DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Lịch sử tên gọi "Nghệ An" trong di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn
Tin đăng ngày: 16/4/2020 - Xem: 70
 

 

Trần Trung Hiếu - Trần Minh

Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, tài liệu “Mộc bản” là một loại hình tài liệu đặc biệt, vừa là tư liệu hiện vật, vừa là công cụ tạo tác nên tài liệu thư tịch có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Từ những bộ ván khắc in sách kinh có niên đại sớm, đến khối tài liệu Mộc bản chính sử hay tài liệu lịch pháp được ban bố, lưu hành trong dân gian thời Nguyễn đã khẳng định quá trình hình thành phát triển và giá trị quan trọng của tài liệu Mộc bản trong văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng đã được UNESCO vinh danh là “Di sản tư liệu thế giới” vào ngày 31 tháng 7 năm 2009.

Tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn hiện đang lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV thuộc Cục văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ, với số lượng 34.619 tấm. Nội dung phong phú và đa dạng, phản ánh đầy đủ, toàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam từ khởi thủy đến thời Nguyễn trên các mặt: Lịch sử, địa lý, quân sự, pháp chế, văn hóa, giáo dục,...

Upload

Mộc bản bìa sách "Đại Việt sử ký toàn thư"

Phần lớn khối tài liệu Mộc bản được sản sinh trong quá trình hoạt động dưới triều Nguyễn, có rất nhiều tài liệu Mộc bản được sản sinh trước đó, được chuyển từ Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội về bảo quản tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Huế) dưới 2 triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị.

Nghệ An hiện nay là một đơn vị hành chính có diện tích rộng nhất và dân số đứng thứ tư trên cả nước (sau TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa). Trên dải đất hình chữ S Việt Nam, Nghệ An là vùng đất địa linh nhân kiệt, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó là miền đất gợi cho chúng ta về quá khứ hào hùng từ buổi bình minh dựng nước và quá trình đấu tranh giữ nước, một miền văn hoá nguồn cội.

Trải qua thời gian, địa danh của miền đất này cũng nhiều lần thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính, nhưng dường như từ lâu hai chữ “Nghệ An” đã trở thành tiếng gọi thiêng liêng của mỗi người dân nơi đây. Nhiều người từng đặt ra câu hỏi: danh xưng “Nghệ An” chính thức ra đời từ khi nào?

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát khối Mộc bản triều Nguyễn - Di sản tư liệu thế giới, chúng tôi đã may mắn tìm thấy những tài liệu quý phản ánh lịch sử hình thành và quá trình phát triển của vùng đất xứ Nghệ. Đặc biệt, là Mộc bản khắc niên đại xuất hiện tên gọi “Nghệ An”, mốc dấu đầu tiên đánh dấu danh xưng này trong lịch sử dân tộc.

Các tên gọi trước khi có danh xưng “Nghệ An”

Khi nghiên cứu về tên gọi “Nghệ An” trong lịch sử, chúng tôi tra tìm trong khối Di sản tư liệu thế giới - Mộc bản Triều Nguyễn trong các bộ cổ sử như: “Đại Nam nhất thống chí”, “Đại Nam thực lục” (gồm 2 phần tiền biên và chính biên), “Khâm định Việt Sử thông giám cương mục”, “Đại Việt sử ký toàn thư”,... Mộc bản các sách ghi chép lại như sau:

Mộc bản sách “Khâm Việt sử Thông giám cương mục tiền biên” chép: “Hồng Bàng thị đầu là Kinh Dương Vương, tương truyền đây là vị vua đầu tiên của nước Việt ta. Kinh Dương Vương sinh ra Sùng Lãm gọi là Lạc Long Quân. Hùng Vương là con của Lạc Long Quân. Sử cũ chép, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, con gái Đế Lai sinh được trăm con trai. Ấy là tổ tiên Bách Việt (xưa đất các vùng, Chiết, Mân, Việt là chỗ Việt tộc ở, gọi là Bách Việt, như: Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Tây Giang, Nam Việt ở Quản Đông, Lạc Việt ở Việt Nam), suy tôn người trưởng lên làm Hùng Vương, nối ngôi vua, dựng nước gọi là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu; truyền nối 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Truyền mười tám đời, sách “Nam Nam chí nguyên” của Cao Hùng chép: Gia Chỉ khi chưa đặt làm quận, huyện. Bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm rộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc vương, người giúp việc là Lạc tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn lang, phong tục thuần hậu, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng nốt dây làm dấu ghi nhớ, truyền được mười tám đời. Địa giới nước Văn Lang bấy giờ phía Đông giáp biển Nam, phía Tây giáp Ba Thục, phía Bắc giáp Động Đình hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn”.

Upload

Mộc bản sách "Đại Việt sử ký toàn thư", quyển 1, mặt khắc 3

Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư - Ngoại kỷ” - Quyển I chép:

“Hùng Vương lên ngôi, đặt Quốc hiệu là Văn Lang (nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô. Đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng (chữ Lạc tướng, sau chép sai là Hùng tướng). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ chính, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương.

Bắt đầu chia trong nước làm mười lăm bộ là: bộ Giao Chỉ, bộ Chu Diên, bộ Vũ Ninh, bộ Phúc Lộc, bộ Việt Thường, bộ Ninh Hải, bộ Dương Tuyền, bộ Lục Hải, bộ Vũ Định, bộ Hoài Hoan, bộ Cửu Châu, bộ Bình Văn, bộ Tân Hưng, bộ Cửu Đức, còn bộ Văn Lang là chỗ nhà vua đóng đô”.

Theo “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi: “Sơn Nam (Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên) xưa là Bộ Giao Chỉ; Sơn Tây xưa là Bộ Chu Duyên, Bộ Phúc Lộc; Kinh Bắc, nay là Bắc Ninh xưa là bộ Vũ Ninh; Thuận Hóa bây giờ từ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đến Điện Bàn, Quảng Nam, xưa là Bộ Việt Thường; An Bang bây giờ là Quảng Ninh, xưa là bộ Hải Ninh; Hải Dương xưa là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn xưa là bộ Lục Hải; Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan; Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân,...”.

Đây là lần đầu tiên xứ Nghệ có tên gọi - Hoài Hoan

“Triệu Ðà đem quân sang đánh vua Thục, vua Thục không ngờ lẫy nỏ đã hỏng, vẫn cứ nhon nhon đánh cờ, cười rằng: “Triệu Ðà không sợ nỏ thần của ta ư?”. Kịp khi quân Triệu Ðà đã bức bách tận nơi, vua Thục mới dương nỏ thần ra bắn, thì lẫy nỏ hỏng rồi, liền thua chạy, cho nàng Mị Châu cưỡi ngựa cùng chạy về phía Nam. Trọng Thủy cứ nhận dấu lông ngỗng mà đuổi theo. Vua Thục đến bãi biển, hết đường nhảy xuống biển chết. Nhà Thục mất.

Năm Ðinh Hợi (214 TCN) (Thục An Dương Vương năm thứ 44; Tần Thủy Hoàng năm thứ 33), nhà Tần sai Ðồ Thư và Sử Lộc sang lấy đất Lĩnh Nam, đặt ra Tượng quận. Bấy giờ nhà Tần hám đất Việt có nhiều ngọc trai quý hiếm, muốn chiếm lấy đặt làm quận huyện, mới bắt kẻ trốn tránh, người gửi rể và lái buôn ở các đạo đi làm lính, sai hiệu úy là Ðồ Thư làm tướng, Sử Lộc thì khơi cừ lấy lối tải lương, đi sâu vào cõi Lĩnh Nam, cướp lấy đất Lục Lương, đặt ra Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đày những kẻ phải đi thú.

Người Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng. Lại ngầm bầu những người tài giỏi lên làm tướng, đánh nhau với người Tần, giết được hiệu úy Ðồ Thư.

Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận: Theo sách “Lĩnh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi nhà Tống, ba quận ấy là đất Bách Việt ngày trước, từ Tần Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, mở núi dọn đường, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Bây giờ tỉnh Quảng Tây tức là Quế Lâm, tỉnh Quảng Ðông tức là Nam Hải, đất Giao Chỉ tức là Tượng Quận đời Tần. Ðến Hán Vũ đế bình định được Nam Hải mới tách Quế Lâm. Đời Tần tách Tượng Quận làm ba là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Năm Quý Mão (198 TCN) sau khi tiêu diệt được An Dương Vương, Triệu Vương mới sai hai sứ thần coi giữ quận Giao Chỉ và quận Cửu Chân.

Giao Chỉ: Xưa là đất các bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Phúc Lộc, Vũ Ninh, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Ðịnh và Tân Hưng. Nhà Triệu đặt làm quận, thống trị 10 huyện; về sau noi theo hay thay đổi mỗi thời một khác. Bây giờ là đất các tỉnh Bắc kỳ.

Cửu Chân: Xưa là ba bộ Cửu Chân, Hoài Hoan và Việt Thường. Nhà Tần đặt làm đất Tượng Quận; nhà Triệu đặt làm quận, thống trị 12 huyện; đến nhà Hán khoảng năm Nguyên Ðỉnh (116-111 TCN), tách năm huyện Tị Ảnh, Lu Dung, Tây Quyển, Tượng Lâm và Chu Ngô đặt làm quận Nhật Nam; còn bảy huyện Tư Phố, Cư Phong, Ðô Bàng, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết và Vô Biên thì vẫn để làm quận Cửu Chân. Ðến nhà Ngô, Tần, Tống, Tề cũng đều noi theo như trước. Nhà Lương đổi làm Ái Châu; về sau, noi theo hoặc thay đổi mỗi lúc một khác. Bây giờ là đất Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên”.

Đây là lần thứ 2 xứ Nghệ có tên gọi - Ái Châu

Năm Mậu Tí (268). Nhà Ngô, Năm Bảo Ðinh thứ 3; Nhà Ngô dùng Lưu Tuấn làm thứ sử, cùng với tướng quân là Cố Dung, trước sau ba lần đánh vào Giao Châu, nhưng Dương Tắc đều đem quân chống cự lại và đánh phá được cả. Quận Uất Lâm, quận Cửu Chân đều phụ theo với Dương Tắc.

Cửu Ðức: Ðất của Việt Thường thị xưa, nhà Ngô lấy đặt làm quận Cửu Ðức, thống trị 8 huyện. Ðời Tấn, Tống, Tề vẫn cứ theo cũ; nhà Lương bỏ quận, đổi làm huyện Cửu Ðức thuộc quận Nhật Nam; nhà Ðuờng đổi cho thuộc Hoan Châu. Nay là đất Nghệ An - Hà Tĩnh.

Nhà Lương chia đặt làm Đức Châu, Lỵ Châu và Minh Châu; nhà Tùy năm Khai Hoàng thứ 8 đổi Đức Châu làm Hoan Châu, Lỵ Châu làm trí Châu; Năm Đại nghiệp thứ 3 hợp cả Minh Châu, Trí Châu và Hoan Châu, đổi lệ thuộc vào quận Nhật Nam.

Nhà Đường niên hiệu Vũ Đức, chia quận Nhật Nam đặt làm Nam Đức Châu, Lạo Châu, Minh Châu và Hoan Châu, còn Hoan Châu cũ thì đổi làm Diễn Châu; năm thứ 16 bỏ Diễn Châu vào Hoan Châu; hồi đầu năm Thiên Bảo lại đổi là Hoan Châu, lệ thuộc vào quận Nhật Nam.

Từ năm Kiền Nguyên trở về sau gọi là Hoan Châu; rồi bỏ Tri Châu cho lệ thuộc vào Hoan Châu. Năm Quảng Đức thứ 2, chia Hoan Châu đặt quận Long Trì thuộc Diễn Châu, lại gọi là quận Diễn Thủy. Nhà Đinh, nhà Lê gọi là Hoan Châu”.

Đây là lần thứ 3 xứ Nghệ có tên - Hoan Châu

Năm 1010, sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lý Thái Tổ cho đổi “Hoan Châu” là “Trại”. “Trại” ở đây là gọi vùng đất xa kinh đô, còn về mặt hành chính vẫn là cấp hành chính trực thuộc trung ương.

Danh xưng Nghệ An

- Lần thứ nhất: Năm Thiên thành thứ 2 (1029) dưới triều vua Lý Thái Tông cho đổi làm “Nghệ An”, mà Diễn Châu thì đứng riêng làm châu.

  1. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Bính Tý, Thông Thụy năm thứ 3 (1036):

“Mùa xuân, tháng giêng, mở hội ở Long Trì, khánh thành pho tượng phật Đại Nguyện. Đại xá thiên hạ. Tháng 2, xuống chiếu chép kinh Đại tạng, cất ở kho Trùng Hưng. Tháng 3, gả công chúa Kim Thành cho Châu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận. Mùa hạ, tháng 4, đặt hành dinh ở Châu Hoan, nhân đó đổi tên châu ấy là “Nghệ An”.

Nhâm Tý, Thiên Thuận năm thứ 5 (1132). Tháng 8, Chân Lạp và Chiêm Thành đến cướp châu Nghệ An. Hỏa đầu quân Tã Vũ Lâm và Đỗ Quảng dâng cá xương công. Vua xuống chiếu cho Thái uý Dương Anh Nhĩ đem người ở phủ Thanh Hóa và châu Nghệ An đi đánh quân Chân Lạp và Chiêm Thành, phá tan”.

  1. Mộc bản sách Khâm Định Việt sử Thông giám cương mục chép:Nhà Trần, năm Nguyên Phong thứ 6 (1256), vua Trần Thái Tông gọi “Nghệ An” là Trại.

Đến năm Long Khánh thứ 3 (1374) dưới triều vua Trần Duệ Tông, đổi Diễn Châu là “Diễn Châu lộ”; chia Hoan Châu là bốn lộ: Nhật Nam và Nghệ An Nam, Nghệ An Bắc, Nghệ An Trung cùng gọi là “Nghệ An Phủ”.

  1. Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:

“Năm Tân Mão, (1375) niên hiệu Long Khánh thứ 3, Mùa xuân, tháng giêng nhà vua cho đổi Châu Diễn thành lộ Diễn Châu, Châu Hoan thành các lộ Nhật Nam, Nghệ An nam, bắc, trung”.

  1. Mộc bản sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép:

“Năm Quang Thái thứ 10, (1399) đời vua Trần Thuận Tông, nhà vua cho đổi Nghệ An làm “Lâm An trấn”, Diễn Châu làm Vọng An trấn.

Đời Hồ Hán Thương, năm Khai Đại 1 (1403) cho đổi trấn Diễn Châu làm phủ Linh Nguyên, cùng với Thanh Hóa, Cửa Chân, Ái Châu gọi là Tứ Phụ.

Thời thuộc Minh, lại đổi thành 2 phủ Diễn Châu và Nghệ An.

Nhà Lê, sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, năm 1428, Thuận Thiên thứ nhất vùng đất Nghệ An thuộc đạo Hải Tây.

Đến thời vua Lê Nhân Tông, năm Thái Hòa thứ 6, nhà vua định bản đồ 12 thừa tuyên như sau này:

I - Thanh Hóa quản linh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;

II -  Nghệ An quản linh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;

III - Thuận Hóa quản linh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;

IV - Nam Sách nay đổi làm Hải Dương, quản linh 4 phủ, 18 huyện;

V - Thiên Truờng nay đổi làm Sơn Nam, quản linh 11 phủ, 42 huyện;

VI - Quốc Oai nay đổi làm Sơn Tây, quản linh 6 phủ, 24 huyện;

VII - Bắc Giang nay đổi làm Kinh Bắc, quản linh 4 phủ, 19 huyện;

VIII - An Bang quản linh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;

IX - Tuyên Quang quản linh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;

X - Hưng Hóa quản linh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;

XI - Lạng Sơn quản linh 1 phủ, 7 châu;

XII - Thái Nguyên nay đổi làm Ninh Sóc, quản linh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;

Lại đổi “Trung đô” phủ làm “Phụng Thiên”, quản linh 2 huyện.

Nghệ An tám “phủ”:

1- Phủ Ðức Quang quản lĩnh 6 huyện: Thiên Lộc, La Sơn, Chân Phúc, Thanh Chương, Hương Sơn và Nghi Xuân;

2- Phủ Diễn Châu quản lĩnh 2 huyện: Ðông Thành và Quỳnh Lưu;

3- Phủ Anh Ðô quản lĩnh 2 huyện: Hưng Nguyên và Nam Ðường;

4- Phủ Hà Hoa quản lĩnh 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa;

5- Phủ Trà Lân quản lĩnh 4 huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Vinh Khang và Hội Ninh;

6- Phủ Quỳ Châu quản lĩnh 2 huyện: Trung Sơn và Thúy Vân;

7- Phủ Ngọc Ma quản lĩnh 1 châu: Trịnh Cao;

8- Phủ Lâm An quản lĩnh 1 châu: Quỳ Hợp.

Đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466) dưới triều vua Lê Thánh Tông, vùng đất này được đặt làm Nghệ An thừa tuyên.

Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép:

“Bính Tuất, Quang Thuận năm thứ 7, (1466), (Minh Thành Hóa năm thứ 2). Nhà vua cho đặt 13 đạo thừa tuyên: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô.

Đổi lộ thành phủ, đổi trấn thành châu, đổi an phủ sứ các lộ Tri phủ, Trấn phủ thành Đồng Tri phủ; Chuyển vận thành Tri huyện, Tuần sát thành Huyện thừa, Xã quan thành Xã trưởng. Đến năm Kỷ Sửu, Quang Thuận năm thứ 10 (1469) (Minh thành Hóa năm thứ 5). Quy định bản đồ của phủ, châu, huyện, xã, trang, sách thuộc 12 thừa tuyên”.Upload

"Khẩm định Sử Việt thông giám cương mục chính biên", quyển 21, mặt khắc 22

5. “Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ” - Quyển XII chép:

“Thanh Hóa 4 phủ, 16 huyện, 4 châu. Nghệ An 9 phủ, 27 huyện, 2 châu. Thuận Hóa 2 phủ, 7 huyện, 4 châu. Hải Dương 4 phủ, 18 huyện. Sơn Nam 11 phủ, 42 huyện. Sơn Tây 6 phủ, 24 huyện. Kinh Bắc 4 phủ, 16 huyện. An Bang 1 phủ, 3 huyện, 3 châu. Tuyên Quang 1 phủ, 2 huyện, 5 châu. Hưng Hóa 3 phủ, 4 huyện, 17 châu. Lạng Sơn 1 huyện, 7 châu. Ninh Sóc 1 phủ, 7 huyện. Phủ Phụng Thiên 2 huyện”.

Mộc bản sách “Khâm định Việt Sử thông giám cương mục” chép: “Năm Hồng Đức thứ 21 (1691) Vua Lê Thánh Tông lại cho đổi từ “Nghệ An Thừa tuyên” thành “Xứ Nghệ An” (gọi tắt là xứ Nghệ).

Khoảng giữa năm Hồng Thuận, dưới triều vua Lê Tương Dực, nhà vua cho đổi làm Trấn; “Ngụy Tây” đổi làm “Trung Đô”, lại gọi là “Nghệ An trấn”; Hoàng đế Quang Trung còn cho xây dựng Phượng hoàng Trung Đô ở thành phố Vinh ngày nay, với ý định cho đặt thủ đô tại đây để thay thế kinh đô Phú Xuân, tuy nhiên dự định này chưa được thực hiện thì ông đã qua đời.

Năm 1802, năm Gia Long nguyên niên, nhà vua đặt làm “Nghệ An trấn”. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) Minh Mạng chia “Nghệ An trấn” thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 6, nhà vua cho đổi tỉnh Hà Tĩnh làm Đạo, hợp vào Nghệ An. Đến năm Tự Đức 29, lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ”.

Trong thời thuộc địa, người Pháp đã cắt một số phủ thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc sứ Trung kỳ cho Lào thuộc Pháp vào các năm 1895 và 1903.

Để xác định thời gian chính xác và chính thức danh xưng “Nghệ An”, cần có quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, đối chiếu một cách nghiêm túc và khoa học qua rất nhiều tài liệu văn bia, thư tịch, tài liệu chính sử thời phong kiến.

Qua nghiên cứu các cuốn sử được khắc trong các mộc bản triều Nguyễn đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia IV, thuộc Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước (Bộ Nội vụ), chúng tôi thấy nói lịch sử ra đời danh xưng “Nghệ An” có 6 sự kiện sau :

  1. Dưới thời đại Hùng Vương, vùng đất Nghệ An thuộc bộ “Hoài Hoan”.
  2. Năm Thiên thành thứ 2 (1029) dưới triều vua Lý Thái Tông cho đổi làm “Nghệ An”, mà Diễn Châu thì đứng riêng làm Châu (Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 1, mặt khắc 3).
  3. Vua Lý Thái Tông cho đổi Hoan Châu làm “Nghệ An” năm Bính Tý (1036) (Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, quyển 2, mặt khắc 24).
  4. Vua Lý Thánh Tông đặt vùng đất Nghệ An làm “Nghệ An thừa tuyên” năm Bính Tuất (1466) (Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên, quyển 20, mặt khắc 8).
  5. Vua Lê Thánh Tông cho đổi “Nghệ An thừa tuyên” thành “xứ Nghệ An” năm Tân Mùi (1691) (Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên, quyển 21, mặt khắc 22).
  6. Vua Tự Đức cho đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo hợp vào tỉnh Nghệ An năm Quý Sửu (1853) (Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 9, mặt khắc 24, 25).

Trong khi chờ đợi những nghiên cứu mới trên cơ sở nguồn tài liệu mới, đảm bảo tính xác thực, khách quan, khoa học, từ việc nghiên cứu kỹ tài liệu được khắc trong mộc bản triều Nguyễn, theo chúng tôi có thể chọn năm 1029 là năm ra đời của danh xưng “Nghệ An” gắn liền với sự kiện vua Lý Thái Tông cho đổi từ “Trại” làm “Nghệ An”. Đây là niên đại tuyệt đối nhưng độ tin cậy của sự kiện chưa hoàn toàn tuyệt đối dưới góc độ sử liệu học của khoa học lịch sử.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Khâm định Việt sử thông giám cương mục tiền biên, (quyển 1, mặt khắc 3; quyển 2, mặt khắc 3; quyển 4, mặt khắc 15; quyển 4, mặt khắc 19; quyển 4, mặt khắc 20).
  2. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên (quyển 21, mặt khắc 15, 16, 21, 22, 23).
  3. Đại Việt sử ký toàn thư bản kỳ, (quyển 2, mặt khắc 24; quyển 7, mặt khắc 41; quyển 8, mặt khắc 29).
  4. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỳ (quyển 4, mặt khắc 20; quyển 17, mặt khắc 18; quyển 24, mặt khắc 12; quyển 42, mặt khắc 30).
  5. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỳ (quyển 52, mặt khắc 4; quyển 53, mặt khắc 20; quyển 59, mặt khắc 25; quyển 72 , mặt khắc 5; quyển 76, mặt khắc 14, 15, 17, 18; quyển 158, mặt khắc 10; quyển 174, mặt khắc 27; quyển 187, mặt khắc 2; quyển 190 mặt khắc 5; quyển 211, mặt khắc 15).
  6. Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỳ (quyển 57, mặt khắc 10)
  7. Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỳ (quyển 5, mặt khắc 25; quyển 52 mặt khắc 36).
  8. Đại Nam nhất thống chí (quyển 14, mặt khắc 6, 9, 11, 12, 13).
  9. Khâm định Đại Nam hội điền sự lệ (quyển 36, mặt khắc 18, 19).

 

Diễn đàn khác:
Nghệ An đã trở thành tỉnh khá như mong muốn của Bác Hồ? (8/5/2020)
50 năm thực hiện mong muốn của Bác Hồ “… Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất miền Bắc” (8/5/2020)
Tiếp cận đại dịch Covid - 19 dưới góc nhìn xã hội học (7/5/2020)
Vang mãi khúc ca toàn thắng Bài 1: Cuộc đối đầu lịch sử (29/4/2020)
Thời Covid-19, tính linh hoạt của con người và biết đâu điều khả dĩ (22/4/2020)
Bàn thêm về niên đại ra đời danh xưng Nghệ An (16/4/2020)
Bàn tròn tháng 3: Danh xưng Nghệ An & vai trò của Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang (16/4/2020)
Về mốc ra đời và kỷ niệm 990 năm danh xưng Nghệ An (1030 - 2020) (16/4/2020)
Lịch sử tên gọi "Nghệ An" trong di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (16/4/2020)
Chữ Việt Nam song song 4.0: Không có cơ sở khoa học và không nên phổ biến (8/4/2020)
Nỗi sợ corona virus làm tăng nhanh những lo ngại về kinh tế (24/3/2020)
Một số ý kiến góp ý về quá trình soạn thảo dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trình Đại hội Đảng các cấp (2/3/2020)
Những tranh luận xung quanh bài ca dao: “Tát nước đầu đình” (10/2/2020)
Những cuộc tranh luận xung quanh câu chuyện dân gian con cá gỗ của ông đồ xứ Nghệ (7/2/2020)
Múa trống đồng “Lệnh ông không bằng cồng bà” (21/1/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 36 | Tất cả: 2,272,532
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp