KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Những thàn tựu về xây dựng nông thôn mới ở Quỳnh Lưu - Đôi điều trăn trở
Tin đăng ngày: 10/4/2020 - Xem: 86
 

 Trần Ngưỡng     

Upload

Một góc xã Quỳnh Đôi - xã đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của huyện Quỳnh Lưu

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời - nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến nay đã có có ba cuộc cách mạng lớn, sâu rộng về nông thôn, nông nghiệp và nông dân:

Cuộc cách mạng thứ nhất là Cải cách ruộng đất vào năm 1954 của thế kỷ trước, đã lấy ruộng đất của người nhiều ruộng (địa chủ) chia cho người không có ruộng, hoặc rất ít ruộng (dân nghẻo). Nhằm tạo cho những người nghèo có ruộng đất để tự chủ làm ăn không phải đi làm thuê,  cuốc mướn nữa.

Cuộc Cách mạng thứ hai là Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ XX. Cuộc cách mạng lần này lại tập trung ruộng đất cùng với trâu bò, công cụ sản xuất của nông dân vào làm ăn chung. Việc điều hành mọi công việc làm ăn trong hợp tác xã do một ban quản trị, được Đại hội  xã viên bầu ra.

Cuộc cách mạng thứ ba lần này là Xây dựng nông thôn mới (NTM), được Đảng và Nhà nước ta phát động thực hiện từ đầu năm 2011. Đây là cuộc cách mạng có ý nghĩa to lớn, toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Là chương trình mục tiêu quốc gia nhằm phấn đấu trong vài ba thập niên tạo nên diện mạo mới cho khu vực, lĩnh vực đang còn nhiều khó khăn của đất nước.

Huyện Quỳnh Lưu bước vào thực hiện cuộc cách mạng thứ ba: Xây dựng Nông thôn mới cũng hào hùng, khí thế như năm nào " Mo cơm quả cà đi làm thủy lợi"; cũng như điều hành lao động trên địa bàn huyện để xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội...

Những nội dung chính được tập trung thực hiện; những kết quả thành tựu cũng như những băn khoăn trăn trở trong gần 10 năm qua 2011-2020 thực hiện chương trình Nông thôn mới ở Quỳnh Lưu:

 I-CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH

Nhận thức được ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này; đồng thời cũng thấy được những khó khăn thử thách của một huyện khá rộng lớn, địa bàn dân cư có ba vùng. Toàn huyện có 43 xã, thị trấn năm. Năm 2013, sau khi điều chỉnh địa giới,  thành lập thị xã Hoàng Mai, còn lại 33 xã thị trấn. Trong đó có  9 xã biển; 12 xã vùng núi bán sơn địa; 12 xã đồng bẳng và thị trấn huyện lỵ. Từ xác định được đặc điểm trên, Quỳnh Lưu đã nổ lực thực hiện các nhiệm vụ sau:

  1. Tập trung cao độ lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp đồng bộ của mặt trận và các đoàn thể thực hiện xây dựng NTM.

- Tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI đã xác định muc tiêu, nhiệm vụ  về xây dựng NTM và trên cơ sở kế hoạch của UBND tỉnh, huyện đã thành lập bộ máy quản lý, điều hành thực hiện chương trình, xây dựng các chỉ tiêu, giải pháp, kế hoạch thực hiện. Đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo các xã thành lập Ban chỉ đạo và ban hành Nghị quyết về quy hoạch và kế hoạch xây dựng NTM. Định kỳ huyện nghe và cho ý kiến đối với tình hình kết quả thực hiện ở cơ sở.

- Phát huy tối đa vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM; nhất là công tác vận động các đoàn viên, hội viên tích cực tham gia đóng góp kinh phí, ngày công, hiến đất, tài sản trên đất...

- Nâng cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên; biến nhận thức thành hành động của toàn dân chung tay, tự nguyện; đồng thời biểu dương, khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôm mới.

- Đã tuyển chọn đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ về lĩnh vực này để đảm nhận công tác chỉ đạo thực hiện chương trình. Đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể để nâng cao trách nhiệm, phát huy hiệu quả công việc cho từng bộ phận, từng thành viên. Phát hiện nhanh những khó khăn, vướng mắc để giúp cơ sở tháo gỡ kịp thời; mặt khác, phát huy tính chủ động sáng tạo của từng địa phương, đơn vị, của người dân, nhằm huy động tối đa nguồn lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó.

  1. Làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn, động viên nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Công tác tuyên truyền vận động được thực hiện thường xuyên, sâu rộng, bằng nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn, từng địa phương tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức của cán bộ và nhân dân đối với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới. 

- Quá trình quán triệt Nghị quyết gắn với truyên truyền trực quan, tập huấn, hội thảo; lấy ý kiến nhân dân về xây dựng Đồ án quy hoạch từ đó đã tạo sự đồng thuận, đồng lòng của nhân dân. Huyện và một số xã đã chủ động tổ chức cho cán bộ tham quan, học tập kinh nghiệm các đơn vị điển hình xây dựng NTM trong tỉnh và ngoại tỉnh như: huyện Yên Thành; huyện Thạch Hà, Hương Sơn Hà Tĩnh; huyện Hưng Hà Thái Bình.

  1. Lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và đề án xây dựng NTM.

- Đã chỉ đạo các xã hoàn thành xây dựng quy hoạch theo yêu cầu, đạt chuẩn tiêu chí số 1. Trong đó: 31 xã hoàn thành quy hoạch NTM, xã Sơn Hải hoàn thành Quy hoạch thị trấn, 3 xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Bảng gắn quy hoạch NTM với quy hoạch thị tứ.

- Kịp thời rà soát, bổ sung và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch, đề án phù hợp với tình hình mới từ đó đã nâng cao kết quả thực hiện Chương trình.

  1. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tổng hợp các nguồn lực.

Tranh thủ sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách cấp trên và các tổ chức, nhà đầu tư trong và ngoài huyện. Huyện đã ban hành một số cơ chế trong chương trình xây dựng NTM để hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các xã điểm, xã đặc thù và xây dựng các mô hình sản xuất.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu   tư vào địa bàn; thực hiện tốt công tác xã hội hóa, phát động phong trào thi đua, dân chủ, đề cao tính chủ động, trách nhiệm của nhân dân; từ đó  phát huy nội lực trong nhân dân để đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật.

Upload

Người dân chung tay làm đường giao thông liên thôn

 II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH NTM

 Sau 10 năm (2011-2020) triển khai thực hiên chương trình xây dựng Nông thôn mới, huyện Quỳnh Lưu đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi:

Tổng nguồn lực huy động giai đoạn 2010 - 2020 đạt trên 10.886,246 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách: TW và tỉnh là: 2.744,6 tỷ; Huyện 350,2 tỷ; xã: 215,6 tỷ đồng. Đặc biệt đã động viên nhân dân góp sức xây dựng nông thôn mới được: 5.958,8 tỷ đồng. Trong đó: Đóng góp tiền mặt, hiến đất, tháo dỡ công trình là: 580,8 tỷ đồng; tự đầu tư xây dựng, nâng cấp nhà ở, công trình sản xuất kinh doanh là: 5.377,3 tỷ đồng. Huy động vốn tín dụng, doanh nghiệp tư đầu tư 1.617,8 tỷ đồng.

Diện mạo nông thôn Quỳnh Lưu đã có nhiều khởi sắc. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, dân sinh, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, phòng chống thiên tai được quan tâm đầu tư và phát huy hiệu quả tốt. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, thu nhập, giá trị tăng thêm bình quân đầu người tăng nhanh. Các yếu tố về môi trường như về sinh thôn xóm, nước sạch được đảm bảo; đời sống vật chất tinh thần được cải thiện rõ rệt. An ninh chính trị được đảm bảo.

 Kết quả đạt được trên các lĩnh vực cụ như sau:

 1-  Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu.

- Giao thông nông thôn: Đã làm mới, nâng cấp trên 589 km đường giao thông, với tổng kinh phí trên 2.346,3 tỷ đồng. Bình quân toàn huyện đạt tiêu chí  này ở mức 87%, tăng 37% so với năm 2010. Đường đến trụ sở xã 100% được đổ nhựa, bê tông hóa; đường trục xã, liên xã trên 95% được rải nhựa, bê tông hóa; có 20 xã đạt 100% , 7 xã  trên 70 %, 5 xã hòan thành từ 50- 65% tiêu chí. 

- Thủy lợi: Đã nâng cấp 22 hồ đập; kiên cố hóa 193 km kênh tưới, tiêu; tu sửa, xây dựng 131,5 km các công trình trên kênh cấp 3 , kết hợp chỉnh trang đồng ruộng và nâng cấp hệ thống đê biển, đê sông …Hệ thống kênh tưới, tiêu cấp 1, cấp 2 đã được kiên cố hóa 78%. Nguồn vốn đầu tư cho thủy lợi là 2.074,3 tỷ đồng. Có 20 xã đã đạt 100% tiêu chí.

- Hệ thống điện: Xây dựng mới và nâng cấp hệ thống điện của tất cả các xã với  kinh phí trên 423,2 tỷ đồng, đã hoàn thành bàn giao lưới điện của 32 xã cho ngành Điện quản lý. 100% số xã đạt và cơ bản đạt tiêu chí.

 - Trường học: Đã chủ động xã hội hóa, lồng ghép các Chương trình, dự án để xây dựng cở sở vật chất trường học, mua sắm trang thiết bị, sách báo và đồ dùng dạy học với kinh phí trên 433,9 tỷ đồng, trong đó Xã hội hóa và nhân dân  đóng góp trên 205,2 tỷ đồng. Đã xây dựng mới 407 phòng học, đóng mới thay thế 6.255 bộ bàn ghế. Đã có 19 xã đạt chuẩn.

- Y tế: Cơ sở vật chất khám, chữa bệnh và thiết bị y tế được đầu tư nâng cấp. Nâng cấp, xây mới 21 trạm y tế xã, với kinh phí trên 57,7 tỷ đông. Xây dựng mới bệnh viện tư nhân Minh An với kinh phí trên 100 tỷ đồng, qui mô 135 giường bệnh. Có 31 xã đạt chuẩn.

- Cơ sở vật chất văn hóa: Tổng vốn huy động xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất văn hóa trên 295,6 tỷ đồng. Đã xây dựng mới và nâng cấp 27 nhà văn hóa đa chức năng xã, xây mới 34 nhà Văn hóa thôn; chỉnh trang sửa chữa trên 137 nhà văn hóa thôn. Đã có 27/32 xã có nhà văn hóa đa chức năng, 19 xã có sân vận động xã đạt chuẩn; 366/394 thôn bản có nhà văn hóa, 212 thôn có sân thể thao… Có 23 xã đạt chuẩn.

- Hạ tầng thương mại  nông thôn: Đã huy động trên 86 tỷ đồng để nâng cấp, xây dựng khu dịch vụ thương mại xã. Đã có 28 xã đạt tiêu chí.

- Một só công trình về môi trường như: Đầu tư nâng cấp nhà máy nước Quỳnh Lưu ; xây dựng 03 nhà máy nước ở  xã Quỳnh Yên, Quỳnh Thọ, Quỳnh Thạch, kinh phí 88,7 tỷ đồng. Đang triển khai xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn của huyện với qui mô 10 ha.

2. Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường

-Về Giáo dục: Chất lượng giáo dục, giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, tỷ lệ huy động vào các cấp học tăng; ngành giáo dục đào tạo huyện đạt xuất sắc của tỉnh; học sinh trúng tuyển vào các trường đại học và cao đẳng hàng năm tăng, phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin được đẩy mạnh. Đã có 30 xã đạt và cơ bản đạt tiêu chí; các xã còn lại đạt ở mức trên 80%; 100% xã đạt phổ cập giáo dục THCS. Công tác khuyến học, khuyến tài, đào tạo nguồn nhân lực, hướng nghiệp dạy nghề được quan tâm. Trung tâm học tập cộng đồng, đào tạo nghề cho nông dân được chú trọng. Lao động được đào tạo bình quân hàng năm đạt 453 lượt người; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 58,4%. Các trường học của 30 xã đạt chuẩn.

-Về Y tế: Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm. Trình độ, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của đội ngũ y, bác sỹ  được nâng lên; ngành nghề y dược tư nhân được quản lý chặt chẽ hơn. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch được tăng cường. 100% số xã có bác sỹ; tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân là 4 bác sỹ. Số xã đạt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế là 31 xã.

-Về Văn hóa: Tổ chức tốt các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng cơ quan văn hóa. Cùng với việc nâng cao danh hiệu văn hóa đã hạn chế đẩy lùi các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan. Các thuần phong mỹ tục truyền thống được giữ gìn và phát huy. Việc thực hiện hương ước của các họ tộc, thôn xóm được thực hiện nghiêm túc. Đã thành lập các tổ liên gia tự quản ở các thôn xóm và hoạt động có hiệu quả. Việc thực hiện qui ước nếp sống văn minh trong việc tang, việc cưới và lễ hội có chuyển biến tích cực, tạo được dư luận tốt, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tỷ lệ làng Văn hóa đạt 73,9%; gia đình văn hóa đạt 84,04%.

- Về Môi trường: Tỷ lệ người dân được dùng nước sạch, hợp vệ sinh đạt trên 98,03%. Các công ty: Thái Bình Nguyên, Lan Hùng, Công ty cổ phần môi trường Quỳnh Lưu sau khi được thành lập đã thực hiện tốt việc thu gom rác thải  trên địa bàn. 100% xã hoàn thành quy hoạch xây dựng nghĩa trang. Hiện có 32/32 xã cơ bản đạt tiêu chí.

 3. Phát triển sản xuất gắn hàng hóa, nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập cho người dân

- Đã hoàn thành công tác dồn điền, đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng và quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện đưa cơ giới hóa vào nâng cao hiệu quả sản xuất. Xây dựng 5 mô hình cánh đồng mẫu lớn gắn với sản xuất hàng hóa ở các xã Quỳnh Thạch, Quỳnh Lâm, Quỳnh Ngọc, An Hòa, Quỳnh Diễn; Quản lý nhà nước, điều hành sản xuất chặt chẽ hơn, tiến bộ kỹ thuật, giống cây trồng mới tiếp tục được nhân dân tích cực áp dụng. Công tác khuyến nông, bảo vệ thực vật được chỉ đạo kịp thời, hiệu quả hơn.

- Các HTX, tổ hợp tác chuyên thực hiện chức năng dịch vụ sản xuất tiếp tục phát huy hiệu quả; một số HTX nông nghiệp tổ chức tốt việc liên kết, ký hợp đồng với các nhà máy, siêu thị để đầu tư vào sản xuất; gắn sản xuất với thu mua bao tiêu sản phẩm mang lại hiệu quả cao; việc liên doanh, liên kết sản xuất được tăng cường, quảng bá sản phẩm được quan tâm. Đã hỗ trợ 3 xã xây dựng các trang Web quảng bá sản phẩm. Xây dựng thành công thương hiệu: Nước mắm Tân An; mực khô, dứa Quỳnh Lưu. Đang tiếp tục xây dựng các thương hiệu như: Gạo, nhung hươu, rau... Có 32/32 xã cơ bản đạt yêu cầu tiêu chí 13.

- Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động thực tiễn và sản xuất ngày càng nhiều. Các mô hình đạt hiệu quả cao như: Nuôi trồng tảo xoắn ở Quỳnh Lương, ngao giống ở Quỳnh Thọ, nuôi tôm trong bể xi măng ở Quỳnh Bảng; nuôi cá sông trong ao ở Quỳnh Văn; nuôi lợn giống bố mẹ ở Tân Sơn; sản xuất rau trong nhà lưới; trồng cam, quýt ngọt, bưởi da xanh sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt...

- Hoạt động của các HTX và tổ hợp tác chế biến tiếp tục được đầu tư, mở rộng và có nhiều dịch vụ đa dạng, hiệu quả. Có 20% HTX thực hiện được dịch vụ bao tiêu sản phẩm, 10% có tổ chức dịch vụ tín dụng nội bộ có lãi; các trang trại tiếp tục phát triển góp phần thúc đẩy sản xuất. Lĩnh vực thủy sản có trên 110 tổ đội khai thác hải sản với trên 690 tàu đánh bắt xa bờ.

 4. Thực hiện các chính sách, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội

- Tổng kinh phí thực hiện công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách đối với người có công, chính sách an sinh xã hội đạt trên 320 tỷ đồng với 219.858 lượt người, hộ nghèo được thụ hưởng. Tạo việc làm mới cho 20.730 lao động, trong đó xuất khẩu lao động 6.693 người; Thường xuyên tổ chức tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho hàng ngàn lao động; tổ chức tập huấn, đào tạo nghề ngắn hạn miễn phí cho trên 79.195 lao động nông thôn. Ngoài ra các cơ sở sản xuất, làng nghề trên địa bàn thực hiện đào tạo nghề cho hàng trăm lao động vừa học vừa làm. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân chung còn 1,98% . Công tác phòng chống tệ nạn xã hội được quan tâm; đã kịp thời đưa đối tượng nghiện ma túy vào trường giáo dưỡng của tinh.  

- Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm có chuyển biến tích cực. Tỷ  lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 58,4%, tăng 22,6% so với năm 2011.

 5. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

 - Tăng cường giáo dục về các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để cán bộ và quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh trong tình hình mới. 

- Xây dựng các chương trình, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh gắn với phát triển kinh tế. Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng thế trận Quốc phòng - An ninh, khu vực phòng thủ. Huyện ủy đã xây dựng chương trình, UBND huyện đã xây dựng kế hoạch về phòng chống tội phạm trong tình hình mới theo Chỉ thị 48 của Bộ chính trị và chỉ thị 22 của Tỉnh ủy.

- Chất lượng cơ sở cụm ATLC-SSCĐ  được tăng cường. Bổ sung hoàn chỉnh Quyết tâm tác chiến phòng thủ, xây dựng lực lượng vũ trang huyện mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Để đảm bảo chương trình, mục tiêu xây dựng NTM đạt kết quả tốt: Hàng tháng Ban thường vụ Huyện ủy, UBND huyện đều nghe và cho ý kiến đối với tình hình kết quả thực hiện và kế hoạch tháng tới; Ban chỉ đạo tổ chức giao ban định kỳ 3 tháng/1 lần giữa Ban chỉ đạo huyện với các xã.

Năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 8,31%; thu nhập bình quân đầu người đạt 39,99 triệu đồng. Đến hết năm 2019, bình quân toàn huyện đạt 17,4/19 tiêu chí, tăng 10,2 tiêu chí so với năm 2010, trong đó: Có 22/32 xã đạt chuẩn NTM, đạt gần 70% số xã. Một số xã điển hình về xây dựng NTM như Quỳnh Đôi, Quỳnh Lương, Quỳnh Hậu, Quỳnh Thạch và 3 xã miền núi bán sơn địa có nhiều nổ lực vươn lên để về đích NTM là Ngọc Sơn, Tân Sơn và Quỳnh Tam. Xã Quỳnh Đôi đạt tiêu chí NTM kiểu mẫu 17/19

 Mục tiêu năm 2020 phấn đấu để 10 xã còn lại đạt tiêu chuẩn NTM, đưa  100% số xã toàn huyện đạt chuẩn NTM. Bình quân toàn huyện đạt 17,9 tiêu chí. Huyện Quỳnh Lưu phấn đấu để sớm về đích Nông thôn mới.

 III- ĐÔI ĐIỀU TRĂN TRỞ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NTM

1- Một số xã do qui hoạch xây dựng NTM  không có sự thống nhất cao giữa qui hoạch lâu dài và qui hoạch xây dựng nông thôn mới nên đã gây nên lãng phí như một số đoạn đường cũ cả trạm xá 2 tầng mới xây với lý do không đủ tiêu chí  đã phải  phá đi làm lại. Một số Trung hóa tâm văn thể thao xã hoạt động kém hiệu quả. Tất nhiên đây là một điều khó tránh khỏi. Chỉ rút kinh nghiệm cho các đi sau.

2-Khi xây dựng đường bê tông ở các thôn thì có hai mâu thuẫn xẩy ra:

Một số xã vùng đồng bằng trước kia đường đã đổ nhựa nhưng do bị hư hỏng và bề mặt hẹp nên khi xây dựng theo qui hoạch mới đã đổ chồng lên 20cm bê tông nữa thế là một số nhà dân vườn và sân rất thấp so với đường. Những lúc mưa lụt lớn thì rất vất vả .

Một số nơi mật độ dân cư cao, đường thôn hẹp (tuy đã được nhân dân hiến đất) sát tường bao, sát nhà nên cây xanh không có nữa. Mùa hè vào làng sẽ rất nóng bức, khó chịu.

Nhưng vấn đề này cũng có thể khắc phục được. Trước hết những nơi đường cao hơn sân vườn thì động viên nhân dân đổ đất nâng vườn, nâng sân và đặc biệt phải làm tốt hệ thông tiêu để mưa lũ nước thoát nhanh. Nhưng nơi đường hẹp, không mở rộng được nữa thì phát động nhân dân tận dụng mọi tấc đất có được  trồng cây  bóng mát để giảm bớt nóng bức

3-Vẫn còn biểu hiện chạy theo thành tích.

Những đơn vị làm điểm, được cấp trên đầu tư kinh phí khá, lại có điều kiện về kinh tế, con em đi làm ăn xa giàu có, đã về đích NTM nhưng hiện vẫn còn nợ dự án.

Những đơn vị gần trung tâm, đường lớn thì đua nhau bán đất. Thế là giữa cánh đồng hai vụ lúa màu mỡ, mọc lên những nhà hàng, công ty, doanh nghiệp. Về lâu dài thì không hiểu điều gì sẽ xẩy ra.

Những đơn vị không có các điều kiện trên, mặc dầu đã có được sự chú ý của cấp trên nhưng đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ để về đích NTM. Để  thi đua với đơn vị bạn; xã, xóm phải đẩy mạnh việc huy động sự đóng góp của dân và tất nhiên  điều đó sẽ ảnh hưởng tới đời sống của một bộ phận dân cư.

 Thiết nghĩ trong xây dựng qui hoạch cũng như trong quá trình thực chương trình Nông thôn mới phải tính toán, cân nhắc kỹ nhằm đảm bảo tính khoa học, bền vững, tránh lãng phí không cần thiết. Mặt khác, cấp trên phải quan tâm hơn nữa tới các đơn vị kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng còn kém. Đơn vị nào một thập niên chưa hoàn thành thì kéo dài thêm một 5 mười năm nữa để về đích Nông thôn mới đúng nghĩa với bản chất của nó.

                                                           

 

 

 

 

 

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Quan điểm về nhân cách trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng về xây dựng, phát triển con người (8/5/2020)
Kinh kế - xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 - 2019 và đề xuất định hướng thời gian tới (8/5/2020)
Biến đổi văn hóa của các tộc người thiểu số ở vùng biên giới Việt - Lào tại địa bàn tỉnh Nghệ An và những vấn đề đặt ra hiện nay (8/5/2020)
Ngày 30/4 qua những bức ảnh lịch sử (29/4/2020)
Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chính sách dân tộc khu vực miền Tây Nghệ An (28/4/2020)
Nghệ An: Lợi thế, tiềm năng và một số đề xuất phát triển du lịch xanh (22/4/2020)
Giỏi và Nghèo (16/4/2020)
Những thàn tựu về xây dựng nông thôn mới ở Quỳnh Lưu - Đôi điều trăn trở (10/4/2020)
Liên minh công - nông: Thắng lợi đầu tiên của Đảng (26/3/2020)
Đặc sắc văn hóa người Mông ở Nghệ An (25/3/2020)
Dịch bệnh trong bối cảnh toàn cầu hóa: Chủ quan là tự sát (19/3/2020)
Hải Vân sơn trong thơ vua Minh Mệnh (10/2/2020)
Chăm lo xây dựng văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh Nghệ An (6/2/2020)
Đảng qua một bài thơ (3/2/2020)
Bác Hồ với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng (3/2/2020)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Ra mắt bộ sách
Ra mắt bộ sách "Nhật ký thời chiến Việt Nam"
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 34 | Tất cả: 2,272,530
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp