khắc in vào năm Duy Tân thứ 7 (1911). Đây là một trong những bộ sử ca của lịch sử sử học Việt Nam mà cũng là của văn học sử cổ cận đại Việt Nam, được xem là bộ sử viết theo văn vần bằng chữ Nôm đầu tiên của đất nước ta. Đại Nam quốc sử diễn ca ra đời vào khoảng triều Tự Đức thời nhà Nguyễn và khắc in rất nhiều lần vào những năm giữa thế kỉ thứ XIX (1860, 1870, 1873, 1881, 1908, 1934) ở trong nước và nước ngoài (Trung Quốc). Sách gồm hai phần được chia thành 2 nửa: phần tiểu chú ở phần trên là chú thích bằng chữ Hán về những sự kiện tương ứng với những câu thơ lục bát về từng thời kỳ trong lịch sử nước nhà ở phần dưới. Sách do quan Hồng lô tự khanh Phạm Đình Toái (xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) biên soạn và quan Hồng lô thiếu khanh Phan Đình Thực (xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) hiệu đính. Trong tác phẩm này, tương ứng với các câu thơ:

…“Trận tiền giết Vũ Đức Vương,

Đông Chinh, Dực Thánh tìm đường chạy xa.

Khoan hình lại xuống chiếu tha,

Thân phiên đã định, nước nhà mới yên.

Ban hình luật, canh tịch điền,

Mở đồ nhất thống cầm quyền tứ chinh.

Mừng xem “Phiên phục, Nùng bình”,

Huy xưng có chữ rành rành biểu tiên.

Vắn dài là số tự nhiên,

Tụng kinh cầu thọ, khéo nên chuyện cười.

Thánh Tông văn học hơn đời,

Bình Chiêm, đánh Tống, đủ tài kinh luân.

Khuyến nông chăm việc cần dân,

Chiếu chăn thương kẻ tù nhân lạnh lùng.

Thánh hiền tô tượng học cung,

Đặt khoa bác sĩ, ưu dung đại thần”…

là phần chú thích bằng chữ Hán: 通瑞三年改驩州曰乂安 “Thông Thụy tam niên cải Hoan Châu viết Nghệ An” (Niên hiệu Thông Thụy năm thứ 3, đổi Hoan Châu thành Nghệ An). Điều đặc biệt là trong số các địa phương của nước ta lúc bấy giờ, chỉ có Nghệ An được Đại Nam quốc sử diễn ca chú thích về việc đổi tên địa danh mà các địa phương khác lại không được ghi chép như vậy.

Upload

Đại Nam quốc sử diễn ca ghi về việc đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An

Nghệ An với vị thế là địa phương có bề dày văn hóa nên xưa nay luôn là đối tượng nghiên cứu và biên soạn của nhiều tác giả lớn trong nhiều công trình dư địa chí có giá trị. Nhưng trong mỗi thư tịch đều có kiến giải và quan điểm riêng về một thông tin hay sự kiện nào đó trong lịch sử, mà trong đó việc khẳng định mốc thời gian xuất hiện danh xưng “Nghệ An” còn có những thông tin chưa thống nhất. Nghệ An ký tuy là tác phẩm địa chí lớn nhất viết về Nghệ An, được đánh giá cao về phương pháp biên soạn nghiêm túc và nguồn sử liệu dồi dào, nhưng đây chỉ là tác phẩm phương chí chứ không phải quốc sử, chính sử, chính vì vậy Nghệ An ký không biên niên các sự kiện lớn theo dòng chảy lịch sử dân tộc như các bộ chính sử mà cụ thể là bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Hơn nữa, Nghệ An ký lại được biên soạn vào thế kỷ 19, thời gian cách quá xa sự kiện được nói đến, độ xác tín ở những sự kiện lịch sử tất nhiên sẽ không có sức nặng như bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư được. Chính vì vậy, theo chúng tôi thì danh xưng Nghệ An ra đời vào niên hiệu Thông Thụy thứ 3 (1036) như ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư, chứ không ra đời vào niên hiệu Thiên Thành thứ 3 (1030) như ghi chép của Nghệ An ký.

 

Tài liệu trích dẫn

(1), (2), (3). Đại Việt sử ký toàn thư, Bản chữ Hán khắc ván gỗ năm Chính Hòa thứ 18 (1697) và bản dịch (Hà Nội, NXB. Khoa học Xã hội,1993).

Diễn đàn khác:
Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ? (8/5/2020)
50 năm thực hiện mong muốn của Bác Hồ “… Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” (8/5/2020)
Tiếp cận đại dịch Covid - 19 dưới góc nhìn xã hội học (7/5/2020)
Vang mãi khúc ca toàn thắng Bài 1: Cuộc đối đầu lịch sử (29/4/2020)
Thời Covid-19, tính linh hoạt của con người và biết đâu điều khả dĩ (22/4/2020)
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An (16/4/2020)
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang (16/4/2020)
Về mốc ra đời và kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An (1030 - 2020) (16/4/2020)
Lịch sử tên gọi "Nghệ An" trong di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (16/4/2020)
Chữ Việt Nam song song 4.0: Không có cơ sở khoa học và không nên phổ biến (8/4/2020)
Nỗi sợ corona virus làm tăng nhanh những lo ngại về kinh tế (24/3/2020)
Một số ý kiến góp ý về quá trình soạn thảo dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trình Đại hội Đảng các cấp (2/3/2020)
Những tranh luận xung quanh bài ca dao: “Tát nước đầu đình” (10/2/2020)
Những cuộc tranh luận xung quanh câu chuyện dân gian con cá gỗ của ông đồ xứ Nghệ (7/2/2020)
Múa trống đồng “Lệnh ông không bằng cồng bà” (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 65 | Tất cả: 2,272,561
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp