DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang
Tin đăng ngày: 16/4/2020 - Xem: 73
 

 LTS: Năm 2020, Nghệ An tổ chức các hoạt động chào mừng 990 năm danh xưng Nghệ An. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng đối với tỉnh Nghệ An, khẳng định vị trí, vai trò và những đóng góp to lớn của vùng đất và con người Nghệ An trong tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước.

Để góp phần vào sự kiện chính trị - xã hội này, Chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Danh xưng Nghệ An và vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang”. Xin lược đăng ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý,... tại buổi Tọa đàm!

Upload

Ông Nguyễn Quốc Hồng - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Nghệ An:

Đặt vấn đề

Upload    Ngày 11/4/2020 Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An sẽ tổ chức kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An. Đây là sự kiện chính trị, xã hội có ý nghĩa to lớn đối với tỉnh nhà. Thông qua các hoạt động kỷ niệm tiếp tục làm sáng rõ ý nghĩa lịch sử quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nghệ An. Với bề dày lịch sử 990 năm, từ một vùng đất biên viễn, phên dậu phía Nam của Quốc gia Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nghệ An đã trở thành trung tâm giao thoa, hội tụ các vùng văn hóa và tạo cho mình một sắc diện văn hóa khó lẫn với các vùng khác.

Hoạt động kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An tiếp tục khơi dậy truyền thống tốt đẹp của vùng đất Nghệ An. Là dịp để chúng ta nhìn lại, tiếp tục khẳng định và tôn vinh giá trị lịch sử, truyền thống quê hương Nghệ An. Đồng thời rút ra từ thực tiễn lịch sử những bài học quý báu cho tỉnh nhà trong sự nghiệp xây dựng quê hương thời kỳ hội nhập và phát triển.

Nội dung cuộc Tọa đàm tập trung vào những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, ý nghĩa lịch sử của Lý Thái Tông đổi tên từ Hoan Châu thành Nghệ An châu trại.

Thứ hai, vai trò của nhà Lý cụ thể là Lý Thái Tông và Lý Nhật Quang đối với quá trình hình thành, phát triển của Nghệ An và vai trò của Nghệ An trong triều đại nhà Lý?

Thứ ba, khẳng định những đóng góp của Nghệ An đối với triều đại nhà Lý trước đây và đối với đất nước hiện nay.

Thứ tư, bàn thêm về năm danh xưng Nghệ An. 

 Tại cuộc Tọa đàm hôm nay rất mong nhận được những ý kiến thảo luận của các chuyên gia về những nội dung trên.

 PGS.TS Nguyễn Quang Hồng - Khoa Lịch sử, Đại học Vinh:

Từ năm 2003 đến nay, khi lựa chọn mốc danh xưng Nghệ An chưa có ý kiến khoa học nào đủ thuyết phục để thay đổi

Upload     Theo quan điểm của tôi, mốc lịch sử danh xưng Nghệ An chính là năm 1030 và chúng ta không nên bàn thêm về vấn đề này vì: Thứ nhất về tư liệu, trong 2 bộ chính sử Ngô Sỹ Liên với các sứ thần và Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn, Dư địa chí của Nguyễn Trãi; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch đều nói về năm 1030. Thứ hai, khi lựa chọn mốc năm danh xưng, các nhà nghiên cứu lịch sử “cây đa cây đề” đã tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và từ năm 2003 đến nay, khi lựa chọn mốc danh xưng đó chưa có ý kiến khoa học nào đủ thuyết phục để thay đổi.

Khi đánh giá về vai trò đối với sự hình thành và phát triển của Nghệ An thì không nên chỉ nói về 1 ông vua là Lý Thái Tông mà nên gắn với cả vương triều nhà Lý trong đó nhấn mạnh 3 nhân vật: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông với hệ thống vương công quý tộc.

Đánh giá vai trò và vị thế của Uy minh vương Lý Nhật Quang nên có cái nhìn trên một phạm vi rộng: thứ nhất, đối với đất nước, cụ thể ở đây là việc yên dân cả một vùng bờ cõi từ Nam Thanh Hóa vào tận Quảng Bình; thứ hai là góp phần lớn trong việc ổn định quan hệ hữu nghị giữa Đại Cồ Việt, Đại Việt với nước Chiêm Thành. Còn những uẩn khúc về nhân vật này thì hi vọng quá trình nghiên cứu sẽ có những tư liệu làm sáng tỏ như: Tại sao năm 1056 vương triều nhà Lý lại không trọng dụng Lý Nhật Quang? Bí mật về cái chết đầy uẩn khúc của ông?

 PGS. TS Trần Viết Thụ - Hội Khoa học Lịch sử Nghệ An:

Nhà Lý luôn có sự “ưu ái” đối với vùng đất Nghệ An

Upload    Lý giải vì sao nhà Lý lại có sự quan tâm “ưu ái” đối với vùng đất Nghệ An? Đối với điều này chúng ta cần phải nhìn một cách toàn diện, đứng vào thời điểm lịch sử lúc bấy giờ để nhìn nhận.

Có 3 lý do: Thứ nhất là xuất phát từ nhu cầu của triều đại nhà Lý, đó là muốn xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền quân chủ tập trung theo mô hình của nhà Tống Trung Quốc. Đây là xu hướng tiền Lê và đến thời Lý, Trần đang xây dựng nhà nước quân chủ theo mô hình này. Trong khi đó những yếu tố cát cứ, những yếu tố phân quyền, li tâm hết sức đậm nét. Và mãi đến sau này thời nhà Trần vẫn còn.

Thứ 2 là chính sách an dân của triều đại nhà Lý, chính sách an dân kéo dài đến sau này, đậm nhất là ở hai triều đại Lý, Trần. Nhà Lý rất quan tâm đặc biệt vùng biên viễn, nhờ nó mà thu phục lòng dân, giữ yên biên cương. Vì theo sử sách ghi chép, những vùng biên viễn thường xảy ra nổi loạn, thậm chí trong 20 năm đầu xảy ra 3 cuộc nổi loạn lớn, thậm chí vua phải đứng ra đánh dẹp dân, cho nên chính sách an dân vùng biên viễn được chú trọng hàng đầu.

Thứ 3, vị trí địa chiến lược của vùng đất, Nghệ An là mảnh đất biên viễn, tuy là châu trại nhưng hết sức quan trọng trong việc giữ yên biên cương phía Nam tổ quốc, cho nên vì thế mà nhà Lý đặc biệt ưu ái đến vùng đất này.

 Ông Đào Tam Tỉnh - Nguyên GĐ Thư viện tỉnh Nghệ An:

Theo tôi, lấy năm 1030 làm năm danh xưng Nghệ An là phù hợp

Upload     Trước hết giải nghĩa từ Nghệ An: chữ Nghệ theo Từ điển Hán Việt có 2 nghĩa: 1. là trị được dân yên; 2. tài giỏi. An là yên, bình an; nghĩa 2 là an cư lạc nghiệp.

Theo Hán Việt từ điển Đào Duy Anh thì Nghệ là sửa trị, người hiền tài; An là êm đềm, trái với nguy. Từ đó chúng ta tạm hiểu, Nghệ An có nghĩa là tổ chức việc cai quản cho tốt, làm cho dân được yên, lạc nghiệp trên vùng đất này.

Từ tư tưởng đó cho nên vua Lý Thái Tông đã cho đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An. Chắc chắn cả giai đoạn đó, triều đình cũng như các quan thần đều mong muốn là làm thế nào cho vùng này yên bình, phát triển thịnh trị. Mốc danh xưng năm 1030 theo tôi được chọn bởi dựa vào 3 tài liệu quan trọng: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn. Cả 3 tư liệu này đều nằm trong kho tư liệu triều đình, và cả 3 tác giả này đều là người xứ Nghệ, thì chắc chắn khi nghiên cứu danh xưng Nghệ An đều khảo cứu rất kỹ, và việc lựa chọn năm danh xưng của những giáo sư đầu ngành chắc theo căn cứ như vậy. Do đó, lấy năm 1030 làm năm danh xưng Nghệ An là phù hợp.

Ý tưởng triều Lý rất lớn nhằm xây dựng Nghệ An thành đất phồn thịnh có nhiều kho trại của đất nước vì thế đã giao việc cho Lý Nhật Quang và ông có thể thay mặt vua để xử lý tất cả mọi việc, thực hiện ý tưởng của triều đình. Có thể nói ông là vị Tri châu đầu tiên của Nghệ An. Khi được trao tiếp việc ông đã thực hiện được nhiều chính sách hiệu quả như: Tổ chức khai hoang xây dựng nhiều làng ấp; Xây dựng nhiều kho trại từ Thanh Hóa đến Đèo Ngang tức là quản lý cả Châu Hoan, Châu Diễn; cho đắp đê sông Lam để bảo vệ mùa màng; Tổ chức tế giao - lập đàn tế trời đất ở Nghi Công, Nghi Lộc dưới chân núi phía Bắc Đại Tuệ.

Rõ ràng triều Lý rất quan tâm vùng đất Nghệ An và đã đổi tên cho vùng đất này là Nghệ An vào năm 1030, đồng thời tổ chức giao cho hoàng thân quốc thích cai trị tổ chức quản lý vùng đất này để yên dân.

 Ông Trần Mạnh Cường - Thư viện tỉnh Nghệ An:

Nghệ An ra đời năm Thông Thụy thứ 3 - 1036 theo Đại Việt sử ký toàn thư chứ không phải Thiên Thành thứ 3 tức là năm 1030

Upload    Một số ý kiến cho rằng việc lựa chọn năm 1030 theo các tài liệu Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch. Trước hết nói về tác giả Phan Huy Chú với 2 tác phẩm đó là Lịch triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt dư địa chí, tuy rằng cùng 1 tác giả nhưng trong hai cuốn sách tác giả lại chép năm ra đời danh xưng Nghệ An khác nhau, đó là trong Hoàng Việt dư địa chí tác giả ghi Hoan Châu đổi thành Nghệ An năm 1030, nhưng trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí lại ghi sự việc đó được diễn ra vào năm 1033. Do đó trong bản thân 1 tác giả việc ghi chép sự kiện đã không thống nhất.

Điều nữa là cuốn Nghệ An ký của tác giả Bùi Dương Lịch, đó là cuốn địa chí địa phương thì không có tầm bao quát các sự kiện như Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) bởi ĐVSKTT là cuốn chính sử, quốc sử duy nhất, cổ nhất còn lại của đất nước ta cho đến ngày hôm nay. Tất cả mọi trích dẫn, mọi nghiên cứu về nước ta đều phải trích dẫn từ đó. Ngay ở các quốc gia láng giềng cũng đánh giá cao ĐVSKTT. Chính phủ Nhật Bản khi cho phát hành ĐVSKTT đã khẳng định “Sử An Nam không có sách nào đầy đủ hơn sách này, nên mới có tên gọi là Toàn thư”, hay như Nhà xuất bản Đại học sư phạm Tây Nam xuất bản bộ Đại Việt sử ký toàn thư lưu hành tại Trung Quốc, với lời nhận định “Đại Việt sử ký toàn thư” cùng với “Sử Cao Ly”, “Sử Đại Nhật Bản” là các bộ chính sử văn hiến của các quốc gia láng giềng, là cuốn sách lịch sử tiêu biểu và đầy đủ nhất của lịch sử Việt Nam thời cổ đại… Với vị thế đặc biệt quan trọng như vậy nên các bộ quốc sử chính thống của Việt Nam sau này như Đại Việt sử ký tiền biên (triều Lê - Trịnh), Khâm định Việt sử thông giám cương mục (triều Nguyễn) đều được biên soạn dựa trên cơ sở cốt yếu lấy từ Đại Việt sử ký toàn thư; hay như các bộ phương chí khi viết về những sự kiện nhân vật lịch sử địa phương cũng đều dẫn nguồn từ đó. Vì vậy, khi bất cứ thông tin sự kiện nào được viết khác với Đại Việt sử ký toàn thư tất phải có sự giải thích hay kiến giải cụ thể để chứng minh cho sự khác biệt đó.

Ở đây tôi xin nhấn mạnh Nghệ An ra đời năm Thông Thụy thứ 3 - 1036 chứ không phải Thiên Thành thứ 3 tức là năm 1030. Đầu tiên phải nói trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi rõ: (Tháng tư, mùa hè năm Bính Tý thứ 3 [niên hiệu Tống Cảnh Hựu năm thứ 3] đặt Hành doanh ở Hoan Châu, nhân đó mà đổi châu ấy là Nghệ An).

Năm Bính Tý thứ 3, tức niên hiệu Thông Thụy năm thứ 3, Châu Hoan chính thức đổi tên thành Nghệ An. Chính vì vậy, từ đó về sau vùng đất này đều sử dụng tên gọi mới là “Nghệ An” còn tên gọi cũ là Hoan Châu đã không còn được sử dụng. Cụ thể: Năm Đinh Sửu, niên hiệu Thông Thụy năm thứ 4 (1037), xuống chiếu cho châu Nghệ An dựng các kho ở trong châu như Tư Thành, Lợi Nhân, Vĩnh Phong, tất cả 50 sở. Hay năm Tân Tỵ, niên hiệu Càn Phu Hữu Đạo năm thứ 3 (1041), xuống chiếu cho Uy Minh hầu Nhật Quang làm Tri châu Nghệ An. Nếu như năm Thiên Thành thứ 3 (1030), Hoan Châu đổi tên thành Nghệ An như sách Nghệ An ký đã chép, thì tại sao những năm tiếp theo trong bộ chính sử là Đại Việt sử ký toàn thư vẫn sử dụng cái tên Hoan Châu? Cụ thể: Năm Tân Mùi, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 4 (1031) Châu Hoan làm phản, cho Đông cung thái tử làm Giám quốc. Quân đi từ Kinh sư đến châu Hoan, người châu ấy đầu hàng. Xuống chiếu tha tội cho các quan châu huyện, sai Trung sứ phủ dụ dân chúng. Tháng 3, vua từ châu Hoan về đến Kinh. Năm Giáp Tuất, niên hiệu Thiên Thành năm thứ 7 (1034), châu Hoan đem dâng con thú một sừng... Vậy nếu như tên Nghệ An được đổi từ năm 1030, thì tại sao trong vòng 5 năm liên tục chính sử Việt Nam vẫn nhắc vùng đó là Hoan Châu mà không phải Nghệ An, chẳng lẽ bộ sử ký lớn như vậy có giá trị như vậy mà lại sai sót đến 5 năm. Xưa nay chưa ghi nhận một trường hợp nào như vậy cả.

Thứ nữa trong tập "Quan Đông hải" có bài khảo luận rất đặc biệt của tác giả Nguyễn Hành, bài khảo lược riêng về tên gọi Nghệ An, Hoan Châu và Việt Thường. Ở đây đã nhấn mạnh tên gọi Nghệ An: "Theo quốc sử, vào năm Cảnh Thụy thứ 2 đời Lê Ngọa triều, vua thân chinh đi đánh dẹp các châu Hoan Đường, Thạch Hà. Năm Thông Thụy thứ 3 đời Lý Thái Tông mới đổi tên gọi Hoan Châu thành Nghệ An… ".

Qua bài tựa cho sách “Nghệ An phong thổ ký” và bài “Khảo luận về tên gọi Nghệ An, Hoan Châu, Việt Thường”, chúng ta thấy rằng đây đều là những thông tin cực kỳ chi tiết không chỉ về danh xưng mà còn là cương vực, duyên cách của mảnh đất Nghệ An mà tác giả đã dày công khảo luận, sắp xếp sự kiện, đối chiếu rõ ràng. Điều đặc biệt là tác giả Nguyễn Hành ghi rất rõ cho việc khảo luận của mình là “Án quốc sử” nghĩa là: “căn cứ vào quốc sử”.

Qua những cứ liệu trên có thể nói Nghệ An được chính thức đổi tên Hoan Châu thành Nghệ An vào nămThông Thụy 1036, chứ không phải năm 1030.

 Ông Trần Quốc Thành - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ:

Lý Nhật Quang không những là thành hoàng mà còn là tổ phụ của nhiều nghề phụ nông nghiệp ở Nghệ An

Upload     Ở đây tôi chỉ muốn nói đến vai trò của nhà Lý và Lý Nhật Quang đối với sự hình thành và phát triển của Nghệ An. Theo sử sách ghi chép, nhà Lý có ảnh hưởng rất lớn tư tưởng của đạo Phật, thể hiện trong chính sách dựng nước: chính sách khoan nhượng, an dân, cho xây dựng nhiều chùa chiền, đặc biệt là Lý Thái Tông còn cho người xin Kinh Phật về kho lưu trữ của triều đình. Ngay cả chuyện đánh vào Chiêm Thành nhưng chỉ dụ không được đánh chém dân lành. Tôi nghĩ chính đạo Phật là một trong những tác động rất lớn trong tư tưởng trị dân của triều Lý.

Thứ nữa là vai trò nhà Lý đối với sự hình thành và phát triển của Nghệ An, đó không chỉ vấn đề dẹp yên, vấn đề kỷ cương mà cả về chính trị (cai trị), văn hóa (phát triển tâm linh, phát triển văn hóa đền chùa), đặc biệt kinh tế. Có nhận định Lý Nhật Quang không những là thành hoàng mà còn là tổ phụ của nhiều nghề phụ nông nghiệp như: Chăn tằm dệt lụa, rèn, đóng thuyền Nghi Thiết,... Như vậy, ảnh hưởng của ông không chỉ trong vấn đề quân sự mà cả trong vấn đề nông nghiệp, đất đai,… Đó cũng là bài học mà từ xa xưa ông cha ta đã để lại, muốn yên dân thì phải phát triển kinh tế, xã hội.

Lý Nhật Quang cũng là người khởi xướng đắp đê sông Lam, kết nối kênh nhà Lê, và mở một loạt hệ thống giao thông đường thượng đạo đi lên miền Tây ra Thanh Hóa, qua Đèo Ngang, đi Lào, đó là vấn đề đến nay vẫn nguyên giá trị bài học phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ chính sách khai khẩn đất đai, khuyến nông, khuyến thương, mà Nghệ An không chỉ là nơi cung cấp người để đánh giặc mà còn nơi cung cấp kinh tế để chuẩn bị cho các cuộc kháng chiến.

Một bài học nữa của nhà Lý đó là chính sách luân chuyển cán bộ, đưa người tài, người của triều đình về làm tri huyện 16 năm, khi thành công thì mới đưa lên làm tri châu 3 năm. Trong sách “Việt điện u linh” có đoạn viết về Lý Nhật Quang, đại ý: "Lý Bát Lang thân làm con vua, giữ lấy Tiết việt, đương một phương điện, khiến cho nhân dân và mọi rợ đều sợ phục, triều nội xưng khen. Đến lúc đi có sự tình cảm thì níu xe than khóc. Đến lúc chết có cái triệu chứng vâng mệnh lên trời. Lòng dân mến mộ công đức của vương, lập đền thờ phụng, thì ra ân huệ cả người biết là ngần nào".

Qua đó có thể đánh giá, chính sách dựng nước, an dân phát triển kinh tế của đời Lý, đặc biệt là việc đưa người tài có xuất thâ từ vua chúa về cai quản vùng đất biên viễn vốn ngỗ ngược có giá trị đến ngày hôm nay.

 Ông Nguyễn Đức Kiếm - Giám đốc Bảo tàng Nghệ An:

Nếu nói năm danh xưng Nghệ An là 1030, vậy thì từ mấy thế kỷ trước, tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư, một tác phẩm được giới Sử học trong khu vực và Việt Nam xem là một cuốn “sử cái” là sai?

Upload     Tôi đồng tình với một số ý kiến của các đại biểu tham dự buổi tọa đàm hôm nay, về vai trò của nhà Lý và Uy minh vương Lý Nhật Quang đối với Nghệ An. Tuy nhiên, đối với vấn đề năm danh xưng Nghệ An thì đã có nhiều ý kiến thảo luận, thậm chí có ý kiến không nên bàn về vấn đề này nữa vì đã có kết luận giữa các nhà khoa học lịch sử hàng đầu và các nhà quản lý của tỉnh. Nhưng theo tôi nghĩ rằng vấn đề lịch sử không phải là vấn đề có thể kết luận được, mà nó vấn đề mở, nếu chưa xác thực, hoặc còn nghi vấn thì còn cần bàn luận, cần đưa ra những tư liệu xác tín hơn.

Hiện nay chúng ta đang lấy năm 1030 là năm danh xưng Nghệ An, căn cứ vào quyển 1 Dư địa chí của Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, người sinh vào thế kỷ 18-19. Đây là một tác phẩm đồ sộ, có tính chất bách khoa bác học ta không phủ nhận, nhưng không có nghĩa họ hoàn toàn chính xác. Bởi nếu nói danh xưng Nghệ An có từ năm 1030, vậy thì từ mấy thế kỷ trước, tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư mà bản khắc ấn chúng ta phát hiện năm Chính Hòa (1697) và được tất cả các giới sử học trong khu vực và Việt Nam xem là một cuốn “sử cái” là sai? Trong Đại Việt sử ký toàn thư có 3 mốc nói về Nghệ An: 1036 - Lý Thái Tông vi hành về đến Hoan Châu đặt thành Dinh, ngự tại đây, nhân đó đổi Châu Hoan thành Nghệ An. Sau này, khi Phan Huy Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí có sử dụng tư liệu của Đại Việt sử ký toàn thư? Tiếp đến là năm 1039, Lý Nhật Quang được cử vào Nghệ An để thu thuế; năm 1041 được cử vào làm Tri châu Nghệ An. Vậy những mốc mà Đại Việt sử ký toàn thư đưa ra, là cuốn sách lịch sử loại chí đã được viết rõ ràng minh bạch, ghi chép có tính chất biên niên, rất khác với cách viết của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí.

Do đó, theo tôi lịch sử là lịch sử, lịch sử là phi chính trị, không thể áp đặt. Vì vậy cần phải có sự cẩn trọng, chúng ta là những nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà tham mưu nên trong buổi tọa đàm này cần có tiếng nói nào đó. Tôi với tư cách là người làm công tác nghiên cứu vẫn băn khoăn với những ý kiến của lịch sử, với các triều đại lịch sử, với những con người đó, với cách viết đó, với thời cuộc đó, vì thế vấn đề danh xưng vấn có những tồn nghi.

 Ông Nguyễn Xuân Thủy - Sở Văn hóa và Thể thao:

Nên chăng có chủ trương bảo tồn và phát huy giá trị về nhà Lý và Lý Nhật Quang tại Nghệ An?

Upload    Về vấn đề năm danh xưng Nghệ An, vì sao tỉnh lựa chọn năm 1030 vì chúng ta có nhiều tư liệu nói về sự kiện này. Khi Sở Văn hóa và Thể thao trình chương trình sự kiện kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã lật lại vấn đề là tại sao lại chọn năm này? Sở Văn hóa Thể thao cũng đã tham mưu với Tỉnh ủy, thành lập tổ tư vấn và xin ý kiến nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học,... và cuối cùng Thường vụ đã thông qua phương án này. Nói như thế để thấy, việc lựa chọn năm danh xưng Nghệ An cũng đã được Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các ban ngành liên quan đã hết sức thận trọng.

Chỉ có một điều chúng ta cần tìm hiểu và bổ sung hiện nay chính là về vai trò vị trí của Uy minh vương Lý Nhật Quang trong sự hình thành và phát triển Nghệ An. Do lịch sử đã lùi xa, các tư liệu về Lý Nhật Quang cũng như triều đình nhà Lý đối với Nghệ An chưa khai thác được gì nhiều. Do đó về mặt học thuật cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm, theo đó chúng ta hiện nay cần tổng hợp, hệ thống hóa lại những kết quả nghiên cứu có được từ trước đến nay để đưa ra những nhận định chính xác, khoa học, khái quát nhất về: vai trò của Lý Nhật Quang đối với sự phát triển Phật giáo ở Nghệ An - một mảng chưa được nghiên cứu nhiều; Đánh giá đầy đủ các chính sách của Lý Nhật Quang trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, nuôi dưỡng sức dân, thu thuế,… ; Làm rõ nhân cách, tài trí, đức độ của Tri châu Lý Nhật Quang - Một người có sức cảm hóa rất mạnh, rất kỳ lạ.

Từ đó tôi nghĩ: Nên chăng có chủ trương về bảo tồn và phát huy giá trị về nhà Lý và Lý Nhật Quang tại Nghệ An. Cả nước hiện có 95 nơi thờ cúng Lý Nhật Quang, riêng Nghệ An có hơn 40 đền thờ. Tuy nhiên chỉ có một số đền được duy trì, một số đền đã trở thành phế tích. Nên chăng Nghệ An cần có nơi để tôn vinh, tưởng niệm Lý Nhật Quang do thế hệ ngày nay xây dựng nên? Hai nữa, đối với kịch bản 990 danh xưng Nghệ An, cần đưa hình tượng về Lý Nhật Quang vào các tác phẩm nghệ thuật để phục vụ tuyên truyền, giáo dục truyền thống.

 Ông Trần Trung Hiếu - GV dạy Lịch sử, Trường THPT chuyên Phan Bội Châu:

Mộc bản triều Nguyễn thì lại ghi năm danh xưng Nghệ An là 1029 (năm Thiên Thành thứ hai cho đổi thành Nghệ An)

Upload    Ở đây tôi chỉ phát biểu trong phạm vi là nghiên cứu danh xưng Nghệ An được khắc trong Mộc bản triều Nguyễn mà năm 2009 đã được Unesco công nhận là di sản tư liệu thế giới. Về mốc thời gian được lấy là năm ra đời danh xưng Nghệ An 1030 thì đã có sự thống nhất của tỉnh Nghệ An, chúng ta không nên bàn cãi về vấn đề này nữa; tuy nhiên, xét về góc độ khoa học chúng ta nên cởi mở trao đổi để rộng đường dư luận, vẫn có thể tiếp tục đăng các bài khảo cứu của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trên các tạp chí khoa học để có cách nhìn tổng thể hơn về Nghệ An và danh xưng Nghệ An.

Trong quá trình khảo cứu Mộc bản triều Nguyễn, tôi thấy có một mốc thời gian được ghi trong Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch về danh xưng Nghệ An là 1030 và có cả một số tài liệu khác. Còn trong Mộc bản triều Nguyễn thì lại ghi là năm 1029 (năm Thiên Thành thứ hai cho đổi thành Nghệ An). Vì thế chúng ta không nên khẳng định là năm nào là đúng, là chính xác? Chúng ta cần tập hợp các tư liệu để có một tài liệu tham khảo cho cho lãnh đạo tỉnh, cho các hoạt động nghiên cứu khoa học khác sau này.

Liên quan đến vấn đề danh xưng Nghệ An thì sắp tới trong Lễ kỷ niệm 990 năm, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 4 sẽ phối hợp với Nghệ An tổ chức trưng bày chuyên đề: Nghệ An - đi tìm cội nguồn qua Mộc bản triều Nguyễn, sẽ trưng bày các mộc bản triều Nguyễn có liên quan đến năm danh xưng Nghệ An. Dựa vào những tài liệu này chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn, khách quan hơn, sát thực hơn về năm danh xưng Nghệ An.

 Ông Trần Văn Hữu - Ban Quản lý Di tích:

Cần tìm hiểu Nghệ An ra đời khi nào với tư cách là đơn vị hành chính đầu tiên

Upload     Theo tôi chúng ta không nên chỉ đóng khung năm ra đời là 1030 hay 1036 mà vấn đề là chúng ta cần phải đi sâu tìm kiếm, tiếp cận thêm nhiều tài liệu nữa, có thể là những tài liệu, sử liệu ở nước ngoài như sử liệu của Trung Quốc, Nhật Bản, hay Cao Ly (Hàn Quốc). Những cuốn sách lịch sử đều được viết lại sau một thời gian khá lâu sau đó, vì thế có thể tên Nghệ An đã xuất hiện nhưng chưa được phổ biến rộng rãi trong các văn bản hành chính, cho nên tên gọi này có thể vẫn được gọi theo thói quen cũ.

Vấn đề là chúng ta cần xác định chính xác là thời điểm nào xuất hiện tên Nghệ An, tìm hiểu Nghệ An ra đời khi nào với tư cách là đơn vị hành chính đầu tiên còn cách gọi châu hay trại đều không quan trọng.

 Ông Nguyễn Quốc Hồng:

Kết luận

1.  Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Nghệ là sửa trị, An là yên bình: Tổ chức cai trị tốt để nhân dân được sống yên bình.

Việc đổi tên gọi từ Hoan Châu thành Nghệ An châu trại có ý nghĩa cai trị tốt để dân sống bình an; quan trọng là trị an, yên ổn để cai trị bình an. Hoan Châu thời kỳ đó là một cùng đất nghèo nàn, nhiều biến loạn, bởi vậy mong ước của nhà Lý mà cụ thể là vua Lý Thái Tông muốn vùng đất biên viễn này được phồn thịnh về kinh tế, ổn định về xã hội làm chỗ dựa cho triệu đại nhà Lý.

Vua Lý Thái Tông đã đưa Lý Nhật Quang về cai trị Nghệ An và trở thành người có công rất lớn đối với Nghệ An. Từ một người giữ chức thu thuế (1039) đến 1041 bổ nhiệm làm tri châu Nghệ An, từ một tước hầu được ban quyền “tiết việt” rồi được phong tước Vương (Uy minh vương),... Tất cả chứng tỏ tầm nhìn của vua Lý Thái Tông và tài ba, năng lực của Lý  Nhật Quang.

2. Vai trò của của Lý Nhật Quang đối với Nghệ An:

- Trước hết là lập lại trật tự kỷ cương phép nước và thực hiện quản lý bộ máy chính thức bằng bộ luật Hình thư, lần đầu tiên áp dụng ở Nghệ An được thực hiện rất chỉnh chu. Chỉ trong thời gian rất ngắn Lý Nhật Quang đã lập lại được trật tự kỷ cương ở vùng đất Nghệ An.

- Về phát triển kinh tế trên 3 lĩnh vực: thứ nhất về nông nghiệp thì ngoài khai hoang phát triển mở rộng đất đai như khai quang lập ấp ở Khe Bố - Con Cuông, Tương Dương, Yên Thành,… thì Lý Nhật Quang còn phát triển một số nghề mới như nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa… tạo ra hoạt động rất phong phú trong lĩnh vực này. Ông là người đầu tiên cho dân thực hiện đắp đê sông Lam, nạo vét sông Đa Cái (Hưng Chính, Hưng Nguyên). Về thủ công nghiệp: hướng đến phát triển nghề thủ công vừa phục vụ cho đời sống dân sinh vừa phục vụ quốc phòng như nghề khai mỏ, luyện kim, rèn, mộc, đóng thuyền,… Về thương nghiệp: Đã mở nhiều chợ trong tỉnh, trên bến sông, cửa biển; quan trọng nhất là dùng hai loại tiền để lưu hành (Trần Phủ Nguyên Bảo và Minh Đạo Thông Bảo được đúc thời đó) được sử dụng rộng rãi trong hoạt động thương nghiệp trên địa bàn Nghệ An.

- Về giao thông: Khai mở hai con đường thượng đạo: từ Đô Lương đến Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương; Kỳ Sơn đến giáp Lào và con đường thứ hai là từ Đô Lương đến Thái Hòa (Nghĩa Đàn) nối đường Nghĩa Đàn ra Thanh Hóa ra Hoa Lư, Thăng Long. Ông còn cho dân mở thêm tuyến Đô Lương vào Đèo Ngang.

Về quân sự, Lý Nhật Quang đã trở thành vị tướng rất có tầm nhìn và giúp cho triều đình trong các trận chiến, đặc biệt là đánh giặc Ai Lao, ổn định được vùng này.

- Về văn hóa giáo dục: triều đại Lý, Phật giáo trở thành quốc đạo, bản thân Lý Nhật Quang là phật tử nên ông rất chăm lo việc này, chăm lo xây dựng chùa chiền tạo điều kiện cho dân đến cúng bái, chỉ tính riêng lỵ Bạch Đường đã có 8 ngôi chùa lớn nhỏ khác nhau do Lý Nhật Quang xây dựng. Tạo ra đời sống văn hóa tâm linh ổn định của người dân Nghệ An thời kỳ đó.

Giáo dục: trong quá trình làm tri châu, Lý Nhật Quang chủ trương xây nhiều trường học. Giai đoạn ông nhậm chức, nhiều người Nghệ An được tham gia học mặc dù lúc đó triều đình chưa có khoa cử.

Có thể nói, trong 16 năm từ một quan thu thuế đến tri châu, Lý Nhật Quang đã ra sức xây dựng, dìu dắt nhân dân Nghệ An xây dựng từ một vùng đất nghèo nàn, nhiều biến loạn trở thành một châu phồn thịnh về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục,... đã làm chỗ dựa cho các triều đại phong kiến của quốc gia Đại Cồ Việt, Đại Việt trong lịch sử. Sau khi ông mất vị thế và tầm ảnh hưởng của Lý Nhật Quang in đậm trong đời sống tâm linh của nhân dân xứ Nghệ và cả nước đến tận ngày nay.

3. Về năm danh xưng: kết luận khoa học của cuộc Tọa đàm xác định mốc lịch sử có tên gọi Nghệ An tại Hà Nội ngày 11/1/2003 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học và lãnh đạo tỉnh, đề xuất chọn 1 trong 2 thời điểm 1030 và 1036 làm mốc ra đời tên gọi Nghệ An. Sau khi có nhiều ý kiến tranh luận, tại cuộc tọa đàm này chúng tôi vẫn tôn trọng các ý kiến của các đồng chí và để rộng đường trao đổi thêm đề nghị các đồng chí có những bài viết sâu hơn về quan điểm của mình để đăng trên các báo khoa học khác, còn tại cuộc Tọa đàm này, chúng tôi chưa đủ cơ sở để kết luận.

TÒA SOẠN

Diễn đàn khác:
Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ? (8/5/2020)
50 năm thực hiện mong muốn của Bác Hồ “… Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” (8/5/2020)
Tiếp cận đại dịch Covid - 19 dưới góc nhìn xã hội học (7/5/2020)
Vang mãi khúc ca toàn thắng Bài 1: Cuộc đối đầu lịch sử (29/4/2020)
Thời Covid-19, tính linh hoạt của con người và biết đâu điều khả dĩ (22/4/2020)
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An (16/4/2020)
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang (16/4/2020)
Về mốc ra đời và kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An (1030 - 2020) (16/4/2020)
Lịch sử tên gọi "Nghệ An" trong di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (16/4/2020)
Chữ Việt Nam song song 4.0: Không có cơ sở khoa học và không nên phổ biến (8/4/2020)
Nỗi sợ corona virus làm tăng nhanh những lo ngại về kinh tế (24/3/2020)
Một số ý kiến góp ý về quá trình soạn thảo dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trình Đại hội Đảng các cấp (2/3/2020)
Những tranh luận xung quanh bài ca dao: “Tát nước đầu đình” (10/2/2020)
Những cuộc tranh luận xung quanh câu chuyện dân gian con cá gỗ của ông đồ xứ Nghệ (7/2/2020)
Múa trống đồng “Lệnh ông không bằng cồng bà” (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 9 | Tất cả: 2,272,505
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp