DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Về mốc ra đời và kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An (1030 - 2020)
Tin đăng ngày: 16/4/2020 - Xem: 81
 

Đào Tam Tỉnh

Upload

Ảnh: Sách Nguyễn

Năm 2005, tỉnh Nghệ An cũng  phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "975 năm danh xưng Nghệ An" do Giáo sư Phan Huy Lê chủ trì. Hội thảo đã nhất trí chọn năm 1030 làm mốc ra đời sớm nhất danh xưng Nghệ An. Năm 2020 là 990 năm danh xưng Nghệ An. Để làm rõ về năm danh xưng Nghệ An trong lịch sử dân tộc, chúng tôi xin cung cấp các tài liệu ghi chép liên quan và lý giải việc tại sao chọn năm 1030 làm mốc danh xưng Nghệ An.

Trước hết chúng ta nghiên cứu về gốc chữ Nghệ An có từ chữ Hán:

乂 Nghệ: Theo Hán Việt từ điển(1) của Thiều Chỉu, Nghệ: 1, Trị, cai trị được dân yên gọi là Nghệ; 2, Tài giỏi.

安 An: 1, Yên, bình an; 2, Định, không miễn cưỡng gì (như An cư lạc nghiệp); 3, Làm yên, như An phủ (Phủ dụ cho yên); 4, Tiếng giúp cho lời, như sao vậy!

Theo Giản yếu Hán Việt từ điển(2) của Đào Duy Anh: 1, Nghệ: Sửa trị, người hiền tài. 2, An: Êm đềm, trái với nguy.

乂安 Nghệ An: Một tỉnh ở phía Bắc Trung kỳ.

Vậy, có thể hiểu, Nghệ An là cai trị (tổ chức cai quản thật tốt) và làm cho dân được an cư lạc nghiệp ở trên vùng đất Nghệ An.

Mốc ra đời danh xưng Nghệ An được thấy trong các bộ chính sử dân tộc và các sách lịch sử do các nhà sử học nổi tiếng biên soạn. Tiêu biểu là các sách:

1. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản in Nội các quan bản - Mộc bản khắc in năm Chính Hòa thứ 18 (1697). T.1/ Giới thiệu: Nguyễn Khánh Toàn; Khảo tác giả, văn bản, tác phẩm: Phan Huy Lê; Dịch, chú thích: Ngô Đức Thọ; Hiệu đính: Hà Văn Tấn.- H., Khoa học Xã hội, 1998.- Tr. 258 có ghi:

Bính Tý, [Thông Thụy] năm thứ 3 [1036]…

Mùa hạ, tháng 4, đặt Hành dinh ở Châu Hoan, nhân đó đổi tên châu ấy là Nghệ An.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí. T.1/ Tổng tài: Cao Xuân Dục; Toản tu: Lưu Đức Xứng, Trần Xán. H., Lao động - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2012.- Tr. 768 ghi:

Năm Thiên Thành thứ 3 đời Lí Thái Tông (1030), mới đổi Châu Hoan thành Nghệ An (tên Nghệ An bắt đầu có từ đây).

3. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký. Quyển I và II/ Dịch và chú: Nguyễn Thị Thảo; Hiệu đính: Bạch Hào.- H., KHXH, 2004. Tr. 52 ghi:

Năm Thiên Thành thứ 3 [1030], Lý Thái Tông đổi Hoan Châu làm Nghệ An.

4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. T.1/ Viện Sử học.- H., Giáo dục, 2007. Tr. 72 ghi:

Buổi đầu, nhà Lý đổi Hoan Châu làm trại; đời Thái Tông, năm Thiên Thành thứ 3 (1030), đổi gọi là Nghệ An.

Qua 4 bộ sách lịch sử có giá trị, uy tín, được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử sử dụng thường xuyên và thường trích dẫn cho các công trình về sau thì có một bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư là ghi mốc danh xưng Nghệ An vào năm Thông Thụy thứ 3 (1036), còn lại 3 bộ sử: Đại Nam nhất thống chí; Lịch triều hiến chương loại chí và Nghệ An ký đều ghi mốc là năm Thiên Thành thứ 3 (1030). Vậy, ta nên lấy mốc danh xưng Nghệ An vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030) với các lí do như sau:

Một: Mốc danh xưng Nghệ An vào năm Thiên Thành thứ 3 là sớm nhất và rất đáng tin cậy, vì được ghi lại trong các bộ sử và sách địa chí quý hiếm của nước ta, được viết bởi các nhà sử học nổi tiếng, trong đó có Cao Xuân Dục giữ trọng trách lớn nhất Quốc sử quán và cả 3 tác gia lại là người xứ Nghệ:

1. Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn do Cao Xuân Dục làm Tổng tài (Chủ biên). Cao Xuân Dục (1842-1923), tự Tử Phát, hiệu Long Cương, quê ở làng Thịnh Mỹ, tổng Cao Xá, huyện Đông Thành, nay thuộc xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông thi đậu Cử nhân khoa Bính Tý - Tự Đức 29 (1876), làm quan đến các chức: Hàn lâm viện Biên tu, Hồng lô tự Thiếu khanh, Biện lý bộ Hình, Án sát và Bố chánh Hà Nội, Thị lang, sung Hải phòng sứ tỉnh Hải Dương. Tại đây, do bất đồng ý kiến dẫn tới việc xô xát với viên Công sứ Pháp, ông bị giáng một cấp, nhưng vẫn giữ chức cũ. Năm 1889, ông làm Tán lý quân vụ Tuần phủ Hưng Yên, thăng Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên, tước An Xuân Nam. Năm 1894, ông được cử làm Chánh chủ khảo trường thi Hương Hà Nam, Thự Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Tổng tài Quốc sử quán. Năm 1901, được cử làm Chánh chủ khảo khoa thi Hội ở Huế, rồi làm quyền quản Quốc Tử Giám. Tháng 11 năm 1907, ông được thăng Thượng thư bộ Học, sung Phụ chính Đại thần. Năm 1908 - 1909 được phong hàm Thái tử Thiếu bảo, tước An Xuân tử. Năm 1913, Cao Xuân Dục xin về hưu và được ban hàm Đông các Đại học sĩ. Ông là tác gia lớn của đất nước với nhiều công trình chủ biên, biên soạn và sáng tác thơ, văn: Quốc triều tiền biên toát yếu, Đại Nam thực lục (Đệ ngũ kỷ và Đệ lục ký), Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam dư địa chí ước biên thông quốc thổ sản, Viêm giao trung cổ ký, Đại Nam quốc sử quán tàng thư mục, Quốc triều luật lệ toát yếu, Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập, Quốc triều Hương khoa lục, Quốc triều khoa bảng lục, Khâm định nhân sự kim giám, Luận thể tân tuyển

Nhà Hán học, Thư mục học Trần Văn Giáp có viết về Cao Xuân Dục:

Cao Xuân Dục… trong khi làm quan đầu Sử quán, thu tập được nhiều sách cổ Việt Nam và trứ thuật biên soạn được nhiều sách. Tương truyền ông là người ham thích sách cổ, nhất là sách Việt, khi đã về hưu, để đề phòng thất lạc, ông thu thập nhiều sách cổ, mỗi bộ thuê người chép làm năm bản, giao cho mỗi con cháu giữ một bản, bảo tồn cho sau này. Nhờ đó một số lớn sách Việt sử của Thư viện Long Cương còn đến ngày nay, giúp ích nhiều cho việc nghiên cứu(3).

2. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Phan Huy Chú (1782-1840), quê xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, nay là xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, con của Phan Huy Ích, cháu Phan Huy Ôn. Ông đậu Tú tài 2 khoa, làm quan Biên tu ở Viện Hàn lâm, Phủ thừa Thừa Thiên, thăng Hiệp trấn Quảng Nam, 2 lần Phó sứ sang Trung Quốc, lần thứ 2 về bị cách, rồi đi sứ Batavia, về làm Tư vụ bộ Công. Ông bị bệnh, xin về hưu, dạy học ở Thanh Mai, Sơn Tây. Ông được tôn vinh như một nhà bác học của Việt Nam, tác gia của nhiều bộ sách: Hoàng Việt dư địa chí, Mai Phong du Tây thành dã lục, Hoa Thiều ngâm lục, Bình định qui trang, Hoa trình tục ngâm, Lịch đại điển yếu thông luận, Hải trình chí lược, Dương trình ký kiến, Điều trần tự sự tấu sớ

3. Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch. Bùi Dương Lịch (1758 - 1827), tự là Tồn Trai, Tôn Thành, hiệu Ốc Lậu, Thạch Phủ, người làng Yên Đồng, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Đậu Tiến sĩ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) năm 1787. Làm quan Nội hàn viên cung phụng sứ ngoại lang triều Lê. Đến triều Tây Sơn, năm 1790, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm ở Sùng chính Thư viện do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng. Đến triều Nguyễn, vua Gia Long triệu ra là Đốc học Nghệ An. Năm 1813, cáo quan về nhà dạy học và viết sách. Tác phẩm: Bùi gia huấn hài, Nghệ An ký, Nghệ An phong thổ thoại, Lê quí dật sử, Ốc lậu thoại, Yên Hội thôn chí, Thanh Chương huyện chí,…

Ba nhà sử học trên đều là những tác gia lớn, từng trực tiếp làm việc tại các kho sách lưu trữ - thư viện của triều đình, từng đọc và tham khảo các tài liệu quý hiếm, nên đã chọn thời gian mốc danh xưng Nghệ An vào năm Thiên Thành thứ 3 (1030) ghi vào các bộ sử sách của nước nhà.

 Hai: Mốc ghi trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, với thông tin: Bính Tý, [Thông Thụy] năm thứ 3 [1036]… Mùa hạ, tháng 4, đặt Hành dinh ở Châu Hoan, nhân đó đổi tên châu ấy là Nghệ An. Năm này, triều Lý, sau khi đã bình định yên được nạn loạn phỉ cướp phá ở Châu Hoan - Châu Diễn, cho xây dựng các dinh trại, trong đó có (Hành tại) nơi để vua nghỉ lại mỗi khi kinh lý vào Nghệ An, nên nhân đó công bố cho đổi Châu Hoan thành Nghệ An. Điều đó cho thấy, từ năm Thiên Thành thứ 3 (1030) triều đình đã đặt tên mới cho Châu Hoan là Nghệ An, nhưng Châu Hoan lúc đó chưa có trung tâm lị sở chính thức của triều đình đặt tại đây để trực tiếp quản lý. Châu Hoan và Châu Diễn vốn là vùng đất biên trấn, biên viễn xa Kinh đô Thăng Long, đường sá đi lại trắc trở, việc cai quản khó khăn, nên thường bị nạn thổ phỉ nổi loạn cướp phá, lại giặc giã nhiều lần xâm lấn từ cả phương Tây và phương Nam. Các triều đại, nhất là thời kỳ chế độ độc lập tự chủ phong kiến nước ta đã coi vùng đất này rất quan trọng, nên thường xuyên quan tâm việc cử các quan lại và tướng soái, hoàng thân quốc thích đến trấn nhậm ở đây để bảo vệ, xây dựng thành trấn vững mạnh, phát triển, đủ sức chống nội loạn và giặc ngoại xâm. Thời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành đã trực tiếp chỉ huy việc đào Kênh nhà Lê tại Nghệ An để khai thông đường thủy, nối kinh đô Hoa Lư đến tận Đèo Ngang với mục tiêu có thể nhanh chóng đưa lực lượng vào trấn áp giặc, phỉ, bảo vệ vững chắc Châu Hoan, Châu Diễn. Triều Lý, Lý Công Uẩn (974-1028), sau khi lên ngôi đã cho đổi 10 đạo cả nước thành 24 lộ, Châu Hoan, Châu Ái làm trại. Kể từ đây nhiều đời vua phong kiến đã trực tiếp đi thị sát vùng đất này, chỉ huy việc dẹp giặc phỉ và cử người hiền tài, tướng giỏi đến đây để bảo vệ vững chắc biên giới và tổ chức di dân đến khai hoang, giữ yên ổn đời sống nhân dân, xây dựng nhiều kho trại, căn cứ, mở mang bờ cõi, giang sơn đất nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Năm Thuận Thiên thứ 3 (1012), vua thân đi đánh Diễn Châu… Năm Thuận Thiên 16 (1025), xuống chiếu lập trại Định Phiên ở địa giới phía Nam Châu Hoan, cho quản giáp Lý Thai Giai làm Trại chủ… Vua Lý Thái Tông (1000-1054), năm Thiên Thành thứ 4 (1031), tháng 2, ngày mồng 1, vua thân đi đánh Châu Hoan, cho Đông cung Thái tử làm Giám quốc. Quân đi từ Kinh sư đến Châu Hoan, người châu ấy đầu hàng. Xuống chiếu tha tội cho các quan châu huyện, sai Trung sứ phủ dụ dân chúng… Tháng 3, vua từ Châu Hoan về đến Kinh. Sau khi vua cho xây dựng dinh trại, chính thức gọi Châu Hoan là Nghệ An, thì xuống chiếu cho châu Nghệ An dựng các kho ở trong Châu như Tư Thành, Lợi Nhân, Vĩnh Phong, tất cả 50 sở. Đến năm Càn Phù Hữu Đạo thứ 3 (1041), tháng 11, xuống chiếu cho Uy Minh hầu Nhật Quang làm Tri châu Nghệ An. Uy Minh hầu Lý Nhật Quang là con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn). Đến năm Minh Đạo thứ 3 (1044), tháng 8, đem quân về. Đến Hành dinh Nghệ An, gọi Uy Minh hầu Nhật Quang đến úy lạo rồi trao cho Tiết việt trấn thủ châu ấy, gia phong tước Vương. Trước đây, vua ủy cho Uy Minh thu tô hàng năm ở Nghệ An và sai lập trại Bà Hòa khiến cho trấn ấy được vững chắc, lại đặt điếm canh các nơi cất chứa lương thực đầy đủ, cái gì cũng vừa ý vua, cho nên được tước phong như thế. Như vậy là Tri châu Nghệ An Uy Minh Vương Nhật Quang đã được vua trao cho quyền lớn, có thể tự quyết mọi việc như vua, nhằm cai quản được tốt nhất vùng đất này. Lý Nhật Quang (988 - 1060) là một nhà chính trị, danh tướng, danh thần có tài kinh bang tế thế tiêu biểu đời Lý, được nhiều tài liệu sử sách và truyền thuyết dân gian ghi chép, lưu truyền lại cho đến ngày nay. Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam/ Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu Quýnh (Chủ biên) có ghi về Lý Nhật Quang:

Mùa xuân năm 1044, vua Lý đem quân đi đánh Chăm Pa, khi qua Nghệ An ông cho người chở quân lương theo đầy đủ. Tháng 9 năm đó, khi chiến thắng trở về, vua triệu ông đến hành doanh khen ngợi, trao cho tiết việt trấn thủ Nghệ An và thăng lên tước Vương. Những năm sau đó, ông ra sức phát triển kinh tế trong châu. Ông là nhà khai hoang nổi tiếng đầu tiên của đất nước ta. Theo sử cũ, ông đã mở thêm được 5 châu 22 trại, 56 sách(4).

Theo các tài liệu lịch sử và dân gian, Uy Minh Vương Nhật Quang đã có nhiều công lao cho đất Nghệ An, như mở đường Thượng đạo lên miền Tây và ra Thanh Hóa, cho đắp đê sông Lam (nay gọi là đê 42), tổ chức khai hoang lập ra hàng trăm làng, xã và trang trại, kho tàng, căn cứ. Do đó, ông được nhân dân xứ Nghệ thờ làm Thành Hoàng ở trên 70 làng, xã.

Qua các sự kiện lịch sử trên, vùng đất Châu Hoan, Châu Diễn thật sự quan trọng cho chiến lược bảo vệ vững chắc biên cương và phát triển đất nước về phương Nam, nên đã có việc cần đổi tên trấn, châu này thành Nghệ An năm Thiên Thành thứ 3 (1030), sau đó mới công bố chính thức vào năm 1036 vào dịp xây dựng dinh phủ. Trong lịch sử dân tộc đã từng có những sự kiện tương tự, như việc đổi tên nước Việt Nam thành Đại Nam vào triều Nguyễn và được ghi trong cuốn sử Quốc sử di biên của Thám hoa Phan Thúc Trực(5). Sách ghi:

Năm Mậu Tuất [niên hiệu Minh Mạng] thứ 19 [1838]… Tháng 3, ngày mồng 2, bắt đầu đổi tên nước Đại Nam… Thay đổi quốc hiệu là Đại Nam, bắt đầu tính từ năm [Minh Mạng] thứ 20 [1839]. Hoặc gọi là nước Đại Việt Nam quốc cũng được.

Như vậy là khi công bố chính thức đổi tên nước bắt đầu tính từ năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thì trước đó, triều đình đã thống nhất việc đổi và đặt tên nước Đại Nam vào năm Minh Mạng 19 (1838). Những việc quan trọng như vậy rõ ràng đã có sự bàn bạc, thảo luận và thống nhất đổi đặt tên nước, tên trấn, châu là phải có trước khi ra công bố chính thức. Việc đổi tên Châu Hoan thành Nghệ An cũng sẽ như vậy, phải có từ trước (năm 1030), rồi sau đó vào năm 1036 mới công bố chính thức.

Rõ ràng, kể từ khi Châu Hoan, Châu Diễn được đặt tên là Nghệ An (1030) thì mảnh đất này luôn được nhà nước tập trung đầu tư cai quản tốt, mở mang phát triển kinh tế, ổn định dân sinh, xây dựng thành một vùng đất giàu mạnh, làm thành căn cứ, bàn đạp đẩy lùi giặc ngoại xâm và tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều đời trong lịch sử thống nhất đất nước thành một cõi như ngày nay. Năm 2020 vừa tròn 990 năm ra đời danh xưng Nghệ An được lãnh đạo tỉnh cho tổ chức kỷ niệm thật ý nghĩa, là dịp để chào mừng Đại hội Đảng các cấp, kỷ niệm 130 năm sinh nhật Bác Hồ, là dịp để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ noi theo tiên tổ, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

 

 Chú thích

  1. Thiều Chỉu, Hán Việt từ điển, HCM, 1993.
  2. Đào Duy Anh, Giản yếu Hán - Việt từ điển, Huế, Tiếng Dân, 1930.
  3. Trần Văn Giáp, Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh - Tìm hiểu kho sách Hán Nôm.- T.1 - 2.-H., KHXH, 2003.- Tr. 504.
  4. Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu Quýnh, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam.- H., Giáo dục, 2006.
  5. Phan Thúc Trực, Quốc sử di biên/ (Thượng - Trung - Hạ)/ Dịch chú: Nguyễn Thị Oanh - Nguyễn Thị Hường - Nguyễn Tô Lan.- H., KHXH, 2010.- Tr. 438-439. Phan Thúc Trực (1808-1852), còn có tên là Phan Dưỡng Hạo, Phan Sư Mạnh, hiệu Hành Quý, Cẩm Đình, Dưỡng Hạo Hiên, quê ở L. Vân Tụ, H. Đông Thành, nay thuộc X. Khánh Thành, H. Yên Thành, tỉnh Nghệ An, đậu Tú tài 10 khoa liên tiếp, được sung Cử nhân vào học Quốc tử Giám, đậu Đình nguyên Thám hoa khoa thi Hội năm Đinh Mùi (1848), khi vinh qui bái tổ được vua ban cho biển Khôi đa sĩ (đứng đầu nhiều sĩ tử). Làm quan: Hàn lâm viện Trước tác, Tập hiền Thị giảng, Kinh diên khởi cư chú, vâng lệnh vua đi sưu tầm sách quí ở Bắc kỳ, lâm bệnh mất, được truy tặng hàm Thị giảng Học sĩ.
Diễn đàn khác:
Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ? (8/5/2020)
50 năm thực hiện mong muốn của Bác Hồ “… Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” (8/5/2020)
Tiếp cận đại dịch Covid - 19 dưới góc nhìn xã hội học (7/5/2020)
Vang mãi khúc ca toàn thắng Bài 1: Cuộc đối đầu lịch sử (29/4/2020)
Thời Covid-19, tính linh hoạt của con người và biết đâu điều khả dĩ (22/4/2020)
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An (16/4/2020)
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang (16/4/2020)
Về mốc ra đời và kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An (1030 - 2020) (16/4/2020)
Lịch sử tên gọi "Nghệ An" trong di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (16/4/2020)
Chữ Việt Nam song song 4.0: Không có cơ sở khoa học và không nên phổ biến (8/4/2020)
Nỗi sợ corona virus làm tăng nhanh những lo ngại về kinh tế (24/3/2020)
Một số ý kiến góp ý về quá trình soạn thảo dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trình Đại hội Đảng các cấp (2/3/2020)
Những tranh luận xung quanh bài ca dao: “Tát nước đầu đình” (10/2/2020)
Những cuộc tranh luận xung quanh câu chuyện dân gian con cá gỗ của ông đồ xứ Nghệ (7/2/2020)
Múa trống đồng “Lệnh ông không bằng cồng bà” (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 78 | Tất cả: 2,272,574
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp